Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Chúng ta bớc sang thế kỷ 21- thế kỷ của sự phát triển tột bậc khoa
học, công nghệ và thông tin. Mọi thành tựu khoa học đợc ứng dụng nhanh
chóng vào mọi lĩnh vực nhng nhạy cảm nhất là lĩnh vực kinh tế. Sự cạnh
tranh để tồn tại và độc quyền là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nỗ lực
tìm kiếm, phát minh, sáng kiến về máy móc và quản lý.
Trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp
hiện nay cùng với quá trình mở cửa, sự cạnh tranh trên thị trờng ngày càng
gay gắt, quyết liệt của ngời tiêu dùng trong và ngoài nớc buộc các nhà kinh
doanh cũng nh các nhà quản lý phải hết sức coi trọng vấn đề tiêu thụ sản
phẩm. Chức năng cơ bản của doanh nghiệp sản xuất là sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm. Sản phẩm là kết qủa cuối cùng của qúa trình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh của một chu kỳ nhng đây lại là khâu quan trọng nhất vì tiêu thụ sản
phẩm giúp cho các doanh nghiệp thu hồi vốn, tìm kiếm lợi nhuận. Khi quá
trình tiêu thụ đợc thực hiện trôi chảy tức là doanh nghiệp đang thực hiện tái
sản xuất một cách thờng xuyên liên tục nhng không phải doanh nghiệp nào
cũng có thể làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm. Nếu sản phẩm sản xuất ra
không đợc thị trờng thì dần dần doanh nghiệp sẽ đi đến phá sản, đó là điều
tất yếu mà không một doanh nghiệp nào muốn. Chính vì vậy các nhà sản
xuất kinh doanh không ngừng hoàn thiện việc quản lý công tác tiêu thụ sao
cho có thể đứng vững trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trờng.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm ? Đó là
cả một quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình mọi mặt của
doanh nghiệp mình. Trên cơ sở đó các nhà doanh nghiệp có thể đa ra các
biện pháp quản lý sáng suốt, linh hoạt, nhậy bén để có hớng đi đúng đắn,
phù hợp với tình hình hiện nay. Làm tốt đợc điều đó có nghĩa là doanh
nghiệp đã khẳng định đợc sự tồn tại và phát triển của mình, ngợc lại nếu
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng 1:
Tiêu thụ sản phẩm và sự cần thiết phải đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp.
I/ Những vấn đề cơ bản về công tác tiêu thụ sản phẩm ở các doanh
nghiệp:
1/ Khái niệm và nội dung của tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu
thụ sản phẩm:
1.1/ Khái niệm và nội dung của tiêu thụ sản phẩm:
Cùng với việc đa dạng hoá các thành phần kinh tế, ngày càng xuất
hiện nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Các
doanh nghiệp này cùng sản xuất hàng hoá, cùng tồn tại, cạnh tranh lẫn
nhau và bình đẳng trớc pháp luật. Vì vậy, để có khả năng cạnh tranh trên
thị trờng và phát triển thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp phải đạt hiệu quả. Do đó, thay cho việc trớc đây các doanh nghiệp
chỉ lo sản xuất đủ kế hoạch giao nộp cho nhà nớc là việc ngày nay các
doanh nghiệp không chỉ sản xuất sản phẩm mà còn phải tìm cách tiêu thụ
số sản phẩm đó. Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với doanh
nghiệp bởi vì nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình đơn vị bán xuất giao hàng hoá, sản
phẩm cho đơn vị mua và đơn vị mua thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận
việc thanh toán tiền hàng theo giá thoả thuận giữa đơn vị bán và đơn vị mua
về số lợng hàng hoá, sản phẩm đã xuất giao.
