Đề tài một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học vần, nhằm nâng cao chất lượng học tiếng việt lớp một - Pdf 30

1
I- LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:
Bước vào thế kỷ XXI, thế kỉ mở đầu một thiên nhiên kỉ mói, đất nước chúng ta
bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những thay đổi quan trọng trong
kinh tế, xã hội, giáo dục đòi hỏi nhất thiết phải nâng cao chất lượng giảng dạytrong
nhà trường nói chung và bậc tiểu học nói riêng.
Tronggiai đoạn hiện nay,xu hướng của sự đổi mới phương pháp dạy học ở bậc
tiểu học là làm sao để giâo viên không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là người
tổ chức, định hướng cho học sinh hoạt động, để học sinh huy động vốn hiểu biết và
kinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm lĩnh kiến thức mới.
Như chúng ta đã biết Tiếng Việt vừa là môn học tiếng mẹ đẻ vừa là công cụ
giúp học sinh giao tiếp và tiếp thu các môn học khác tốt hơn ( Các em có đọc thông,
viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin và giải quyết
được vấn đề mà văn bản nêu ra).
Môn Tiếng Việt lóp một là môn học khỏi đầu giúp các em chiếm lĩnh công cụ
mới dể sử dụng trong học tập và giao tiếp, đó là chữ viết. Môn tiếng việt lớp một
còn giúp học sinh hình thành nếp học như: cách cầm sách đọc đúng tư thế, cách
ngắt, nghỉ ( hoi) đúng chỗ, cách trả lòi câu hỏi, cách nhận xét bạn đọc, cách cầm bút;
giúp học sinh có kĩ năng nghe nói một số câu đơn giản; bước đầu có những hiểu
biết về cuộc sống; giúp các em yêu quý việc học tập Đây chính là nền móng cho
các em học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên. Chính vì vậy dạy tốt môn Tiếng Việt ở
lóp một ( phân môn Học vần - Tập đọc) là điều cực kì quan trọng.
Với những lí do nêu trên, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm:
" Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Học
vần, nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lóp Một".
II- MỤC ĐÍCH CỦA ĐÈ TÀI:
- Nghiên cứu thực trạng về việc dạy học Tiếng Việt lóp một phần Học vần. Phân
tích những thuận lọi và khổ khăn khi dạy và học Tiếng Việt ở lớp 1 phần Học vần.
- Tìm ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho học
sinh trong tiết Học vần lóp Một.
III- KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

xen kẽ.
Trẻ dễ xúc động nhưng hình ảnh lại chưa bền vững dễ mất đi vì tính mục đích
chưa cao. Trẻ rất hiếu động nên chóng chán , do vậy trong giờ dậy giáo viên phải
gây chú ý cho học sinh nhiều xúc cảm đọng lại thông qua bài học và các hoạt động
khác để củng cố, khắc sâu kiến thức.
Học sinh trường Tiểu học thị trấn Than Uyên rất hiếu động , thíchkhám phá
điều mới lạ , nhưng cũng chóng chán. Khả năng tập trung , chú ý của các em chưa
cao . Nhiều em còn phát âm sai các tiếng có phụ âm n, 1, b , V , t, th Một số em còn
đọc ngọng dấu hỏi và dấu ngã.
2. Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học.
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Viêt ( Đọc ,
viết, nghe , nói) Để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi.
- Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt; về tự nhiên , xã
hội và con người; về văn hoá , văn học của Việt Nam và nước ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp
của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa cho học sinh.
Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học rất chú trọng đến việc hình thành kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt, do vậy việc hướng dẫn học sinh lớp 1 các kĩ năng thực hành Tiếng
Việt( Đọc , viết, nghe , nói) là điều rất quan trọng.
3. Mục tiêu của chương trình Tiếng Yiệt lớp 1
ở lớp Một , mục tiêu dạy học tiếng Việt được cụ thể hoá thành những yêu cầu cơ
bản về kiến thức và kĩ năng đối với học sinh lớp 1 như sau:
- Đọc đúng và rõ ràng bài văn đơn giản (Khoảng 30 tiếng / phút).Hiểu nghĩa
của các từ ngữ thông thường và nội dung thông báo của câu văn, đoạn văn.
- Viết đúng chữ viết thường,chép đúng chỉnh tả đoạn văn(khoảng 30 chữ /15
phút).
- Nghe hiểu lời giảng và lời hướng dãn của giáo viên.

