ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
MÔN: THỐNG KÊ XÃ HỘI
HỌC
ĐỂ TÀI:
QUAN NIỆM CỦA SINH VIÊN
VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI
NGƯỜI NƯỚC NGÒAI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG.
LỚP: XHHK18
NHÓM: BIỂN ĐÔNG
1. Nguyễn Lê Anh Thư
(1256090170)
2. Hòang Minh Trí (1256090180)
3. Nguyễn Hữu Xuân
(1256090193)
4. Nguyễn Trường Giang
(1256090040)
TP HCM, Tháng 5 năm 2014
XHHK18
I.
-
Tìm hiểu một số tài liệu, đề tài nghiên cứu trước đó và một số tài liệu liên quan đến vấn
đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngòai ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
để làm nền tảng cho cuộc nghiên cứu.
Tiếp cận, điều tra bảng hỏi để thu thập thông tin.
Phân tích tổng hợp kết quả điều tra để thấy được nhận thức, thái độ, quan niệm của sinh
viên về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngòai ở các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
-
Ý nghĩa lý luận :
Biển Đông
2
XHHK18
+ Đề tài vận dụng những kiến thức chuyên ngành xã hội học, qua đó làm phong phú thêm
hệ thống kiến thức chuyên ngành gợi mở cho những nghiên cứu sau này.
-
Ý nghĩa thực tiễn :
+ Thông qua đề tài nhằm hiểu rõ hơn về nhận thức, thái độ, quan niệm của sinh viên đối
với vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngòai ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long.
nước ngoài giữa nam và nữ ở các tỉnh dồng bằng sông Cửu Long.
Không có sự khác biệt ý nghĩa trung bình về mức độ đồng tình với việc lấy chồng nước
ngoài giữa nam và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long.
Có sự khác biệt ý nghĩa trung bình về đánh giá chuyện lấy chồng nước ngoài là bình
thường giữa nam và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long
Có sự khác biệt ý nghĩa trung bình về mức độ cuộc sống khá hơn trước của những gia
đình có con lấy chồng nước ngoài giữa nam và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long.
Có sự khác biệt ý nghĩa trung bình về việc sau khi ly hôn chồng người nước ngoài thì có
dễ lấy chồng khác không giữa nam và nữ ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Biển Đông
3
XHHK18
II.
Cơ sở lý luận
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện tượng đăng ký kết hôn với người nước ngoài và xuất cảnh ra sinh sống ở nước ngoài vốn dĩ
được nhìn nhận như một hiện tượng tất yếu về sự chuyển dịch nhân khẩu trong xu thế toàn cầu
hoá. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng, có thời kỳ tăng đột biến, tạo thành “làn sóng” phụ nữ
Việt Nam lấy chồng Đài Loan từ năm 1995 đến nay trở thành hiện tượng xã hội bất bình thường
bởi phần lớn việc xác lập các quan hệ hôn nhân này xuất phát từ mục đích kinh tế. Từ năm 1993,
do Chính phủ Đài Loan xét duyệt nghiêm ngặt việc kết hôn với người Trung Quốc, đồng thời
thực hiện “chính sách hướng Nam”, trong đó tập trung các hoạt động đầu tư, thương mại vào
Việt Nam nên xu hướng lấy vợ là người nước ngoài của nam giới Đài Loan có sự chuyển dịch
sang Việt Nam. Thống kê theo số liệu đăng ký kết hôn đã được giải quyết thì trong thời gian 8
4
XHHK18
b. Tiểu luận “Vấn đề kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài hiện nay và một
số giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài” của Mai Phương- 2013.
Trong nghiên cứu này tác giả đã giải thích rõ những khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
tác giả cũng đưa ra nhiều luận điểm lý giải nguyên nhân tình trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng
nước ngòai tăng cao. Nổi bật là những mặt trái mà tác giả đưa ra trong vấn đề lấy chồng Đài
Loan nảy sinh từ đời sống vợ chồng gây ảnh hưởng tiêu cực nhiều hệ lụy đến người phụ nữ Việt
Nam. Từ đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ Việt Nam
khi kết hôn với người nước ngoài.
Ngoài ra còn có hội thảo: “Gia đình đa văn hoá Việt Nam – Đài Loan” do Trường
ĐHKHXH&NV tổ chức ngày 18/12/2013 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Việt Nam và
Đài Loan. Các báo cáo tại hội thảo phản ánh thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và đàn
ông Đài Loan trong những năm qua và đi sâu phân tích những thách thức và khó khăn mà các gia
đình liên văn hoá, đặc biệt là những người vợ Việt Nam sống tại Đài Loan phải đối mặt, từ đó
chỉ ra những hệ quả về mặt văn hoá, xã hội đối với cộng đồng địa phương.