Đứng trên giác độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ sản phẩm là một quá
trình chuyển hoá hình thái giá trị của vốn từ hình thái là sản phẩm hàng hoá
sang hình thái tiền tệ. Đây cũng là giai đoạn kết thúc quá trình luân chuyển
của vốn, làm cho vốn trở lại hình thái ban đầu khi nó bớc vào mỗi chu kỳ
sản xuất. Thật vậy, quá trình tái sản xuất đợc bắt đầu từ những đồng vốn mà
nhà sản xuất bỏ ra để mua các yếu tố đầu vào của sản xuất nh : công cụ
lao động, đối tợng lao động và sức lao động. Lúc này vốn bằng tiền đợc
ngay. Khi đó lợng hàng hoá xuất giao đợc xác định ngay là tiêu thụ, đồng
thời doanh thu bán hàng và tiền bán hàng cũng đợc xác định. Trờng hợp
này doanh thu tiêu thụ sản phẩm và tiền bán hàng trùng nhau về thời điểm
thực hiện.
Trờng hợp 2: Doanh nghiệp xuất giao hàng hoá đơc khách hàng chấp
nhận thanh toán nhng cha trả tiền ngay. Lúc này doanh thu tiêu thụ đợc xác
định nhng tiền bán hàng cha thu đợc về.
Trờng hợp 3: Doanh nghiệp đã xuất giao đủ hàng cho khách hàng
theo số tiền mà khách hàng trả trớc. Khi đó tiền ứng trớc trở thành tiền thu
bán hàng của doanh nghiệp và doanh thu tiêu thụ cũng đợc xác định ở thời
điểm này.
Trờng hợp 4: Doanh nghiệp thu đợc tiền hoặc đợc chấp nhận thanh
toán về số hàng đã gửi bán hoặc giao cho đại lý. Trờng hợp này tiền thu bán
hàng đợc xác định nhng do việc giao hàng và thanh toán cách nhau khá xa
nên hay có sự nhầm lẫn trong việc xác định doanh thu tiêu thụ kỳ hạch toán
này và kỳ hạch toán khác.
Trờng hợp 5: Doanh nghiệp bán hàng với phơng thức trả góp thid
doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng đợc xác định ngay nhng tiền bán hàng
chỉ thu đợc một phần, phần còn lại sẽ đợc trả dần vào các kỳ sau.
1.2/ Nội dung doanh thu tiêu thụ sản phẩm:
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất là
quá trình doanh nghiệp dùng tiền để mua sắm nguyên vật liệu và những yêú
tố đầu vào khác cần thiết cho sản xuất, tiến hành sản xuất sản phẩm, tiêu
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thụ sản phẩm và thu đợc tiền về là tạo nên doanh thu tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm gồm hai nhóm:
- Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Doanh thu từ các hoạt động khác.
*Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Doanh thu bán
ởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể làm cho doanh
nghiệp hoặc phát triển mạnh lên hoặc khiến doanh nghiệp không đủ sức
cạnh tranh trên thị trờng và đi dần đến sự phá sản.
2/ Các nhân tố ảnh h ởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm và doanh
thu tiêu thụ sản phẩm:
Việc tiêu thụ sản phẩm và có doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp
chịu ảnh hởng của một số nhân tố chủ yếu đó là: đặc điểm sản xuất kinh
doanh của từng ngành nghề, khối lợng sản phẩm sản xuất đa ra tiêu thụ, kết
cấu sản phẩm hàng hoá đa ra tiêu thụ, chất lợng sản phẩm hàng hoá sản
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuất, giá bán sản phẩm, công tác tổ chức bán hàng và thị trờng tiêu thụ sản
phẩm.
2.1/ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề:
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành có khác nhau nên
việc tiêu thụ sản phẩm có những đặc trng riêng, do đó doanh thu cũng phụ
thuộc vào đặc điểm sản xuất. Trong ngành công nghiệp, do sản phẩm sản
xuất đa dạng, nhất là những sản phẩm tiêu dùng, dựa trên trình độ kỹ thuật
cao, việc sản xuất ít bị lệ thuộc vào thiên nhiên và thời vụ, sản phẩm tiêu
thụ nhanh do đó tiền thu bán hàng cũng nhanh hơn và thờng xuyên hơn.
