Mục Lục
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, hội nhập là xu thế chung của tất cả các quốc gia trên
thế giới. Việc xuất hiện các công ty đa và xuyên quốc gia là bước tiến quan trọng
trong quá trình hội nhập, thúc đẩy sự liên kết, giao lưu học hỏi lẫn nhau giữa các
nền kinh tế. Việc thành lập các công ty đa, xuyên quốc gia có vai trò to lớn trong
phát triển kinh tế nói riêng và phát triển đất nước nói chung. Với vai trò quan trọng
của việc thành lập các công ty đa, xuyên quốc gia như vậy, các nền kinh tế luôn
muốn tập trung đầu tư khuyến khích thành lập và hoạt động, nhằm thúc đẩy sự
phát triển chung của đất nước. Đặc biệt, với nền kinh tế mới mở cửa hội nhập như
Việt Nam, việc thành lập các công ty đa, xuyên quốc gia càng cần được chú trọng.
Nắm được vai trò và tầm quan trọng của các công ty đa, xuyên quốc gia đối
với nền kinh tế như trên, nhóm chúng tôi xin tìm hiểu về đề tài “Hoạt động của
công ty đa và xuyên quốc gia tại Việt Nam” để hiểu rõ hơn nữa về hệ thống các
công ty đa và xuyên quốc gia ở Việt Nam, nhằm thấy được những điểm tích cực,
hạn chế để đề xuất ra những kiến nghị, giải pháp dưới góc độ quan điểm cá nhân.
Bài nghiên cứu là cái nhìn toàn diện nhất về hoạt động của các công ty đa và xuyên
quốc gia tại Việt Nam với những khó khăn mà các công ty gặp phải trong việc
thành lập và quá trình hoạt động. Mặc dù nhóm chúng tôi đã cố gắng tìm tòi tài
liệu và nghiên cứu để xây dựng bài tiểu luận với bố cục khoa học, logic nhất, đưa
ra những quan điểm của mình, tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những khiếm
khuyết nhất định. Rất mong cô và các bạn đưa ra những nhận xét, góp ý để bài
nghiên cứu của nhóm được hoàn thiện hơn.
2
quyết định hình thức hợp tác (FDI) với MNE ở nước chủ nhà. Chính vì thế, cơ cấu
tổ chức và hoạt động của MNE không chỉ có tính quốc tế mà còn mang đậm nét đa
quốc gia.
Các MNE tăng trưởng mạnh mẽ cuối những năm 1980 do sự nới lỏng các quy
chế đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển và xu hướng tự do hóa thị trường
vốn quốc tế. Trong thời gian này, trào lưu các công ty mẹ (parent firms) mở rộng
các chi nhánh ra nhiều nước (transnational) đã trở nên nổi bật và thuật ngữ “công
ty xuyên quốc gia” (TNCs) được sử dụng rộng rãi.
Theo định nghĩa, TNC là doanh nghiệp có sở hữu và kiểm soát tài sản như
nhà máy, hầm mỏ, đồn điền và các cơ sở bán hàng ở hai hoặc nhiều nước (Colman
and Nixson, 1994). Định nghĩa này cũng được đưa ra bởi nhiều học giả như
Jenkins, Rasiah hay Dunning and Sauvant.
Như vậy, theo các định nghĩa đã nêu, bản chất của TNCs và MNEs là giống
nhau: chúng đều là những công ty có quy mô lớn về tài sản, phạm vi hoạt động ở
nhiều nước và tìm kiếm lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu. Sự khác nhau về tên gọi
chỉ là phản ánh đặc điểm phát triển trong từng thời kỳ tăng trưởng của TNC hoặc
thói quen sử dụng từ ngữ của các học giả.
II.
Nguồn gốc hình thành của các công ty đa và xuyên quốc gia.
Sự ra đời của các công ty đa và xuyên quốc gia trên thế giới gắn liền với sự
ra đời và phát triển của sản xuất lớn TBCN (Tư bản chủ nghĩa). Các công ty đa và
xuyên quốc gia là hình thức phát triển cao của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa,
và là kết quả trực tiếp của quá trình tích tụ và tập trung sản xuất qua các giai đoạn
phát triển của chủ nghĩa tư bản dưới sự tác động của các qui luật thị trường : là sự
vận động mở rộng của quan hệ sản xuất TBCN thông qua các hình thức tổ chức
sản xuất kinh doanh giản đơn đến kết cấu tổ chức sản xuất kinh doanh quốc tế.
