Một số biện pháp kích thích tính tích cực vận động cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi thừa cân thông qua trò chơi vận động dân gian - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em hôm nay – thế giới ngày mai, trẻ em là hạnh phúc của gia đình,
tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc và giáo dục, được tồn tại
và phát triển, được chấp nhận và yêu thương trong cộng đồng. Khi giá trị con
người ngày càng được nhận thức đúng đắn và đánh giá một cách toàn diện sâu
sắc thì công tác chăm sóc giáo dục trẻ em trước tuổi đi học ngày càng mang ý
nghĩa nhân văn cụ thể, càng trở thành đạo lý của thế giới văn minh.
Giáo dục mầm non là bậc thang đầu tiên trong sự nghiệp giáo dục con
người ở Việt Nam, trong đó giáo dục phát triển thể chất cho trẻ em là nội
dung quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển thể lực, góp phần thúc đẩy sự
phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
giáo dục thể chất cho trẻ, nhiệm vụ cơ bản của ngành giáo dục mầm non là
đào tạo ra những con người thông minh, năng động, sáng tạo, có sức khỏe và
lòng nhiệt tình cao để thích ứng với sự phát triển chung của đất nước.
Trẻ em lứa tuổi mầm non còn nhỏ, cơ thể non nớt nên trẻ phụ thuộc
nhiều vào người lớn và đặc biệt cần sự giúp đỡ của họ. Người lớn giữ vai trò
là người tổ chức, hướng dẫn, trợ giúp trẻ, tạo cơ hội và cơ may cho trẻ trong
cuộc sống hiện tại và trong tương lai. Chính vì vậy, người lớn cần lựa chọn
phương pháp tác động phù hợp với từng trẻ khác nhau nhằm phát triển thể
chất cho trẻ. Quá trình tác động sư phạm muốn có hiệu quả thì những tác
động đó phải phù hợp với đặc điểm bên trong của mỗi đứa trẻ. Khả năng của
cơ thể, sức khỏe, sự phát triển thể lực của trẻ cùng lứa tuổi có sự khác nhau,
đặc biệt là đối với trẻ bị thừa cân.

1


Thừa cân đang là mối quan tâm của toàn cầu, trước thế kỷ XX chứng
thừa cân được coi là hiếm gặp nhưng đến năm 2000, Tổ chức y tế thế giới

cân thông qua trò chơi vận động dân gian”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp kích thích tính tích cực
vận động cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thừa cân thông qua trò chơi vận động dân
gian.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp kích thích tính tích cực vận động cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thừa cân thông qua trò chơi vận động dân gian.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình kích thích tính tích cực vận động cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
thừa cân thông qua trò chơi vận động dân gian.
4. Giả thuyết khoa học
Trò chơi nói chung và trò chơi vận động dân gian (TCVĐDG) nói
riêng là phương tiện hữu hiệu nhằm nâng cao tính tích cực vận động cho trẻ
thừa cân. Hiệu quả giáo dục của TCVĐDG trong việc kích thích tính tích
cực vận động cho trẻ mẫu giáo (MG) 5 - 6 tuổi thừa cân phụ thuộc vào các
biện pháp tổ chức của người lớn.
Nếu giáo viên sử dụng một số biện pháp kích thích tính tích cực vận
động cho trẻ MG 5-6 tuổi thừa cân thông qua TCVĐDG một cách khoa học,
hợp lý thì việc kích thích tính tích cực vận động cho trẻ thừa cân sẽ đạt hiệu
quả cao hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về một số biện pháp nhằm kích thích
tính tích cực vận động cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thừa cân thông qua TCVĐDG.
5.2. Điều tra thực trạng sử dụng biện pháp kích thích tính tích cực vận
động cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thừa cân thông qua TCVĐDG.
3


5.3. Đề xuất một số biện pháp kích thích tính tích cực vận động cho trẻ

- Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với giáo viên để tìm hiểu những biện pháp mà giáo viên thường
sử dụng nhằm kích thích tính tích cực vận động cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
thừa cân thông qua TCVĐDG.