Trong ngành nông nghiệp, sản xuất lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên và sản xuất mang tính thời vụ cho nên việc tiêu thụ sản phẩm cũng
theo thời vụ tập trung chủ yếu vào mùa thu hoạch. Do đó doanh thu tiêu thụ
sản phẩm trong năm của doanh nghiệp thờng tập trung vào vụ thu hoạch
còn ngành xây dựng cơ bản thì khác biệt rõ rệt so với hai ngành trên. Đó là
sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, thời gian thi công kéo dài, nên việc
tiêu thụ cũng chỉ là những sản phẩm cá thể, tuỳ thuộc vào từng công trình
cụ thể. Do đó, doanh thu cũng phụ thuộc vào thời gian và tiến độ hoàn
thành công việc.
2.2/ Khối l ợng sản phẩm sản xuất và đ a ra tiêu thụ:
ơng đối cao, song cũng có những mặt hàng chi phí sản xuất tơng đối nhiều
mà giá bán lại thấp. Đôi khi không tránh khỏi mặt hàng có chất lợng cao
nhng không còn đợc a chuộng, trong khi có những mặt hàng chất lợng vừa
phải, giá bán cao nhng tiêu thụ vẫn mạnh vì nó còn phù hợp với thị hiếu ng-
ời tiêu dùng. Do đó, việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất cũng ảnh hởng
nhiều đến doanh thu. Tuy nhiên, ta cũng thấy rằng, mỗi loại sản phẩm đều
có tác dụng nhất định trong việc thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, cho
nên doanh nghiệp cũng không thể tự thay đổi kết cấu sản phẩm sản xuất đa
ra tiêu thụ đợc. Vì vậy, việc nắm vững nhu cầu thị trờng đối với mỗi doanh
nghiệp là một việc hết sức cần thiết, nó làm căn cứ để đa ra kết cấu sản
phẩm hợp lý nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm nếu không hàng
hoá sẽ bị ế ẩm, tồn đọng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải không ngừng
nghiên cứu tìm tòi, cho ra đời những sản phẩm mới u việt hơn, thay thế cho
những sản phẩm đã bị lỗi thời để đối phó với sự biến động của thị trờng.
2.4/ Chất l ợng sản phẩm hàng hoá sản xuất:
Chất lợng sản phẩm là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng
trong cạnh tranh. Việc sản xuất gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất
lợng sản phẩm. Chất lợng sản phẩm đợc nâng cao không những có ảnh h-
ởng tới giá bán sản phẩm mà còn ảnh hởng tới khối lợng tiêu thụ, do đó nó
ảnh hởng trực tiếp tới doanh thu. Có thể nói chất lợng sản phẩm là một vũ
khí cạnh tranh sắc bén có thể đè bẹp các đối thủ trên thị trờng. Chính vì
vậy, các doanh nghiệp muốn quảng cáo cho sản phẩm của mình thì luôn
phải đa quảng cáo về chất lợng lên hàng đầu.
Chất lợng sản phẩm tốt không chỉ thu hút khách hàng, làm tăng khối l-
ợng sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao giá
bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn tiêu thụ đợc. Nếu tiêu thụ đợc dễ
dàng thì doanh nghiệp sẽ nhanh chóng thu đợc tiền bán hàng. Ngợc lại, nếu
chất lợng sản phẩm kém thì việc tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, cả khi giá bán rẻ
vẫn không đợc ngời tiêu dùng chấp nhận.
Nâng cao chất lợng sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo uy
giá bán của sản phẩm phải bù đắp đợc phần t liệu, vật chất đa vào sản xuất,
trả lơng hay tiền công cho ngời lao động và có lợi nhuận để thực hiện tái
sản xuất giản đơn và mở rộng.
2.6/ Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp: Bao gồm nhiều
mặt:
*Về hình thức bán hàng: Một doanh nghiệp nếu áp dụng tổng hợp các
hình thức bán hàng nh bán buôn, bán lẻ, bán hàng tại kho của doanh
nghiệp, tại kho của khách hàng, bán tại cửa hàng...tất nhiên sẽ tiêu thụ đợc
nhiều sản phẩm hơn một doanh nghiệp khác chỉ áp dụng một hình thức bán
hàng.