4
vừa và nhỏ hoạt động độc lập hoặc phụ thuộc. Ở các nước TBCN phát triển như
Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Italia, Canada, số xí nghiệp vừa và
nhỏ chiếm 70-80% tổng số các xí nghiệp. Về mặt tổ chức sản xuất, đây là hình
thức mang tính hiệu quả cao vì giảm được chi phí sản xuất, tận dụng được nguyên
liệu, phát huy tính sáng tạo…, do đó làm tăng quy mô và tỷ suất lợi nhuận.
Từ thập kỷ 1960 trở lại đây, TNCs đã phát triển nhanh chóng dưới tác động
của cách mạng khoa học và công nghệ bùng nổ. Quá trình tích tụ sản xuất trong
nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh dẫn đến việc xuất hiện các hình thức công ty liên
hiệp nông-công nghiệp, nông-thương nghiệp (ở Mỹ những năm 1980, liên hiệp
nông-công nghiệp chiếm trên 30% sản lượng nông sản). Cùng với quá trình tích tụ
sản xuất trong nông nghiệp, mối liên hệ giữa công-nông nghiệp ngày càng tăng,
đẩy mạnh xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu lao động cũng như
trong tổng sản phẩm quốc nội (hiện nay chỉ còn khoảng 2-10% ở các nước tư bản
phát triển cao).
Quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền
mang nhiều dấu ấn của thời đại cách mạng khoa học và công nghệ. Sự liên kết giữa
các xí nghiệp lớn dẫn đến quá trình liên kết đa ngành, trong đó lĩnh vực du lịch,
ngân hang được các tổ chức độc quyền quan tâm và bành trướng quyền lực. Tình
hình đó dẫn đến sự tập trung tư bản, tập trung sản xuất kinh doanh hết sức to lớn.
Đặc điểm của các công ty đa và xuyên quốc gia ở Việt Nam
Các công ty đa và xuyên quốc gia ở Việt Nam có nguồn gốc từ nhiều nước, phổ
III.
1.
biến là từ Châu Á.
Căn cứ vào những số liệu trong những năm gần đây, chúng ta có thể thấy
một cách đây đủ nguồn gốc của các TNCs ở Việt Nam. Từ năm 1988-1997, phần
đầu tư của các TNCs Đông Á (trừ Nhật Bản, còn lại chủ yếu là các nước công
6
Các TNC đầu tư vào Việt Nam phần lớn là không xuất phát từ công ty mẹ
mà là từ các công ty thuộc thế hệ thứ hai, nghĩa là từ các công ty chi nhánh ở nước
thứ hai đầu tư vào nước thứ ba nên vấn đề cần quan tâm là năng lực tài chính yếu
và công nghệ kỹ thuật của các TNC này. Do quy mô không lớn và trình độ công
nghệ không cao, những công ty này xâm nhập vào Việt Nam do công ty mẹ điều
chỉnh. Các TNC Châu Á luôn coi thị trường Đông Nam Á nói chung trong đó có
Việt Nam là thị trường truyền thống của họ. Vì vậy, ưu tiên đầu tư vào thị trường
này để tăng cường ảnh hưởng về kinh tế thương mại luôn được các TNC có nguồn
gốc Châu Á theo đuổi.
2.
Các công ty xuyên quốc gia hoạt động ở Việt Nam phần lớn đều thuộc các loại
hình doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam có quy mô vốn lớn, trình độ công
nghệ cao còn quá ít. Trong số 500 tập đoàn lớn nhất mà tạp chí Fortune (Mỹ) bình
chọn hằng năm, ở Việt Nam, cho đến nay, mới chỉ có trên 21% số đó có dự án đầu
tư và thiết lập các quan hệ giao thương hàng hóa-dịch vụ và công nghệ. Trong khi
đó ở Trung Quốc, đã có tới 80% số này thực hiện đầu tư, tức là 400 tập đoàn (theo
báo cáo phát triển Việt Nam 2006).
Phần đầu tư cắm nhánh của các TNC ở Việt Nam được thực hiện chủ yếu
bởi các công ty vừa và nhỏ. Bình quân mỗi dự án đầu tư vào Việt Nam thường chỉ
đạt dưới 20 triệu USD. Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu là các ngành điện tử, dệt may,
nông lâm hải sản chế biến, dịch vụ du lịch…Điều đó có nhiều nguyên nhân mà lớn
nhất lợi thế so sánh của Việt Nam hiện tại là lao động đông, giá nhân công rẻ,
nguyên liệu dồi dào, thị trường rộng lớn. Những ngành tận dụng được các lợi thế
này chủ yếu là những ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên nhưng công
nghệ chuyển giao thường không cao, vốn không nhiều.