5


Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu khả năng vận động của trẻ thừa cân trong
quá trình tham gia các TCVĐDG.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tìm hiểu và tổng kết kinh nghiệm của một số giáo viên MG về vấn đề
kích thích tính tích cực vận động cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thừa cân thông qua
TCVĐDG nhằm làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp nhằm kích
thích tính tích cực vận động cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thừa cân thông qua
TCVĐDG.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả
của các biện pháp đề xuất.
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí số liệu một cách
khách quan, khoa học để có được kết quả nghiên cứu của luận văn.
8. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng việc kích thích tính tích cực vận động cho trẻ MG
5 - 6 tuổi thừa cân thông qua TCVĐDG ở 7 trường mầm non thuộc tỉnh Bình
Phước.
- Đề xuất một số biện pháp kích thích tính tích cực vận động cho trẻ MG
5 – 6 tuổi thừa cân thông qua TCVĐDG.
9. Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu

không tốt), tập làm quen có ý thức khi vận động, có tính kỷ luật, thật thà, biết
tự kiềm chế.Trò chơi vận động là phương tiện có giá trị đặt biệt để giáo dục
toàn diện cho trẻ.
Trong cuốn “Thể dục và trò chơi ở nhà trẻ” của hai tác giả người Tiệp
Khắc, nhà xuất bản Thể dục thể thao dịch và ấn hành năm 1975, các tác giả đã
tìm hiểu đặc điểm giải phẫu và sinh lý của trẻ 3 tuổi, từ đó xây dựng một hệ
thống các bài tập thể dục và các trò chơi vận động đơn giản để hình thành tư
thế đúng và nâng cao sức khỏe cho trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ. Các tác giả còn nêu
ra 7 yếu tố quan trọng trong việc giáo dục thể chất cho trẻ ở lứa tuổi này đó
là: Có chế độ giáo dục thể chất thường xuyên, giữ vệ sinh môi trường, chế độ
dinh dưỡng hợp lý, hướng dẫn trẻ tập vận động, giữ thái độ “bảo mẫu” với trẻ,
rèn luyện khả năng chống lại những ảnh hưởng của môi trường và giáo dục
thói quen vệ sinh cá nhân. [31]

8


Trong cuốn “Chăm sóc sức khỏe trẻ em”, nhà xuất bản Y học Matxcơva
ấn hành năm 1989, tác giả Yuri Manovxki đã nêu nhiều luận điểm quan trọng
của việc chăm sóc sức khỏe trẻ em trước tuổi đi học trên cơ sở nghiên cứu hang
vạn trẻ em trong nhiều năm. Tác giả khẳng định có 3 điều cốt lõi nhất mà các
bậc phụ huynh, các cô nuôi dạy trẻ phải làm để nâng cao sức khỏe cho trẻ mầm
non là đảm bảo đủ chế độ dinh dưỡng, giữ gìn vệ sinh và tổ chức cho trẻ chơi
các trò chơi vận động phù hợp với từng độ tuổi. [31]
Arơkin cho rằng: Trò chơi vận động thỏa mãn cảm xúc, tạo ra sự lôi
cuốn đặc biệt, động viên được sức lực của trẻ, đem lại sự vui sướng, thỏa
mãn, loại trừ mệt mỏi, giúp trẻ điều chỉnh nhịp điệu và năng lượng vận động,
phát triển các tố chất tâm lý... Arơkin coi trò chơi vận động là đòn bẩy chính
của việc giáo giục trẻ trước tuổi đi học. [1]
Huberta Wiertsema cho rằng: Trò chơi vận động cải thiện giác quan

Vấn đề lý luận và phương pháp tổ chức trò chơi nói chung và TCDG
nói riêng được các nhà sư phạm thế giới quan tâm, bởi lẽ họ thấy được ý
nghĩa đích thực của trò chơi trong việc giáo dục và dạy học cho trẻ.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà giáo dục Nga như:
P.A.bexônôva, O.P.Seia, V.I.Đalia, E.A.Pokrôvxki… đã đánh giá cao vai trò
giáo dục đặc biệt là tính hấp dẫn của trò chơi dân gian (TCDG) Nga đối với
trẻ mẫu giáo. E.A.Pokrôvxki đã chỉ ra nguồn gốc và tính hấp dẫn đặc biệt của
TCDG, đó là những trò chơi thuộc nhóm trò chơi có luật do nhân dân sáng
tác, chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trò chơi này đa dạng
về thể loại và phong phú về nội dung. TCDG có sức hấp dẫn lạ thường với trẻ
em bởi lẽ, chúng làm thỏa mãn nhu cầu chơi, nhu cầu nhận thức và nhu cầu
xã hội của trẻ em. [19]
Usinxki thì cho rằng, những trò chơi dân gian nước Nga là phương tiện
giáo dục rất hiệu quả, cần sử dụng những trò chơi ấy một cách rộng rãi trong
10