Để mở rộng và chiếm lĩnh thị trờng, các doanh nghiệp còn có thể tổ
chức mạng lới các đại lý phân phối sản phẩm. Khi các đại lý này đợc mở
rộng và hoạt động có hiệu quả sẽ nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp và
tăng thị phần của doanh nghiệp. Ngợc lại, khi các đại lý hoạt động kém
hiệu quả sẽ dẫn tới việc giảm sút doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
* Về mặt tổ chức thanh toán: Doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều ph-
ơng thức thanh toán khác nhau nh: thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản,
thanh toán hàng đổi hàng, thanh toán ngay...Với các hình thức thanh toán
đa dạng đó sẽ làm cho khách hàng cảm thấy thoải mái và có thể lựa chọn
cho mình phơng thức thanh toán thuận lợi nhất do đó có thể thu hút đợc
đông đảo khách hàng đến với doanh nghiệp, khi đó sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ tiêu thụ đợc nhiều hơn. Nếu doanh nghiệp chỉ áp dụng một phơng
thức thanh toán nào đó thì sẽ dẫn đến khả năng phơng thức đó chỉ phù hợp
với khách hàng này nhng lại không phù hợp với khách hàng khác.
Mặt khác, nếu doanh nghiệp có những hình thức khuyến khích khách
hàng thanh toán nhanh, thanh toán ngay bằng việc chiết khấu bán hàng thì
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cũng sẽ thu hút đợc khách hàng nhiều hơn, đẩy mạnh đợc tốc độ tiêu thụ
sản phẩm và đó chính là đòn bẩy kích thích việc tiêu thụ sản phẩm.
phối lợng sản phẩm hợp lý cho từng thị trờng. Từ đó doanh nghiệp có thể
tăng khối lợng sản phẩm tiêu thụ và tránh tình trạng nơi thừa, nơi thiếu.
Qua nghiên cứu thị trờng, doanh nghiệp có thể nắm bắt đợc nhu cầu,thị
hiếu của từng bộ phận thị trờng để bố trí kết cấu sản phẩm tiêu thụ phù hợp
với từng bộ phận đó.
Những nhân tố chủ yếu trên đây có ảnh hởng trực tiếp tới quá trình
tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ l-
ỡng những nhân tố này để từ đó tìm ra những biện pháp cần thiết để đẩy
mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay.
3/ Lập kế hoạch doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp:
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối mặt với tình hình thị trờng cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh
nghiệp đều phải lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Chỉ tiêu kế hoạch doanh
thu tiêu thụ sản phẩm cũng là một chỉ tiêu tài chính, nó cho biết khả năng
của việc tiếp tục quá trình tái sản xuất của một doanh nghiệp.. Kế hoạch
này lập có chính xác hay không cũng ảnh hởng tới kế hoạch lợi nhuận và
các bộ phận kế hoạch khác. Chính vì vậy, cần phải quan tâm và không
nhgừng cải tiến việc lập chỉ tiêu kế hoạch này.
- Căn cứ lập kế hoạch doanh thu: Để lập kế hoạch doanh thu bán
hàng là dựa vào các đơn đặt hàng và các hợp đồng kinh tế đã đợc ký kết với
các đơn vị khác. Doanh nghiệp có thể lập kế hoạch doanh thu bán hàng dựa
trên các kết quả nghiên cứu thị trờng đối với từng loại sản phẩm hàng hoá
của doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp có thể căn cứ vào tình hình tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá thực tế của một vài năm trớc, căn cứ vào khả năng
sản xuất của doanh nghiệp trong năm kế hoạch để lập kế hoạch doanh thu
tiêu thụ sản phẩm.
- Nội dung của kế hoạch doanh thu: doanh thu tiêu thụ sản phẩm
phụ thuộc vào số lợng sản phẩm tiêu thụ và giá bán đơn vị sản phẩm kỳ kế
phải dự tính theo công thức sau:
Sd = S
3
+ Sx
4
- St
4
Trong đó:
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
S
3
: số lợng sản phẩm kết d thực tế cuối quý III kỳ báo cáo.
Sx
4
: số lợng sản phẩm dự tính sản xuất trong quý IV kỳ báo cáo.
St
4
: số lợng sản phẩm dự tính tiêu thụ trong quý IV kỳ báo cáo.