8
(2) Năng lực của đội ngũ cán bộ của Việt Nam tham gia vào quản lý, điều
hành kinh doanh còn quá yếu.
(3) Việc liên doanh giữa TNCs với đối tác Việt Nam lại chủ yếu là doanh
nghiệp Nhà nước thường xuyên có sự bất đồng về phương thức và mục tiêu kinh
doanh đã dẫn đến những xung đột thương xuyên trong tổ chức và điều hành giữa
chúng.
Hoạt động của một số công ty đa và xuyên quốc gia tại Việt Nam
Công ty Honda
IV.
1.
Honda nhận giấy phép đầu tư tại Việt Nam từ tháng 3/1996. Công ty Honda
Việt Nam là liên doanh của 3 đối tác: Honda Motor (Nhật Bản: 42%), Asian Honda
Motor (Thái Lan: 28%), Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt
Nam (30% - Đây cũng là tổng công ty tham gia liên doanh thành lập Toyota Việt
Nam).
Đến tháng 12 năm 1997, Honda Việt Nam nhanh chóng xuất xưởng chiếc
Super Dream đầu tiên.
Đầu năm 1998, công ty này khánh thành nhà máy đầu tiên. Không chỉ đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, Honda Việt Nam bắt đầu xuất khẩu xe máy sang
Philippines từ năm 2002.
Năm 2008, Honda tiếp tục xây dựng nhà máy xe máy thứ 2 với vốn đầu tư 65
triệu USD.
Kể từ khi xuất hiện tại Việt Nam, nhắc đến xe máy là nhắc đến Honda. Năm
2012, Honda Việt Nam công bố doanh số 1,9 triệu xe. Nếu chỉ tính riêng các hãng
xe máy có vốn FDI, Honda chiếm khoảng 65% thị phần. Về độ phủ, Honda hiện có
tới hơn 640 đại lý ủy quyền (HEAD) trên toàn quốc.
Nam đặt mục tiêu đạt sản lượng 2 triệu xe và sẽ giới thiệu khoảng 10 mẫu xe và
phiên bản mới ra thị trường nhằm thõa mãn hơn nữa nhu cầu của người tiêu dùng.
Sản lượng xuất khẩu xe nguyên chiếc (CBU) đạt 91.000 xe, tăng 179% so với
năm 2014 và tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 245 triệu đô la Mỹ. Trong năm tài
chính 2016, Công ty sẽ đẩy mạnh giá trị xuất khẩu lên 345 triệu đô, tăng 41% so
với năm tài chính 2015.
Trong mảng ô tô, kỳ vừa qua đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ của ngành công
nghiệp ô tô với tổng dung lượng thị trường đạt hơn 172.317 xe, tăng 45% so với kỳ
trước. Riêng với HVN, đây là một năm thành công của khối kinh doanh ô tô, đánh
dấu sản lượng kỷ lục từ trước đến nay với doanh số bán ra 6.610 xe. City và CR-V
tiếp tục chiếm vị trí là một trong những mẫu xe bán chạy nhất trong phân khúc
sedan cỡ nhỏ và phân khúc SUV 5 chỗ tại thị trường Việt Nam.
Năm vừa qua, HVN cũng tích cực mở rộng mạng lưới Đại lý tại khu vực miền
Trung với việc khai trương 2 Đại lý mới: Honda Ô tô Thanh Hóa và Honda Ô tô
Nha Trang. Trong năm tài chính 2016, HVN dự kiến đạt sản lượng bán hàng là
khoảng 7.200 xe tăng thêm 10% cùng với các hoạt động đa dạng như giới thiệu
những phiên bản mới với tính năng nâng cấp và chất lượng hàng đầu, đẩy mạnh
hoạt động lái thử xe, các hoạt động thúc đẩy bán hàng và tăng cường chất lượng
dịch vụ.
Nỗ lực bảo vệ môi trường:
Cuộc thi “Lái xe sinh thái tiết kiệm nhiên liệu” được xem là một sân chơi đầy
sáng tạo và đam mê dành cho các bạn trẻ. Cuộc thi đã thu hút 147 đội tham gia
tranh tài với thành tích ấn tượng là 2.109,512 km/lít – những con số kỷ lục kể từ
khi cuộc thi chính thức được phát động.