các đối tượng, trước hết là trẻ em. Ông đề nghị những người làm công tác giáo
dục hãy thu thập, sưu tầm thật nhiều trò chơi dân gian Nga để giáo dục trẻ. Tác
giả N.K.Kôrupxkaia thì nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của trò chơi vận động
trong sự phát triển thể lực của trẻ. [31]
Ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Miến Điện, Triều
Tiên, Malaixia… người lớn cũng đã sưu tầm TCDG như “Trò chơi tang”, “Trò
chơi uẩn” chơi với các vật liệu thiên nhiên, các TCDG như: “Oan, Tu, Dum”,
“Gauy, Ba uy, Bo”, “Chạy đến nhà”… nhằm mục đích giáo dục mở rộng sự
hiểu biết về thế giới xung quanh và giúp trẻ rèn luyện các kỹ năng vận động.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “Trò chơi của trẻ em” đã đề cập
đến lý luận và phương pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo.
Trong cuốn “Trò chơi dân gian cho trẻ em dưới 6 tuổi” nhóm tác giả

Tác giả Lê Anh Thơ trong luận án PTS với đề tài “Nghiên cứu sử dụng
một số trò chơi vận động dân gian trong giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo 4
tuổi” nhấn mạnh vai trò của trò chơi vận động dân gian đối với sự phát triển
toàn diện của trẻ, đặc biệt là sự phát triển thể chất, theo ông, trẻ mẫu giáo
ngày nay rất thích các trò chơi dân gian, nhất là các trò chơi vận động dân
gian. Trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ đã và đang sử dụng các trò
chơi này, nhưng so với các loại trò chơi mới thì dường như tỉ lệ là ngày càng
giảm. Tình hình đó làm cho trẻ mẫu giáo dần dần lãng quên các trò chơi dân
gian truyền thống của dân tộc. Vì vậy, cần đưa thêm các trò chơi vận động
dân gian vào trong chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo góp phần
nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và giáo dục trẻ thơ, đặc biệt là công
tác giáo dục thể chất cho trẻ, đồng thời khôi phục và phát triển vốn văn hóa
truyền thống quý báu của dân tộc. [31]

12


Tác giả Phạm Ngọc Viễn đã nêu một số ý kiến về triển vọng sử dụng
các trò chơi vận động dân gian làm phương tiện giáo dục thể chất cho học
sinh. Trên cơ sở phân tích nguồn gốc, bản chất của trò chơi vận động dân
gian, tác giả cho rằng, trò chơi vận động dân gian là một nhu cầu tự nhiên,
một hình thức văn hóa thể chất dân gian của người Việt Nam. Trò chơi đó có
lịch sử lâu đời hơn bất kỳ một môn nghệ thuật nào. Ngay từ khi ra đời, nó đã
là một hình thức truyền dạy kinh nghiệm lao động, là phương tiện thỏa mãn
nhu cầu vận động cơ bắp, tiếp nhận thông tin và nghỉ ngơi, giải trí của con
người. Trong quá trình phát triển, trò chơi vận động dân gian ngày càng có tác
dụng giáo dục thể chất, trở thành một hoạt động tương đối độc lập, mang tinh
thần thượng võ.
Vai trò của trò chơi vận động dân gian được xem như là một phương
tiện giáo dục góp phần phát triển thể lực, phát triển toàn diện nhân cách trẻ đã