Khi rời bỏ đất nước của mình đến một quốc gia khác, đối mặt với những khác biệt về văn hoá và
lối sống, những chuyển đổi về môi trường, kinh tế, giáo dục, ngôn ngữ cũng như nhận thức và
tình cảm, các cặp đôi này gặp nhiều khó khăn để thích ứng với hoàn cảnh sống mới. Nhiều thách
thức nảy sinh trong quan hệ hôn nhân giữa những cặp đôi liên văn hoá như: vấn đề định kiến và
phân biệt đối xử đối với người nhập cư; sự tiếp biến văn hoá diễn ra trong các thế hệ gia đình và
cộng đồng; mối quan hệ giữa gia đình thông gia và gia đình mở rộng; vấn đề giao tiếp và chất
lượng mối quan hệ trong hôn nhân; nuôi dưỡng con cái… Nhu cầu sức khoẻ tâm thần và ứng phó
ở những cặp đôi liên văn hoá được nhận diện từ khía cạnh đa văn hoá. Trên cơ sở đó, những đề
xuất cho chăm sóc xã hội và dịch vụ tâm lí cho những gia đình này được thảo luận.
Những năm gần đây, tình trạng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài là những vấn đề đang gây
bức xúc trong đời sống xã hội. Hàng chục ngàn phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài
mỗi năm tạo nên “cơn sốt” lấy chồng ngoại. Những tổ chức môi giới tại các nước trong khu vực,
đặc biệt ở Đài Loan đang sử dụng nhiều hình thức chào mời kết hôn, rao giá cho các cuộc kết
hôn với phụ nữ Việt Nam, các loại quảng cáo như thế được đăng tải một cách công khai trên báo
chí hoặc nơi công cộng đang gây ra sự bất bình trong dư luận công chúng.
Các số liệu thu thập được trong những năm qua cho thấy số lượng cô gái Việt Nam kết hôn với
người Đài Loan phát triển mạnh vào năm 2000 và sau đó giảm đôi chút vào năm 2001 nhưng đến
2002 lại tăng trở lại. Từ năm 2003 số cuộc kết hôn Đài - Việt có giảm hơn, trong quý I/2004 vẫn
có 2.423 phụ nữ kết hôn với người Đài Loan.
Mục đích lấy chồng nước ngoài của những phụ nữ này tuy không hoàn toàn giống nhau, nhưng
hầu hết họ đều kỳ vọng vào sự giàu có của người chồng để có cơ hội được đổi đời và có điều
kiện giúp gia đình thoát khỏi cảnh bần hàn, thậm chí có người chấp nhận lấy cả những người già
yếu, tàn tật…
Hiện nay, “làn sóng” kết hôn với người nước ngoài không còn tập trung hướng đến các chàng rể
Đài Loan mà đã có sự chuyển dịch sang các quốc gia khác như Hàn quốc, Singapor, Malaysia và
Trung quốc. Các đường dây môi giới hôn nhân hình thành trước đây, nay đã hoạt động mang tính
chuyên nghiệp hơn và mở rộng phạm vi ở cả trong nước và nước ngoài.
Về nghề nghiệp, những người tham gia vào hôn nhân Đài - Việt phần lớn thuộc về tầng lớp lao
động. Các chú rể Đài Loan đa phần là người làm công, công nhân, còn các cô dâu Việt Nam
thường xuất thân trong gia đình nông dân, làm nông nghiệp hoặc chỉ ở nhà làm nội trợ. Không cả
nghề nghiệp phụ, nguồn thu nhập hầu như không có hoặc nếu có thì rất thấp, đây là lý do chính
để phụ nữ mong muốn kết hôn với người nước ngoài.
