1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN TẤT BỔNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG VÀ GIÁ TRỊ
SỐNG CHO ĐOÀN VIÊN ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ
CHÍ MINH
TẠI NHÀ VĂN HÓA HỌC SINH – SINH VIÊN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Hùng HÀ NỘI - 2013
3
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng
tới Ban Giám hiệu, các phòng, đơn vị chức năng của trường Đại học Giáo dục,
Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo tham gia giảng dạy, cung cấp
những kiến thức cơ bản, sâu sắc và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình
học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại trường.
Đặc biệt với tấm lòng thành kính, tác giả xin được gửi lới cảm ơn sâu
sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Hùng. Người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và
tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
BTV Ban thường vụ
BGĐ Ban Giám đốc
CB Cán bộ
ĐVTN Đoàn viên thanh niên
ĐHQG Đại học Quốc Gia
ĐHSP Đại học Sư phạm
GTS Giá trị sống
GV Giảng viên
HS Học sinh
KNS Kỹ năng sống
NXB Nhà xuất bản
NV Nhân viên
TNCS Thanh niên cộng sản
THPT Trung học phổ thông
5
MỤC LỤC Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng biểu iv
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC KỸ NĂNG VÀ GIÁ TRỊ SỐNG CHO ĐOÀN VIÊN ĐOÀN
và giá trị sống cho đoàn viên các trường học đến tham gia sinh hoạt tại
Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội 35
2.2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên 39
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho
đoàn viên các trường học đến tham gia sinh hoạt tại Nhà văn hóa Học sinh –
Sinh viên Hà Nội 52
2.3.1. Thực trạng quản lý, chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo Nhà văn hóa
Học sinh – Sinh viên Hà Nội trong việc nâng cao nhận thức cho cán bộ
, giảng viên về hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên 52
2.3.2. Thực trạng việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục kỹ
năng và giá trị sống của Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội 54
2.3.3. Thực trạng quản lý việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng và
giá trị sống cho đoàn viên các trường học của Lãnh đạo Nhà văn hóa
Học sinh – Sinh viên Hà Nội 55
2.3.4. Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch tổi chức
hoạt động. 57
2.3.5. Việc phối kết hợp giữa Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội
với các phòng ban của Thành đoàn Hà Nội trong quản lý hoạt động
giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên 57
2.3.6. Các điều kiện đảm bảo thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng
7
và giá trị sống cho đoàn viên 58
2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
và giá trị sống cho đoàn viên các trường đến tham gia hoạt động tại
Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội 59
2.4.1. Mặt mạnh, mặt yếu 59
2.4.2. Cơ hội và thách thức 60
Kết luận chương 2 61
Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 94 9
DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1. Nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên trẻ
về hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên 36
Bảng 2.2. Nhận thức của cán bộ Đoàn, Hội Sinh viên và đoàn viên
về hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên 37
Bảng 2.3. Đánh giá về hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống
của Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội đối với đoàn viên 39
Bảng 2.4. Mức độ tiến hành giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho
đoàn viên 40
Bảng 2.5. Thực trạng tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị
sống của đoàn viên 41
Bảng 2.6. Kết quả nhận thức của đoàn viên sau khi tham gia hoạt động
do Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội tổ chức 42
Bảng 2.7. Phương pháp triển khai các hoạt động giáo dục kỹ năng và
giá trị sống của Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội cho đoàn viên 47
Bảng 2.8. Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng và giá
trị sống cho đoàn viên các trường học đến tham gia sinh hoạt tại
Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội 54
xã hội, năng lực chuyên môn, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại. Hơn thế
nữa, giúp họ dần tạo lập và kiên định lập trường chính trị. Đây là một công tác
quan trọng, là tiền đề để chúng ta có thể đào tạo ra một thế hệ con người mới
vừa giỏi chuyên môn, vừa vững vàng về lập trường chính trị, từ đó đưa đất
nước phát triển lên một tầm cao mới.
11
Cùng với xu thế, thế giới đang có sự thay đổi sâu sắc về mọi mặt, khoa
học kỹ thuật, công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, tác động đến nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội. Một số các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử,
quy tắc sống cũng bị ảnh hưởng. Đặc biệt là thế hệ trẻ, các em dễ dàng học
theo, bắt chước một số thói hư, tật xấu du nhập từ bên ngoài, thế giới trên
mạng internet. Học sinh sống trong xã hội phát triển cần phải được trang bị
những kỹ năng thích hợp để hòa nhập với cộng đồng, với xu thế toàn cầu hóa.