Đối với việc xác định số lợng sản phẩm kết d cuối kỳ kế hoạch(Sci),
để cho đơn giản và nhanh chóng doanh nghiệp có thể căn cứ vào tình hình
sản xuất, tiêu thụ, tình hình thị trờng hoặc căn cứ vào số kết d thực tế của
những năm trớc để tính ra số kết d cuối kỳ bình quân của từng loại sản
phẩm.
4/ Một số biện pháp đ ợc sử dụng trong công tác tiêu thụ để đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm hiện nay:
4.1/ Đẩy mạnh sản xuất sản phẩm, nâng cao chất l ợng, hình thức,
mẫu mã sản phẩm:
Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc
đẩy mạnh tốc độ sản xuất sản phẩm. Việc đẩy mạnh tốc độ sản xuất sản
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trớc sự ảnh hởng to lớn của giá bán sản phẩm đến việc tiêu thụ sản
phẩm, các doanh nghiệp đã sử dụng giá cả hàng hoá rất linh hoạt. Mỗi
doanh nghiệp có thể định giá theo cách riêng của mình. Khi một mặt hàng
mới đợc đa ra thị trờng mà doanh nghiệp cha có đối thủ cạnh tranh thì
doanh nghiệp có thể bán với giá cao nhng đến khi trên thị trờng xuất hiện
sản phẩm cùng loại thì doanh nghiệp lại hạ thấp giá bán để đẩy nhanh tốc
độ tiêu thụ sản phẩm, nhanh chóng thu hồi vốn. Nhiều khi sản phẩm đa ra
thị trờng không còn mới lạ nhng vì lý do nào đó khiến nhu cầu tăng vọt lên,
lúc đó doanh nghiệp có thể tăng giá bán rất cao mà vẫn tiêu thụ đợc sản
phẩm một cách mạnh mẽ. Ngợc lại, do cung lớn hơn cầu hoặc vì lý do nào
đó khiến việc tiêu thụ tạm thời chậm lại vì vậy doanh nghiệp cũng lại nhanh
chóng hạ thấp giá bán.
Việc giảm giá trong tiêu thụ sản phẩm cũng đợc các doanh nghiệp rất
chú trọng, có nhiều hình thức giảm giá: giảm giá trong trờng hợp khách
hàng mua một khối lợng sản phẩm hoặc với khách hàng mua thờng xuyên;
giảm giá theo khối lợng sản phẩm; giảm giá nhằm thu hồi vốn đối với
những sản phẩm đã tồn kho cha tiêu thụ đợc; giảm giá trong kỳ ngắn hạn.
Ngoài hình thức giảm giá hàng bán, doanh nghiệp còn áp dụng phơng
thức chiết khấu bán hàng để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Chiết khấu bán
hàng là việc doanh nghiệp khấu trừ cho khách hàng một số tiền tơng ứng
với một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên trị giá số hàng hoá đã mua của
doanh nghiệp nhằm khuyến khích những khách hàng thanh toán nhanh trớc
thời hạn. Làm nh vậy doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh đa vào tái sản
xuất.
Việc sử dụng chiết khấu bán hàng cũng là một biện pháp quan trọng
nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm. Có những tỷ lệ chiết khấu
thích hợp sẽ hấp dẫn đợc khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp
nh vậy tiêu thụ mới thuận lợi và nhanh chóng thu hồi đồng vốn đã bỏ vào
mạnh việc tiêu thụ sản phẩm của mình. Chẳng hạn việc bán sản phẩm cho
khách hàng thì phải đảm nhận dịch vụ vận tải, vận chuyển cho khách hàng
với một khối lợng sản phẩm lớn, hoặc trong trờng hợp mua ít thì chỉ đợc
giảm giá cớc phí hoặc phải chịu tiền cớc phí. Ngoài ra doanh nghiệp còn áp
dụng các hình thức khuyến mại bán hàng vào các dịp khai trơng, ngày lễ,
tết...hoặc các hình thức tặng quà kèm theo khi mua sản phẩm của doanh
nghiệp.
Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp còn thực hiện việc quay sổ xố, vé
tham gia dự thởng và các hình thức tài trợ giải thởng cho các cuộc thi lớn,
thu hút nhiều khán giả trong và ngoài nớc tham dự nhằm mục đích quảng
cáo cho hãng và sản phẩm của hãng. Điều này hoàn toàn hấp dẫn khách
hàng và với khách hàng có nhu cầu nhng cha có ý định mua thì sẽ cố gắng
mua vào dịp này để có đợc cơ may và lúc đó doanh nghiệp đã thành công
trong tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn sử dụng phơng pháp phát sản phẩm
dùng thử, biếu tặng sản phẩm nh các hãng mỹ phẩm và các hãng sản xuất
hàng tiêu dùng nhỏ khác.
Tuy nhiên, việc sử dụng biện pháp nào cho có hiệu quả và phù hợp thì
doanh nghiệp phải phân tích, đánh giá đúng tình hình sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình, nghiên cứu kỹ tình hình thị trờng, các đối thủ cạnh tranh
trên cơ sở đó đề ra những giải pháp tối u cho việc đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm.
II/ Sự cần thiết và vai trò của công tác tài chính đối với việc đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm:
1/ Sự cần thiết của hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất nhng nhiều
khi là khâu quyết định. Các doanh nghiệp chỉ sau khi tiêu thụ đợc sản phẩm
mới có thể thu hồi đợc vốn để tiếp tục quá trình tái sản xuất kinh doanh.
Tiêu thụ sản phẩm bảo đảm quá trình sản xuất đợc liên tục là điều kiện tồn
tại và phát triển của xã hội.
nghiệp đều không ngừng tìm mọi biện pháp để đẩy nhanh tiêu thụ sản
phẩm. Mọi nỗ lực cố gắng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều đợc
đánh giá, thể hiện qua khả năng và hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản
phẩm. Công tác tiêu thụ sản phẩm có những vai trò rất quan trọng, đó là:
- Làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản
xuất phát triển cân đối, đáp ứng nhu cầu xã hội. Ngợc lại sản phẩm không
tiêu thụ đợc sẽ làm cho sản xuất ngừng trệ, sản phẩm không có giá trị sử
dụng.
- Việc đảm bảo chất lợng sản phẩm, giá cả hợp lý của sản phẩm là
những vấn đề vô cùng quan trọng quyết định đến công tác tiêu thụ sản
phẩm nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung. Vì vậy doanh
nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trờng về cung cầu hàng hoá, giá cả,
đối thủ cạnh tranh...đồng thời không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất,
đầu t chiều sâu để nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá bán. Trên ý nghĩa
đó, tiêu thụ sản phẩm đợc coi là một biện pháp để điều tiết sản xuất, định h-
ớng cho sản xuất, là tiêu chuẩn để đánh giá quá trình tổ chức sản xuất, cải
tiến công nghệ.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Việc tổ chức hợp lý hoá khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ
giảm tới mức thấp nhất các loại chi phí, góp phần làm giảm giá thành tới
tay ngời tiêu dùng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên th-
ơng trờng.
- Tiêu thụ sản phẩm góp phần củng cố vị trí, thế lực của doanh nghiệp,
nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng thông qua sản phẩm
có chất lợng tốt, giá cả phải chăng, phơng thức giao dịch mua bán thuận
tiện, dịch vụ bán hàng tốt...giúp doanh nghiệp thành công trên thơng trờng.
Thực hiện tốt các khâu của quá trình tiêu thụ giúp cho doanh nghiệp có thể
tiêu thụ đợc khối lợng sản phẩm lớn và lôi cuốn thêm khách hàng, không
ngừng mở rộng thị trờng.
I/ Tình hình và đặc điểm hoạt động kinh doanh ở Công ty Da giầy
Hà nội:
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1/ Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty Da giầy Hà nội:
1.1/ Lịch sử hình thành phát triển:
Công ty Da giầy Hà nội ngày nay tiền thân là nhà máy da Thụy Khuê
do một nhà t bản Pháp đầu t xây dựng năm 1912 theo thiết kế của Pháp với
nhiệm vụ sản xuất da thuộc, các sản phẩm chế biến từ da phục vụ cho các
ngành công nghiệp đặc biệt là phục vụ cho cuộc chiến tranh của thực dân
Pháp.