Biển Đông
6
XHHK18
một số vấn đề tệ nạn xã hội tại vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long ví dụ như: tệ nạn rượu
chè,cờ bạc,nghiện hút,bạo hành gia đình.Nhiều cô gái muốn không muốn cưới phải những người
chồng tại địa phương có những tệ nạn như vậy nên đã tìm cách lấy chồng nước ngòai.Động cơ
thứ 2 cho rằng khó lấy chồng tại địa phương(chiếm tỷ lệ 1.8%) và “ không thích lấy chồng địa
phương “ (chiếm tỷ lệ 3.6%) cũng có nguyên nhân gần giống như vậy.Động cơ thứ 3 nêu ra lý
Biển Đông
7
XHHK18
do là “làm theo nhiều người” (chiếm tỷ lệ 5.41).Ý kiến này xuất phát từ việc một số phụ nữ đã
lấy chồng nước ngòai và có điều kiện sống tốt hơn đã kể lại cho những cô gái khác nghe và dẫn
đến việc thêm nhiều cô gái có mong muốn lấy chồng nước ngòai như một cách thóat khỏi cuộc
sống cơ cực tại địa phương.
Nhóm 3 chiếm tỷ lệ 15.31%.Nhóm này dựa trên suy nghĩ cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”
vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long.Những gia đình có cuộc
sống khó khăn,thu nhập bấp bênh dựa vào nông nghiệp là chính.Những người cha mẹ tại cá gia
đình ấy chỉ còn cách cho con lấy chồng nước ngòai để qua đó kiếm công ăn việc làm,tạo thêm
thu nhập cho gia đình,cải thiện cuộc sống.
Đối với những cô gái sau khi lấy chồng nước ngòai thì phần lớn sinh viên đều cho rằng những cô
gái ấy có cuộc sống tốt hơn (chiếm tỷ lệ 67.65%) Nhóm thứ hai là những sinh viên không có ý
kiến (chiểm tỷ lệ 26,47%) không đưa ra đánh giá cho câu hỏi. Lý giải về điều này có thể là do
họ không quan tâm, không tìm hiểu hoặc tại địa phương đó có rất ít người lấy chồng người nước
ngoài. Đặc biệt, không ai trong 68 người cho rằng cuộc sống sau khi kết hôn với người nước
ngoài sẽ kém hơn. Chỉ có 4 người trả lời cuộc sống của những người này vẫn y như trước, chiếm
5,88%. Điều này cho thấy, quan niệm của đa số về việc lấy chồng người nước sẽ có cơ hội cho
cuộc sống khá hơn, không có chuyện kém hơn.
Mặc khác,đa số cho rằng những cô gái lấy chồng nước ngòai sẽ khá hơn về kinh tế nhưng hạnh
phú gia đình thì không. Chỉ có 10.3% trả lời là có hạnh phúc trong khi có tới 32.35% trả lời là
và 4.08% khó trả lời. Từ đó, có thể thấy được thái độ của người được phỏng vấn đa số vẫn còn
có ý nghĩ tiêu cực trong chuyện lấy chồng người nước ngoài.
Một vài nhận định trên có thể là chưa đầy đủ nhưng chúng ta nhận ra rằng thực trạng hôn nhân
và xu hướng kết hôn cũng như tiệu chuẩn chọn bạn đời và những giá trị của hôn nhân ở đồng
bằng sông Cửu Long đã có nhiều thay đổi trước sự tác động của kinh tế thị trường và sự tác động
bởi yếu tố kinh tế,với mong muốn “đổi đời”,cải thiện cuộc sống gia đình.
Chương 3: Kết luận- kiến nghị
Quan niệm lấy chồng người nước ngoài đối với những người trẻ hiện nay đã thoáng hơn rất
nhiều. Thế nhưng không vì vậy mà bỏ qua thực trạng tiêu cực hiện nay, ảnh hưởng đến đời sống
tâm lý của người phụ nữ Việt Nam. Chúng ta không thể ngăn cấm mà chỉ có thể cố gắng tìm
những giải pháp hữu hiệu để khắc phục những bất cập của nó. Việc nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho những người phụ nữ có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, những người
phụ nữ có ý định lấy chồng người nước ngoài cũng cần trang bị cho mình những kiến thức, kĩ
năng, phương tiện cần thiết trước khi về nhà chồng. Từ phía các nhà chức trách, cần phải có một
cơ chế quản lý thích hợp để bảo vệ quyền lợi của các cô gái tham gia kết hơn với người nước
ngòai và tạo điều kiện để đồng bằng sông Cửu Long phát triển một cách bền vững.