12
Trong năm 2015, Honda Việt Nam tổ chức “Ngày hội trồng rừng – Cùng
Coca-Cola (còn được gọi tắt là Coke) là nhãn hiệu nước ngọt được đăng ký năm
1893 tại Mỹ. Cha đẻ của Coca-Cola là dược sĩ John Pemberton và theo cách hiểu
của người dân Mỹ thời kỳ đó Coke (Coca Cola) là một loại thuốc uống. Sau này,
khi mua lại Coca Cola, Asa Griggs Candler - Nhà lãnh đạo tài ba bậc nhất của
Coca Cola đã biến chuyển suy nghĩ của người dân nước Mỹ về hình ảnh của Coca
Cola. Ông cho những người tiêu dùng của mình hiểu thứ "thuốc uống" Coke là một
loại thức uống ngon lành và tươi mát. Cho đến ngày nay, Coca Cola vẫn trung
thành với tiêu chí này của hãng. Hình dạng chai Coca-Cola được đăng ký bảo hộ
năm 1960.
Từ khi được thành lập và đặt trụ sở chính tại Atlanta, bang Georgia, tập đoàn
Coca-cola hiện đang hoạt động trên 200 nước khắp thế giới. Thương hiệu Cocacola luôn là thương hiệu nước ngọt bán chạy hàng đầu và tất cả mọi người trên thế
giới đều yêu thích Coca-cola hoặc một trong những loại nước uống hấp dẫn khác
của tập đoàn. Ngày nay, tập đoàn Coca-cola đã thành công trong công cuộc mở
rộng thị trường với nhiều loại nước uống khác nhau ban đầu là nước có gas, và sau
đó là nước trái cây, nước tăng lực cho thể thao, nước suối, trà và một số loại khác.
Coca-Cola chiếm 3.1% tổng lượng sản phẩm thức uống trên toàn thế giới.
Trong 33 nhãn hiệu nước giải khát không cồn nổi tiếng trên thế giới, Coca-Cola sở
hữu tới 15 nhãn hiệu. Mỗi ngày Coca-Cola bán được hơn 1 tỷ loại nước uống, mỗi
giây lại có hơn 10.000 người dùng sản phẩm của Coca-Cola. Trung bình một người
Mỹ uống sản phẩm của công ty Coca-Cola 4 ngày 1 lần. Coca-Cola hiện đã có mặt
tại tất cả các châu lục trên thế giới và có thể được nhận ra bởi phần lớn dân số thế
giới.
14
Năm 2007, Coca-Cola đã trả cho các nhà cung cấp nguyên vật liệu là 11 tỷ
USD và tiền lương cho 73.000 công nhân là gần 4 tỷ USD. Sản xuất tiêu thụ hết 36
triệu lít nước, 6 tỷ J (Joule/Jun) năng lượng. Có khoảng 1.2 triệu các nhà phân phối
Chủ tịch Coca-Cola Irial Finan từng lên tiếng chê bai năng suất lao động, hiệu quả
lao động ở Việt Nam không hề cao và khiến cho họ gặp nhiều khó khăn trong việc
tuyển dụng, quản lý và doanh thu vì vậy không cao, dẫn đến thua lỗ. kéo dài.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác khiến cho Coca Cola chưa có lãi là số tiền
họ bỏ ra đầu tư cho các nhà máy sản xuất là tương đối lớn và còn một số dự án mở
rộng đang bỏ ngỏ nữa.
Kỳ lạ là Coca Cola vẫn đặt rất nhiều hy vọng vào một thị trường mà đã mang
tới cho họ khoản lỗ gần 4.000 tỷ đồng khi lên kế hoạch rót vào thị trường đó 300
triệu USD cùng tầm nhìn tới năm 2020 là tăng gâp đôi doanh thu.?
Chưa khép lại nghi án về tài chính, Coca Cola lại gặp nhiều “phốt” khác cũng
nặng nề không kém. Trước tiên là việc ăn gian trọng lượng. Nhiều người dùng
phản ảnh, Coca lon luôn nhẹ hơn và cảm giác vơi hơn rất nhiều so với thời gian
trước.
Trọng lượng chuẩn của một lon Coca Cola vào khoảng 350 gam trong khi đó
theo lời của nhiều nhân chứng, những sản phẩm đóng lon của hãng chỉ đạt khoảng
100 gam.