động… Tuy nhiên, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế. Trẻ thường chú ý
đến những đối tượng mà nó gây ra một kích thích mạnh, một sự ngạc nhiên
đối với trẻ. Trẻ có thể phân phối chú ý của mình lên nhiều đối tương cùng một
lúc (có thể 2-5 đối tượng). Tuy nhiên, khả năng phân phối sự chú ý này chưa
bền vững, dễ dao động, đặc biệt là trong những hành động quan sát qua tranh
ảnh, mô hình…
- Đặc điểm tri giác của trẻ:
Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, năng lực ghi nhớ và nhớ lại phát triển mạnh.
Nhưng trí nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế. Trẻ thường ghi nhớ những
gì gây hứng thú, mang ấn tượng mạnh cho trẻ. Trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi vẫn
mang đặc trưng của trí nhớ trực quan hành động. Những công trình nghiên
cứu của tâm lý và giáo dục học đã chỉ ra rằng: Tổ chức cho trẻ tiếp xúc với sự
vật, hiện tượng mà chúng tạo cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ, gây ấn tượng
sâu sắc làm trí nhớ của trẻ phát triển.
14


- Đặc điểm tư duy của trẻ:
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có bước phát triển mới về tư duy. Để giải quyết
các bài toán thực tế, trẻ đã biết huy động vốn kinh nghiệm sống của mình, biết
phân tích, phán đoán, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để thu nhận
những thông tin sâu sắc hơn về sự vật, hiện tượng, biết tìm hiểu mối liên hệ
phụ thuộc giữa chúng – tức là trẻ đã biết tư duy.
Sự phát triển tư duy của trẻ trong độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, về
thao tác và thiết lập được những quan hệ giữa sự vật và hiện tượng, giữa
thông tin cái cũ và cái mới, giữa cái xa và gần. Khả năng phân tích tổng hợp
không chỉ dừng lại ở hành động thao tác với sự vật mà bằng cả ngôn ngữ.
Ở trẻ 5-6 tuổi đã có những khái niệm trừu tượng: Ngoan, hư, tốt, xấu…
Các phẩm chất của tư duy và chức năng hành động của nó như tính mục đích,
độc lập, sáng tạo, tính linh hoạt, khách quan, mềm dẻo… được phát triển

lý nhằm kích thích trẻ tích cực vận động.
1.2.2. Đặc điểm phát triển sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi
Trước hết, chúng ta thấy rằng cơ thể trẻ em là cơ thể đang lớn và phát
triển. Quá trình lớn lên và phát triển gồm những biến đổi về số lượng và chất
lượng có liên quan chặt chẽ với nhau và phụ thuộc vào nhau. Quá trình lớn
lên và phát triển này theo chiều hướng đi lên. Nó diễn biến ở trong cơ thể của
đứa trẻ qua từng giai đoạn phát triển nhất định. Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, sự phát
triển cơ thể được thể hiện ở những đặc điểm sau:
Hình thái cơ thể có sự thay đổi nhanh chóng, chiều dài chi tăng dần nên
cơ thể trẻ cao nhanh, hình dáng tròn trĩnh bị mất dần đi, sự tăng trọng lượng
của cơ thể chậm lại.
* Hệ thần kinh: Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ não, hoạt
động của thần kinh cao cấp phát triển nhanh. Các phản xạ có điều kiện hình
thành nhanh chóng trong suốt giai đoạn ở lứa tuổi này theo xu hướng tăng
16


dần. Não của trẻ 6 tuổi nặng 1300 gam nghĩa là nặng hơn 3 lần so với não của
trẻ sơ sinh. Kích thước của não tiếp tục tăng, tế bào vỏ não tiếp tục phân hóa.
Sự trưởng thành của tế bào thần kinh của đại não kết thúc. Chức năng điều
khiển của vỏ bán cầu đại não tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy
hành vi của trẻ có tính tổ chức hơn. Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần
kinh mang tính không ổn định nên các quá trình tâm lý diễn ra chưa đầy đủ.
Do vậy, cần phải tạo cho trẻ những điều kiện thuận lợi nhất để dễ dàng hoàn
thiện chúng.
* Hệ cơ – xương: Quá trình phát triển hệ cơ, xương diễn ra nhanh, xương
vẫn còn có tinh chất đàn hồi cao, xương sống và các xương khác còn mềm
yếu, vì trong đó còn chứa nhiều tổ chức sụn, các khớp của trẻ rất linh hoạt,
dây chằng dễ bị giãn, các gân còn yếu. Quá trình cấu tạo xương chưa kết thúc,
mặc dù sự cung cấp máu ở xương của trẻ tốt hơn người lớn. Tất cả những