Biển Đông
9
XHHK18
SỐ LIỆU
Câu 1: Xác định biến số và thang đo của bảng câu hỏi
NỘI DUNG
Câu
1
2
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định tính
Biến định lượng
Biến định lượng
Biến định lượng
Thang đo
Thang đo tỉ lệ
Thang đo danh nghĩa
Thang đo thứ bậc
Thang đo thứ bậc
Thang đo danh nghĩa
Thang đo danh nghĩa
Thang đo danh nghĩa
Thang đo thứ bậc
Thang đo danh nghĩa
Thang đo danh nghĩa
Thang đo danh nghĩa
Thang đo danh nghĩa
Thang đo thứ bậc
Thang đo thứ bậc
Thang đo danh nghĩa
Thang đo danh nghĩa
10
XHHK18
Câu 2: Lập các bảng phân phối tần suất và mô tả
Bảng câu hỏi 3: Bảng phân phối tần suất về mức độ lấy chồng nước ngoài ở xã / phường
Trong xã /phường bạn có
nhiều người lấy chồng là
người nước ngoài không?
1. Rất nhiều
2. Khá nhiều
3. Không nhiều lắm
4. Không biết
Tổng
Tần suất
Phần trăm
1
12
40
15
68
1.47
17.65
58.82
22.06
5. Rất đồng tình
6. Không biết khó trả lời
Tổng
Tần suất
Phần trăm
Phần
tiến
2
2.941
2,941
17
22
16
3
8
68
25
32.353
23.529
4.412
11.765
100
bình
thường
không ?
1. Bình thường
2. Không bình thường
3. Khó trả lời
Tổng
Tần suất
Phần trăm
Phần
tiến
51
10
7
68
75
14.71
10.29
100
75
89.71
100
trăm
Biển Đông
Tần suất
Phần trăm
Phần trăm lũy tiến
57
51.35
51.35
6
5.41
56.75
2
1.8
58.56
17
15.31
Mô tả : Với 68 người được phỏng vấn trong câu hỏi này, ta có 111câu trả lời. Trong số những lý
do tại sao nhiều cô gái lấy chồng người nước ngoài, lý do “muốn giúp đỡ gia đình” chiếm
51.35%, có tỷ lệ lớn nhất. Đứng thứ hai là lý do “muốn có cuộc sống khác với những người xung
quanh” chiếm tỉ lệ 21.62 %. Chiếm tỷ lệ thứ ba là lý do chiều lòng ba mẹ với 15.31%. Điều này
đặt ra một câu hỏi liệu đằng sau những lý do lấy chồng người nước ngoài trên có liên quan đến
yếu tố về kinh tế hay không?.
Bảng câu hỏi 7: Bảng phân phối tần suất về mức độ cuộc sống khá hơn trước của những gia
đình có con lấy chồng nước ngoài
Theo bạn, cuộc sống của
những gia đình có con lấy
chồng nước ngoài có khá
hơn lúc trước khi họ kết
hôn không ?
1. Khá hơn
2. Cũng vậy
3. Kém hơn
4. Không biết
Tổng
Tần suất
Phần trăm
Phần
tiến
46
khi chồng là người nước ngoài
Biển Đông
13
XHHK18
Đó là về kinh tế, còn về
hạnh phúc gia đình liệu lấy
chồng là người nước ngoài,
cuộc sống có hạnh phúc
không
1. Có
2. Không
3. Khó trả lời
Tổng
Tần suất
Phần trăm
Phần
tiến
7
22
39
68
10.3
Phần trăm
Phần
tiến
64
1
3
68
94.12
1.47
4.41
100
94.12
95.59
100
trăm
lũy
Mô tả : Có đến 94.12% người cho rằng lấy chồng người nước ngoài sẽ gặp khó khăn trong cuộc
sống gia đình. Chỉ có 1/68 người (1.47%) trả lời là không gặp khó khăn gì, 4,41% còn lại khó trả
lời cho câu hỏi này. Theo số liệu thu thập được, 64/68 cho rằng sẽ gặp khó khăn trong đời sống
gia đình vì mâu thuẫn lối sống, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tư tưởng,…Tóm lại, có
thể nói đa số người được phỏng vấn nhận thấy rõ những khó khăn này.
Biến khuyết
hơn
2. Vẫn
như 7
10.29
10.61
78.79
21.21
100
100
vậy
3. Không biết
Tổng
14
66
20.59
97.06
Không hợp lệ
18.333
18.333
2.Không thích 22
lắm nhưng chấp
Nếu bạn thân nhận
của bạn có ý 3.Khuyên là 17
định lấy chồng không nên lấy
nước ngoài thì
4.Không muốn 2
bạn sẽ có thái
tiếp tục mối
độ như thế nào?
quan hệ với
người đó
32.35
36.67
55
25
28.333
83.333
8
11.765
68
100
Mô tả: Có 17 người trong tổng số 60 người có câu trả lời hợp lệ khuyên bạn thân của mình
không nên lấy chồng người nước ngoài, chiếm 25%. Cao nhất là 32.35% không thích nhưng vẫn
Biển Đông
15
XHHK18
chấp nhận cho bạn mình làm như vậy. Chỉ có 2/60(2.94%) không muốn tiếp tục mối quan hệ với
người bạn đó. Điều này cho thấy quan niệm của những người được phỏng vấn khá thoải mái với
điều này dù có suy nghĩ không tích cực trong vấn đề bạn mình lấy chồng người nước ngoài.