16
Bên cạnh đó, không ít khách hàng phàn nàn về chất lượng của quy trình đóng
lon Coca Cola khi đã có nhiều trường hợp gặp phải dị vật trong lúc thưởng thức đồ
uống số một thế giới.
Người Việt Nam đã từng quá tin tưởng vào bốn chữ “Thương hiệu quốc tế” mà
Coca Cola mang tới. Tuy nhiên, bốn chữ này chỉ đúng về nghĩa đen, thương hiệu
quốc tế không thể đảm bảo cho chất lượng sản phẩm và sự chuyên nghiệp trong
dịch vụ của doanh nghiệp.
3.
Tập đoàn Samsung.
Năm 2013, SEV tiếp tục là doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu Việt Nam với kim
ngạch đạt 23,9 tỉ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Nhà máy thứ hai - SEVT - có tổng vốn đầu tư 2 tỉ USD, công suất thiết kế 100
triệu sản phẩm/năm chính thức đi vào hoạt động vào tháng 3-2014. Dự kiến đến
cuối tháng 12-2014, nhà máy sẽ có 16.000 công nhân viên, đạt công suất 8 triệu
sản phẩm/tháng. Các dự án đầu tư của Samsung không chỉ góp phần vào nâng cao
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước mà
còn góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thông qua các ngành
18
công nghiệp phụ trợ. Hiện nay, hoạt động của khu tổ hợp SEV đang tạo tiền đề cho
hơn 60 nhà thầu sản xuất, cung cấp linh kiện cho Samsung triển khai các hoạt động
đầu tư, sản xuất tại Bắc Ninh và những khu vực lân cận; tạo việc làm và thu nhập
ổn định cho khoảng 80.000 người lao động.
Không chỉ đầu tư hàng tỷ USD cho lĩnh vực điện tử, công nghệ cao, hiện nay
Tập đoàn Samsung đã và đang đầu tư nhiều dự án trọng điểm thuộc các lĩnh vực
như giao thông, điện lực, hạ tầng, bất động sản,... có thể kể các dự án như Nhiệt
điện Vũng áng 3, nhà máy đóng tàu ở Khánh Hoà, Sân bay Long Thành, Lọc dầu
Long Sơn. Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2014
Hàn Quốc đã đầu tư vào 54/63 tỉnh thành phố trên cả nước, trong đó Tập đoàn
Samsung chiếm một phần không hề nhỏ.
Với hàng loạt những dự án đầu tư hàng tỷ USD trong một thời gian tương đối
ngắn, Samsung đã đóng góp tới 30 tỷ USD cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
(2014). Theo kế hoạch, đến năm 2017, tổng số vốn mà Samsung đầu tư vào Việt
Nam sẽ lên tới con số “khủng” 20 tỷ USD. Và trong tương lai, với doanh số xuất
khẩu lớn, các nhà máy của Samsung tại Việt Nam đã thành công khi “biến” Việt
Nam trở thành “cứ điểm” sản xuất điện thoại với quy mô lớn nhất toàn cầu.
Qua khảo sát thực tế tại các nhà máy của Samsung tại Bắc Ninh và Thái
Nguyên, có thể thấy Samsung thực hiện rất tốt các chế độ và quyền lợi đối với
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hay vừa qua, sự việc nổ khí metan đáng
tiếp đã xảy ra nhưng tập đoàn này không hề công bố chính thức thiệt hại về số
người thiệt mạng…
20
V.
1.
Tác động của các công ty đa và xuyên quốc gia tới Việt Nam.
Tích cực
- Góp phần tích cực trong việc thực hiện sự dịch chuyển có cơ cấu kinh tế theo yêu
cầu CNH-HĐH đất nước.
- Tham gia tích cực vào việc duy trì nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định cho nền
kinh tế, mở rộng xuất khẩu tăng nguồn ngân sách.
- Góp phần tạo ra nhiều sản phẩm và chất lượng công nghệ cao, trong đó có nhiều
hàng thay thế nhập khẩu nên tiết kiệm nguồn ngoại tệ cho đất nước.
- Tiến hành giải quyết số lượng lớn lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực
cho đất nước.
- Là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp chuyển đổi sang kinh tế thị trường mở
cửa và hội nhập quốc tế của VN.