Từ khi thành lập cho đến nay nhà máy đã trải qua quá trình hình thành
phát triển khá dài có một số thay đổi trong nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
cũng nh tên gọi và cơ quan chủ quản.
-Từ năm 1912-1954, một t bản đã đầu t vào ngành thuộc da và thành
lập công ty thuộc da Đông Dơng- một công ty thuộc da lớn nhất Đông D-
ơng thời đó. Nhiệm vụ sản xuất thời kỳ này là sản xuất ra sản phẩm phục vụ
cho chiến tranh nh bao súng, bao đạn, thắt lng...Lúc này quy mô hoạt động
của công ty còn nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu. Máy móc đợc đa từ
Pháp sang, điều kiện lao động thì ẩm ớt, độc hạị...Sản lợng đạt khoảng
5000 -> 6000 da /1năm.
-Giai đoạn từ 1954 ->1960, Công ty thuộc da Đông dơng nhợng lại cho
t sản Việt Nam. Sau đó Nhà nớc quốc hữu hoá một phần chuyển thành xí
nghiệp công ty hợp doanh lấy tên là Công ty thuộc da VN .
-Giai đoạn từ 1960 -> 1987, Công ty thuộc da Việt Nam từ một công ty
hợp doanh mang tên mới Nhà máy da Thụy Khuê trực thuộc công ty tạp
phẩm của Bộ công nghiệp nhẹ. Trong giai đoạn này Công ty đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ cung cấp da công nghiệp phục vụ các ngành công nghiệp
trong nớc. Đây là giai đoạn phát triển nhất của công ty. Số lợng công nhân
lúc này lên tới 600 ngời, sản lợng tăng vọt từ 5,3 tỷ năm 1986 lên tới 6,7 tỷ
Một số chỉ tiêu công ty đã đạt đợc trong những năm gần đây:
stt chỉ tiêu đvt 1999 2000 2001
1
2
3
4
5
6
Giá trị tổng sản lợng
Doanh thu
Nộp ngân sách
Lợi nhuận thực hiện
Vốn kinh doanh :
Vốn cố định
Vốn lu động
Thu nhập bình quân CNV
tỷ
-
-
-
-
-
-
1000
đ
9,2
8,76
0,788
2,012
17
Vải Cao su
Cách luyện
May
Chặt mảnh
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
b/ Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Để phù hợp với quy trình công nghệ sản xuất 3 loại sản phẩm Công ty
tổ chức 4 phân xởng và 1 xởng giầy vải với những nhiệm vụ cụ thể:
- Phân xởng da keo: Đây là phân xởng sản xuất chính. Nguyên vật
liệu chính đa vào sản xuất là các loại da trâu, bò tơi hoặc da muối, vật liệu
sử dụng là các hoá chất. Sản phẩm của phân xởng là các loại da cứng, da
mềm, keo công nghiệp.
- Phân xởng chế biến I: Chế biến các mặt hàng đồ da phục vụ công
nghiệp dệt nh gông, takê, dây cu roa...và một số khác phục vụ cho quốc
phòng nh dây đeo, bao súng, bao đạn... Nguyên vật liệu chính của phân x-
ởng này là da cứng, da mềm lấy từ phân xởng da keo.
- Phân xởng chế biến II: Từ nguyên liệu là da mềm, da cứng do phân
xởng da keo cung cấp.Phân xởng chế biến ra các sản phẩm phục vụ cho tiêu
dùng dân dụng và quốc phòng: đóng giầy, máy găng.
-Phân xởng cơ khí: Đây là phân xởng sản xuất phụ có nhiệm vụ cung
cấp lao vụ cho các phân xởng chính đồng thời tận dụng các loại phế liệu
phế phẩm để sản xuất ra các sản phẩm cung cấp cho thị trờng. Có 3 bộ
phận: Bộ phận cơ khí, bộ phận mộc nề, tổ nồi hơi.
- Xởng giầy: Bao gồm các bộ phận cắt may, gò ráp và hoàn thiện.
Nguyên vật liệu chủ yếu của xởng giầy là vải và cao su.
mối quan hệ giữa các phân xởng theo sơ đồ sau:
Bộ phận cơ khí
Cơ khí Mộc nề Nồi hơi
18