Bảng câu hỏi 12:Bảng phân phối tần suất về ý định lấy chồng người nước ngoài (của nữ ) ở
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Phần trăm Lũy
Tiến
Tần Suất
Phần trăm
11
100
Nếu có điều kiện
bạn có ý định lấy
chồng nước ngoài 1.Có
không ?
2.Không
Mô tả: Trong tổng số 48 người trả lời câu hỏi này, chỉ có 11 người chiếm 22.45% quyết định sẽ
lấy chồng nước ngoài nếu có điều kiện. 28 người khác chiếm 59.18% trả lời là không. Ngoài ra
có 14.29% trả lời là chưa nghĩ đến và 4.08% khó trả lời. Từ đó, có thể thấy được thái độ của
người được phỏng vấn đa số vẫn còn có ý nghĩ tiêu cực trong chuyện lấy chồng người nước
ngoài.
Bảng câu hỏi 13: Bảng phân phối tần suất về quyết định khi có người em gái đi lấy chồng
nước ngoài (của nam) ở các tỉnh dồng bằng sông Cửu Long
Nếu có em gái, khi có
điều kiện có đồng ý
cho cô ấy lấy chồng Tần suất
nước ngoài không?
(chỉ hỏi nam)
Phần trăm
Phần trăm lũy tiến
1.Có
5
20
Tổng cộng
20
100
100
Mô tả: Trong tổng số 68 người được phỏng vấn, có 20 người là nam hợp lệ trả lời câu hỏi này.
40% không muốn em gái mình lấy chồng người nước ngoài. 25% khác đồng ý. 35% còn lại đang
phân vân cho câu trả lời. Vậy thấy được rằng việc lấy chồng người nước ngoài trong mắt nam
giới vẫn tồn tại nhiều đánh giá không tích cực.
Bảng câu hỏi 14: Bảng phân phối tần suất về độ tuổi thích hợp để lấy chồng của con gái ở
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Theo bạn, con gái
nên lấy chồng ở độ Tần suất
tuổi nào?
Phần trăm
Phần trăm lũy tiến
1. Nhỏ hơn 23
9
thích hợp hơn, nhưng chỉ chiếm tỷ lệ đứng thứ 2 với 16/59 người trả lời. Chỉ có 9 người cho rằng
con gái nên lấy chồng lúc nhỏ hơn 23 tuổi. Ta nhận thấy rằng có tư tưởng của những người được
phỏng vấn đã có sự tiến bộ hơn rất nhiều.
Bảng câu hỏi 15: Bảng phân phối tầng suất về độ tuổi không còn khả năng lấy chồng nữa
(bị coi là ế) ở các tỉnh dồng bằng sông Cửu Long
Biển Đông
17
XHHK18
Cô gái đến tuổi nào mà
chưa lấy chồng thì sẽ
Tần suất
không có khả năng lấy
chồng nữa (bị coi là ế) ?