trao đổi chất ở trẻ diễn ra nhanh hơn so với người lớn.
Trạng thái sức khỏe chung của trẻ đã dần dần thích nghi với các điều
kiện xung quanh. Việc thực hiện chế độ sinh hoạt có khoa học, điều kiện tự
nhiên, vệ sinh dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của trẻ.
Hướng chủ yếu của quá trình giáo dục thể chất là làm đảm bảo cho trẻ trạng
thái thần kinh – tâm lý bình thường, tạo cảm xúc tốt, phát triển khả năng vận
động cần thiết trong cuộc sống của trẻ.
Các bài tập thể dục có hệ thống có tác dụng nâng cao trạng thái hoạt
động của hệ thần kinh trung ương, hạ thấp sự căng thẳng của hệ tim mạch, hệ
hô hấp, hệ vận động và nâng cao mức độ chuẩn bị thể lực cho trẻ.
Các nhà sinh lý học cho rằng, vận động là nhu cầu tự nhiên sống còn và
cần thiết của con người. Các bác sĩ cho rằng: thiếu vận động trẻ em không thể
lớn lên khỏe mạnh, những trẻ ít vận động thường kém phát triển về thần kinh
tâm lý và vận động, thường hay bị bệnh. Nhiều nhà khoa học cho rằng sự tích
18


cực vận động và các nhu cầu sinh lý vận động của cơ thể được xác định
không chỉ theo lứa tuổi mà còn tùy theo mức độ tự lực của trẻ, đặc điểm tâm
lý riêng của hệ thần kinh trung ương, tình trạng sức khỏe và phụ thuộc nhiều
vào môi trường bên ngoài như: khí hậu, vệ sinh, sinh hoạt xã hội.
Các nhà giáo dục Liên Bang Nga trong chương trình Star đã khẳng định:
Trẻ ít vận động sẽ dẫn đến sự rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể,
giảm khả năng làm việc và sức mạnh của cơ bắp, làm sai lệch tư thế, làm lòng
bàn chân bẹt, ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí tuệ, khả năng phối hợp
vận động và các tố chất thể lực.
1.2.2. Đặc điểm phát triển vận động của trẻ 5 – 6 tuổi
Khi trẻ 5 – 6 tuổi, các vận động của trẻ bước đầu đã đạt mức độ chính
xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định. Trẻ đã biết phối hợp hoạt động của mình
với tập thể, có thể thực hiện những động tác quen thuộc bằng nhiều cách

được tăng lên.
Quan sát trẻ đi bộ, ta thấy có sự phối hợp của chân và tay, thân vững
vàng, bàn chân bước khỏi mặt đất đã nhịp nhàng. Động tác nhảy đã hoàn
thiện với một niềm tin lớn, nhảy và tiếp đất nhẹ nhàng. Động tác chạy, bò và
ném của trẻ được hoàn thiện rõ nhất. Trẻ thực hiện động tác tự tin và chính
xác. Khả năng ước lượng bằng mắt, sự khéo léo, khả năng phối hợp trong khi
vận động cũng được phát triển.