Các TNC ngày càng có tác động tích cực đối với sự nghiệp cải cách và đổi
mới nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa trong điều
kiện vốn tích lũy trong nước còn thấp, do đó phải tìm mọi biện pháp để khai thác
nguồn vốn nước ngoài như thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay nợ,
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), các khoản viện trợ… Sự hiện diện
của các TNCs đồng nghĩa với việc cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho sự
nghiệp công nghiệp hóa của đất nước. Hơn thế, sự đầu tư của các công ty nước
- Dễ mất cân đối giữa các ngành, các vùng kinh tế
- Tăng sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước
- Gây ô nhiễm môi trường
22
Các TNC đầu tư vào bất kỳ một nước nào đều với mục tiêu khai thác những
thế mạnh của nước đó để thu được lợi nhuận. Vì vậy sự có mặt của TNC tạo ra một
số bât cập như ô nhiễm môi trường sinh thái, nền kinh tế tăng trưởng không đều…
Ở Việt Nam cũng vậy, cái lợi trước mắt là kinh tế phát triển nhưng đằng sau nó còn
tồn tại một số vấn đề cần bàn. Các TNC chú trọng đầu tư vào những ngành có tỷ
suất lợi nhuận cao như điện tử, dầu khí, dệt may…làm cho các lĩnh vực khác yêu
cầu đầu tư dài hạn, chuyển vốn chậm, lãi xuất ít không thu hút được nhiều dự án sẽ
chậm đổi mới công nghệ, tạo khoảng cách khá xa so với các ngành khác. Một số
TNC dựa vào ưu thế về vốn lớn, kỹ thuật để thao túng và gây hậu quả xấu cho liên
doanh thâm chí còn gây sức ép với các cơ quan Nhà nước. Các TNC thuê lao động,
mua nguyên liệu với giá rẻ, buộc Chính phủ Việt Nam phải chấp nhận điều kiện có
lợi cho phía TNC. Cũng còn không ít tình trạng lao động Việt Nam làm việc trong
các công ty của nước ngoài phải chịu áp lực lớn, cường độ lao động cao, không
đảm bảo sức khỏe.
VI.
Khuyến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TNCs
tại Việt Nam
Đối với Việt Nam, việc thu hút vốn đầu tư của các TNC đã góp phần quan
trọng trong việc giúp chúng ta xây dựng những cơ sở vật chất – kỹ thuật ban đầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên quá trình này
cũng đang đặt Việt Nam trước những cơ hội và thách thức lớn. Cơ hội – đó là khả
năng có them nguồn vốn bổ sung quan trọng để giúp chúng ta có thể khai thác
nghĩa trong việc thu hút, tiếp nhận đầu tư từ các TNC, vừa là cách tốt nhất để thực
hiện đầu tư ra nước ngoài.
2.
Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy nâng cao năng lực quản
lý vĩ mô của Nhà Nước
Đây là nhân tố giữ vai trò quyết định trong việc tạo lập môi trường thu hút
và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.
24
Bởi mọi hoạt động thu hút và triển khai các dự án đầu tư đều có liên quan
trực tiếp tới cơ chế điều hành và quản lý của nước chủ nhà. Nếu cơ chế quản lý tốt
sẽ tạo được sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư của
nước ta. Ngược lại, nếu cơ chế quản lý chậm được hoàn thiện và không phát huy
được đầy đủ vai trò quản lý của nó sẽ là trở lực lớn đối với việc thu hút đầu tư
nước ngoài, nhất là các TNC tầm cỡ thế giới. Vì công ty xuyên quốc gia là sản
phẩm của nền kinh tế hiện đại, hoạt động thị trường theo những quy tắc, thong lệ
và thể chế quốc tế, nên khi đầu tư vào bất cứ nước nào, chúng rất cần một môi
trường đầu tư đồng dạng để hoạt động. Do vậy, muốn thu hút được vốn đầu tư từ
các TNC loại này thì cần phải chú trọng đến xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý
và điều hành của bộ máy quản lý Nhà Nước, để vừa tăng sức hấp dẫn đầu tư, vừa
thực hiện hiệu quả việc quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài.
Trong nhiều năm qua, Nhà Nước ta đã có những tiến bộ trong công tác điều
hành quản lý đất nước nói chúng và trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài nói
riêng. Cơ chế quản lý ngày càng thông thoáng hơn. Tuy nhiên, sự cải tiên đổi mới
này chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong lĩnh
vực quản lý đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều ách tắc cản trở. Vì vậy, việc đổi mới
cơ chế quản lý, nâng cao năng lực quản lý của Nhà Nước là những vấn đề cấp thiết