Đối với các bạn đoàn viên hiện còn đang học tập tại các trường cần phải được
giáo dục một số giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống. Giáo dục giá trị sống, rèn
luyện kỹ năng sống càng trở lên cấp thiết với thế hệ trẻ, bởi vì các em là những
chủ nhân tương lai của đất nước. Kỹ năng sống cơ bản gồm kỹ năng ứng xử
hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh
hoạt theo nhóm, kỹ năng rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe; kỹ
năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích
khác; kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và
các tệ nạn xã hội; suy nghĩ và hành động tích cực; học tập tích cực
Để giúp đoàn viên rèn luyện được những kỹ năng đó, đòi hỏi đoàn viên
phải tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động, từ việc trang bị lý thuyết về các kỹ
năng sống cho đến thực hành rèn luyện các kỹ năng sống. Trong đó các hoạt
động trải nghiệm mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Đối với công tác giáo dục
kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên các trường học đến tham gia sinh hoạt tại
Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội cần phải tiến hành những công việc
hết sức tích cực, đa dạng về hình thức, phải cụ thể, thiết thực, kiên trì, năng
bàn thành phố Hà Nội đến tham gia sinh hoạt tại Nhà văn hóa Học sinh –
Sinh viên Hà Nội.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh ở các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội đến tham gia sinh
hoạt tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội.
13
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản ký hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho
đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở các trường học trên địa bàn thành phố
Hà Nội đến tham gia sinh hoạt tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội.
5. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập chung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
- Quy trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống gồm
những bước nào? Nói cách khác đề tài phải làm rõ các bước trong quy trình
quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống nói chung, và quản lý hoạt
động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
ở các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội đến tham gia sinh hoạt tại Nhà
văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội nói riêng.
- Để đảm bảo chất lượng giáo dục kỹ năng và giá trị sống có cần thiết
phải tuân thủ theo quy trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống
hay không và quy trình như thế nào thì hợp lý và có tính khoa học.
6. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn
viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội
đến tham gia sinh hoạt tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội đã được
quan tâm và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trước yêu cầu
của giai đoạn phát triển hiện nay, việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và
dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở các
trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội đến tham gia sinh hoạt tại Nhà văn
hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng cho các
cơ sở khác trong cả nước đang đào tạo về lãnh vực đào tạo kỹ năng và giá trị
sống. Nó còn là tài liệu tham khảo cho các chuyên gia đã và đang làm công tác
quản lý giáo dục kỹ năng và giá trị sống trên toàn quốc.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
15
Phân tích và tổng hợp nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, của Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, Điều lệ Đoàn, Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn, Luật
thanh niên, các Văn kiện, báo cáo của các cấp, các ngành liên quan đến công
tác Đoàn và phong trào thanh niên.
9.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
9.2.1. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý hoạt động
giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở các
trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội đến tham gia sinh hoạt tại Nhà văn
hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội.
9.2.2. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia, cán bộ Đoàn để tìm hiểu thêm thông tin về
hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên ở các trường học
hiện nay.
9.3. Phương pháp phỏng vấn
Trực tiếp trò chuyện, tìm hiểu thông tin qua các đoàn viên là học sinh,
sinh viên các trường về hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn
viên ở các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội đến tham gia sinh hoạt tại
Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội.
17
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG VÀ GIÁ TRỊ SỐNG
CHO ĐOÀN VIÊN ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên TNCS Hồ Chí
Minh là một nội dung giáo dục quan trọng giúp tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh thực hiện mục tiêu giáo dục cho thế hệ trẻ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn Đảng và các cấp chính
quyền cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ
sinh, sinh viên, bởi ngoài kiến thức chuyên môn, học sinh, sinh viên rất cần
được trau dồi tư tưởng, đạo đức, lối sống. Việc giáo dục rèn luyện kỹ năng và
giá trị sống là định hướng đúng đắn hành động, suy nghĩ của sinh viên sẽ giúp
bồi dưỡng cho sinh viên lòng yêu nước, sự quan tâm tới cộng đồng. Hơn thế
nữa, giúp họ dần tạo lập và kiên định lập trường chính trị. Đây là một công tác
quan trọng, là tiền đề để chúng ta có thể đào tạo ra một thế hệ con người mới
vừa giỏi chuyên môn, vừa vững vàng về lập trường chính trị, từ đó đưa đất
nước phát triển lên một tầm cao mới.
Trong những năm gần đây, trước vấn đề hội nhập, công tác giáo dục,
chính trị tư tưởng, rèn luyện kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên, học sinh,
sinh viên trong các nhà trường được Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh và ngành giáo dục quan tâm thể hiện qua Văn kiện, các chỉ thị, nghị
quyết, các quyết định về công tác giáo dục chính trị tư tưởng cụ thể là:
+ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (nhiệm kỳ 2011 – 2016)
phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kinh tế trí thức, bảo vệ
môi trường.
+ Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nộ khóa XV (nhiệm kỳ 2010
– 2015) về phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
19
+ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012 – 2017)
về tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức lối sống, cổ vũ
thanh niên thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích, tình nguyện
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Nghị quyết số 03NQ/TWĐTN ngày 03/11/2009 của BCH Trung ương
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khoá IX về “Đổi mới phương thức giáo dục của
Đoàn trong tình hình mới”.
+ Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX từng bước đổi mới công tác giáo
dục chính trị tư tưởng.
phổ biến, mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi
người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa
trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.
Tác giả Harold. Knoontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động
thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt
được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm
hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích
của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
[29, tr.33].
Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học
quản lý và khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[22, tr.35].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [4, tr.9].
21
Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định “Quản lý là quá trình lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống
đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã định” [19, tr.6].
Những định nghĩa trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau
ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít
nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể
quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu tác động gián tiếp của chủ thể quản
lý. Tác động này chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
+ Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể,
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào
thời kỳ mới, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy những truyền thống
quý báu của dân tộc và bản chất tốt đẹp của mình, kế tục trung thành, xuất sắc
sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường
xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng; tổ chức động viên đoàn viên, thanh
niên cả nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt
Nam, là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh là lực lượng xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ
nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính
đáng của tuổi trẻ; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; là lực
lượng nòng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh
niên Việt Nam.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn
thể và tổ chức xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo giáo dục, đào
tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi; tổ chức cho đoàn viên, thanh niên tích cực tham
gia vào việc quản lý nhà nước và xã hội; đoàn kết, phát triển quan hệ hữu nghị,
hợp tác bình đẳng với các tổ chức thanh niên tiến bộ, thanh niên và nhân dân
23
các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội, vì tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ.
1.2.3. Đoàn viên ĐoànTNCS Hồ Chí Minh
Đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thanh niên Việt Nam tiên tiến,
phấn đấu vì lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc; có lối sống lành mạnh, cần kiệm,
trung thực; tích cực, gương mẫu trong học tập, lao động, hoạt động xã hội và
bảo vệ Tổ quốc, gắn bó mật thiết với thanh niên; chấp hành nghiêm chỉnh pháp
nền kinh tế trí thức.
Giá trị: Là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức
nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng Giá trị cũng là những quan
niệm và thực tại về cái đẹp, về sự thật, về điều thiện của một xã hội. (theo từ
điển Tiếng Việt)
Giá trị sống: hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”, “giá trị của cuộc sống”
là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng
được và vì thế giá trị sống là cơ sở của hành động sống, nó chi phối hành vi
hướng thiện của con người; Giá trị sống là điều quý giá, quan trọng có ý nghĩa
với cuộc sống của mỗi người (Giá trị sống chính là giá trị được trải nghiệm
trong cuộc sống). Giáo dục giá trị sống là giáo dục từ gốc.
Những giá trị sống cơ bản thường được nhắc đến là yêu nước, hòa bình,
công bằng, sự tôn trọng, đoàn kết, sự trung thực, tình bạn, tính vị tha…Tóm lại
là tất cả những gì mà con người cho là tốt đẹp nhất, cao quý nhất.
Tuy nhiên không phải ai cũng nhận thức đúng giá trị của cuộc sống!
Có người cho rằng trở thành người giàu có – nhiều tiền mới là “giá trị
đích thực”. Khi ấy họ sẽ phấn đấu để có tiền bằng mọi giá, buôn lậu, trộm cắp
thậm chí kể cả giết người. Nhưng rồi cách kiếm tiền ấy đưa người ta đến chỗ
phạm tội, làm hại người khác, làm hại cộng đồng.
25
Có người lấy danh vọng, địa vị làm thước đo giá trị. Vậy là họ cố gắng
bằng mọi cách để có được những chức tước, địa vị nào đó. Nhưng khi những
chức tước, địa vị ấy bị mất, con người trở nên “trắng tay”, vô giá trị.
Có người coi sự nhàn hạ là giá trị cuộc sống. Họ trốn tránh trách nhiệm,
lười lao động, chọn những công việc, nghề nghiệp không vất vả. Cuối cùng họ
sống nhạt nhòa, chẳng làm được gì cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Thậm chí có bạn trẻ cho rằng phải hút thuốc lá, phải biết dùng heroin,
phải biết yêu sớm… mới là “người hùng”, là “đẳng cấp”, mới có giá trị!
Như vậy là các bạn trẻ ấy đã nhìn nhận sai lầm giá trị, lẫn lộn giữa giá trị