20


Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, việc cũng cố tốt hơn nữa về thể lực, sức khỏe và
các vận động của trẻ còn có ý nghĩa giúp trẻ chuẩn bị tốt cho việc sẵn sàng đi
học ở trường phổ thông. Ở tuổi này trẻ có khả năng thực hiện tốt tất cả các
vận động cơ bản, có ý thức hơn đối với những lời chỉ dẫn của cô, có khả năng
quan sát tốt hơn, và nhớ lại các động tác nhiều hơn. Nhiệm vụ của giáo dục
phát triển vận động cho trẻ 5 – 6 tuổi là nhằm giúp củng cố và phát triển tốt kĩ
năng vận động, góp phần tăng cường sức khỏe, tăng cường sự tham gia của
trẻ vào mọi hoạt động, góp phần phát triển và chuẩn bị tốt cho trẻ vào trường
phổ thông.
1.2.2. Tính tích cực vận động của trẻ
1.2.2.1. Định nghĩa tính tích cực
Bàn về tính tích cực, Ph.Ăngghen cho rằng: “tính tích cực là đặc tính
chung, là sự tự vận động của mọi sinh vật sống, tính tích cực vừa là nguồn
gốc duy trì hoặc biến đổi các mối quan hệ có ý nghĩa sống còn của sinh vật
với thế giới xung quanh, vừa mang đến cho sinh vật sống khả năng tự điều
chỉnh, thích nghi với thế giới xung quanh ấy”.
Phát triển học thuyết Mác – Ăngghen, V.I.Lênin quan niệm: tính tích
cực là thái độ cải tạo của chủ thể đối với thế giới xung quanh, là khả năng của
con người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh các nhu cầu, năng lực

trình chịu sự tác động đó.
Lượng vận động gồm 2 thành phần chính: cường độ vận động và khối
lượng vận động. Trong điều kiện và hoàn cảnh như nhau thì hiệu suất của
lượng vận động tỉ lệ thuận với cường độ và khối lượng của nó.
- Cường độ vận động dùng để chỉ đặc tính của các tác động vào thời
điểm cụ thể, độ căng thẳng về các chức năng của cơ thể, độ lớn mỗi lần nỗ lực
(ra sức) ...

22


Trong các động tác mang tính chất chu kỳ, nhân tố ảnh hưởng đến
cường độ trước hết là tốc độ vận động, sau đó là đến các phụ tải. Còn trong
các động tác không mang tính chu kỳ, cường độ phụ thuộc vào độ phức tạp,
sự phối hợp các động tác, tư thế bắt đầu, kết thúc, phương hướng vận động,
các kích thích và trọng lượng dụng cụ luyện tập, trọng lượng hoặc sức đối
kháng và trình độ của đối thủ, mức độ căng thẳng thần kinh – cơ cần thiết để
đạt hiệu quả cao trong vận động.
- Khối lượng vận động là tổng số lần hoạt động thể lực và các thông số
tương tự khác và thời gian tác động dài hay ngắn trong các buổi tập.

23


Do vậy, muốn tăng (hoặc giảm) lượng vận động, ta có thể:
+ Tăng (hoặc giảm) cường độ.
+ Tăng (hoặc giảm) khối lượng.
+ Cùng một lúc tăng (hoặc cùng giảm) cả cường độ và khối lượng.
Các chỉ số tối đa của cường độ và khối lượng có mối tương quan tỉ lệ
nghịch với nhau. Lượng vận động có cường độ tối đa chỉ có thể kéo dài với

trẻ em thường huy động khả năng vận động của mình và đạt kết quả cao hơn
so với bài tập thông thường.
Điều kiện cơ bản của tính tích cực vận động của trẻ là sắc thái tình cảm
tích cực trong hoạt động vận động của chúng, điều này được đảm bảo bằng
mức độ dễ tiếp thu – vừa sức của các bài tập đối với trẻ.
Thái độ của giáo viên ảnh hưởng đến trạng thái tình cảm của trẻ. Việc
động viên, khuyến khích, đánh giá khéo léo mục đích là làm cho trẻ mong
muốn hiểu rõ nhiệm vụ đặt ra và tìm cách thực hiện được tốt nhất.
Những điều kiện thiên nhiên, nơi tập, dụng cụ thể dục thể thao, quan hệ
tốt giữa trẻ em với nhau, sự hướng dẫn khéo léo của giáo viên cũng ảnh
hưởng rất lớn đối với sự hoạt động độc lập của trẻ.[26]
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng, tính tích cực vận động của
trẻ mẫu giáo được thể hiện bằng các chỉ số sau:
- Hứng thú bền vững với nhiệm vụ vận động được đặt ra trong trò chơi.
- Độc lập, chủ động trong việc giải quyết nhiệm vụ vận động trong trò
chơi.
- Nỗ lực, cố gắng vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ vận động
trong trò chơi.
1.2.3. Trẻ thừa cân
1.2.3.1. Khái niệm

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status