Phần trăm
Phần trăm lũy tiến
1. 30-35
25
52.083
52.083
có dễ lấy chồng khác không ở các tỉnh dồng bằng sông Cửu Long
Theo bạn, nếu một cô gái
lấy chồng người nước
ngoài, sau đó ly hôn thì có Tần suất
dễ lấy chồng khác hay
không
Phần trăm
Phầnăm lũy tiến
47.058
47.058
32.352
79.41
14
20.59
100
68
100
Phần trăm
Phần trăm lũy tiến
1. Nam
20
29.41
29.41
2. Nữ
48
70.59
100
68
100
Tổng
Bảng năm sinh:bảng phân phối tần suất về năm sinh
Năm sinh
Tần suất
1
1.47
100
68
100
Tổng
Bảng học vấn: bảng phân phối tần suất về học vấn
Học vấn
Tần suất
Phần trăm
Phần trăm lũy tiến
1. 12/12
28
41.18
41.18
Phần
thực tế
trăm Phần trăm
lũy tiến
1. Đạo Phật
9
13.235
13.64
13.64
2. Đạo Thiên Chúa
12
17.647
18.18
31.82
3. Cao Đài
0
100
Tổng
66
97.06
100
Không hợp lệ
2
2.94
68
100
0
31.82
Câu 3: Xây dựng giả thuyết cho các biến số trên
Xây dựng giả thuyết 1: Không có sự khác biệt ý nghĩa về trung bình khi quyết định cho người
nhà lấy chồng nước ngoài giữa nam và nữ ở các tỉnh dồng bằng sông Cửu Long
Xây dựng giả thuyết 2: Không có sự khác biệt ý nghĩa trung bình về mức độ đồng tình với việc
lấy chồng nước ngoài giữa nam và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long
11
5
2. Không
28
8
3. Chưa nghĩ đến
7
3
4. Khó trả lời
2
4
48
20
Nữ
ur
x1
•
Xây dựng giả thuyết
- Ho: không có sự khác biệt ý nghĩa về trung bình khi quyết định cho người nhà lấy
x1
-
x2
chồng nước ngoài giữa nam và nữ. =
Ha: có sự khác biệt ý nghĩa trung bình khi quyết định định cho người nhà lấy
chồng nước ngoài giữa nam và nữ.
Biển Đông
21
x1
≠
x2
XHHK18
+ S2pooled=
t0 =
α
= 0.005
2
⇒ tc = 2.58
⇒
Ta lại có:
+t0= 1.23 < tc
⇒
⇒
p> 0.01
chấp nhận Ho
⇒
ở mức độ tin cậy 99% ta không đủ bằng chứng chứng tỏ có sự khác biệt về ý nghĩa
trung bình về quyết định cho người nhà lấy chồng nước ngoài giữa nam và nữ ở đồng bằng
sông Cửu Long
•
Kiểm định giả thuyết 2:
Bảng 2: Mức độ đồng tình với việc lấy chồng nước ngoài giữa nam và nữ ở đồng bằng sông
Cửu Long
Giới tính
Nữ
4. Đồng tình
12
4
5. Rất đồng tình
1
2
6. Không biết khó trả
6
2
48
20
Nữ
Nam
Trung bình
x1 = 3.35
x1 ≠ x2
s12 ( n1 − 1) + s22 (n2 − 1) 1.152 ( 48 − 1) + 1.152 ( 20 − 1)
=
= 1.3225
( n1 − n2 )
( 48 + 20 − 2 )
+ S2pooled=
t0 =
+
x1 − x2
3.35 − 3.4
=
= −0.16
1 1
1
1
2
S pooled ( + )
1.3225 + ÷
n1 n2
48 20
t0 = 0.16
Biển Đông
Kiểm định giả thuyết 3:
Bảng 3 : Đánh giá chuyện lấy chồng nước ngoài là bình thường giữa nam và nữ ở đồng
bằng sông Cửu Long
Theo bạn việc lấy chồng Nữ
nước ngoài có là chuyện
bình thường không ?
Nam
1. Bình thường
38
13
2. Không bình thường
6
4
3. Khó trả lời
4
3
48
Xây dựng giả thuyết
Biển Đông
24
XHHK18
Ho: không có sự khác biệt ý nghĩa về sự đánh giá chuyện lấy chồng nước ngoài là bình thường
x1
giữa nam và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long:
=
x2
Ha:có sự khác biệt ý nghĩa về sự đánh giá chuyện lấy chồng nước ngoài là bình thường giữa nam
và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long:
x1 ≠ x2
s12 ( n1 − 1) + s22 (n2 − 1) 0.79 2 ( 48 − 1) + 0.87 2 ( 20 − 1)
=
= 0.66
(n1 − n2 )
( 48 + 20 − 2 )
+ S2pooled=
t0 =
Ta lại có
t0 = 0.97 < tc ⇒
p > 0.01chấp nhận Ho
Ở mức độ tin cậy 99% ta không đủ bằng chứng chứng tỏ có sự khác biệt về sự đánh
•
giá chuyện lấy chồng nước ngoài là bình thường giữa nam và nữ ở đồng bằng sông
Cửu Long.
Kiểm định giả thuyết 4:
Bảng 4: Mức độ cuộc sống khá hơn trước của những gia đình có con lấy chồng nước ngoài
giữa nam và nữ ở đồng bằng sông Cửu Long
Theo bạn, cuộc sống của Nữ
những gia đình có con lấy
chồng nước ngoài có khá
hơn lúc trước khi họ kết hôn
không ?
Biển Đông
Nam
25