theo là tên truyện và tranh minh hoạ nội dung câu chuyện.
Các chữ ghi âm, tiếng từ và tranh minh hoạ đều được in màu sắc đẹp, hợp với tâm
lí của học sinh lớp Một giúp các em hứng thú học tập và nắm nội dung bài học một
cách chủ động. Ngoài ra, từng phần của bài học còn có kí hiệu sử dụng sách( bằng
các hình cụ thể: em bé đọc, viết, nói, kể chuyện ) giúp học dễ dàng phân biệt phần
nào để đọc, viết, luyện nói và kể chuyện.
Tiết một thường học hết trang chẵn, tiết hai học trang lẻ và luyện viết ở vở tập viết.
5. Phương pháp dạy học tích cực .
Chúng ta đều biết rằng quá trình dạy học gồm hoạt động có quan hệ hữu cơ: Hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều
được tiến hành nhầm thực hiện mục đích giáo dục.
Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chi
có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực chủ động, tự giác vói một động
cơ nhận thức đúng đắn. Luôn luôn phát huy tích cực, chủ động trong hoạt động
học tập của học sinh ở mỗi tiết học, đó chính là dạy học tích cực.
5.1. Những dấu hiệu cơ bảncủa dạy học nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh:
- Coi trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh.
- Tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp nhận tri thức.
- Tạo điều kiện để học sinh chủ động.
- Chú ý hình thành khả năng tự học của học sinh.
5.2. Tác dụng của dạy học phát huy tính tích cực của học sinh:
- Hợp với quy luật hoạt động học tập; Phát huy tính độc lập sáng tạo, hình thành
thói quen tự học.
- Năng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể là làm
cho học sinh:
4
+ Nắm vững, hiểu sâu và bền vững hơn về kiến thức.
+ Luôn củng cố và phát triển cách học của mình.
+ Giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể.

3. Đánh giá thực trạng về tính tích cực,chủ động của học sinh trong giờ học
vần.
3.1. Đánh giá thực trạng
Qua một số tiết dạy đầu năm học, nhất là giờ học vần của lớp 1A2 Trường tiểu học
Thi trấn Than Uyên,tôi nhận thấy tính tích cực, chủ động của học sinh còn kém, thể
hiện qua một số dấu hiệu sau đây:
-Học sinh tìm từ còn chậm và số lượng ít, hay tìm từ giống nhau hoặc giống sách
giáo khoa (chỉ có khoảng 40% số học sinh tìm được từ mới).
-Học sinh chưa có ý thức lắng nghe và làm theo sự hướng dẫn của cô( chỉ có
khoảng 50% các em chăm chú lắng nghe và làm theo sự hướng dẫn của cô)
* Ví dụ dạy bài 7: ê - v: Sau khi học chủ đề luyện nói" bế bé ", tôi hỏi: Mẹ rất vất vả
chăm sóc chúng ta. Chúng ta phải làm gì cho cha mẹ vui lòng? Thì chỉ có khoảng 6
-8 em giơ tay.
-Học sinh đọc còn kếm, viết kém ( chiếm 25% ) Đó là các em: Phạm Tiến Đạt, Cầm
Văn Minh,Ngà Tuấn Đạt, Đỗ Hoàng Anh,Từ Kiều Anh, Nguyễn Đức Hậu,Vũ Lâm
Hùng học sinh lớp 1A2, trường tiểu học Thị trấn Than Uyên.
3.2. Nguyên nhân của thực trạng
* Về phía giáo viên:
- Còn nặng nề về cung cấp các kiến thức, chưa chú ý đến việc tạo điều kiện giúp
cho học sinh tự tìm tòi tiếp thu kiến thức.
- Chưa chú ý động viên học sinh mạnh dạn, tích cực học tập.
* Về phía học sinh:
- Các em đang quen với nếp vui choi tương đối tự do, thoải mái tuỳ theo hứng thú
của mình. Nhưng khi đi học, các em phải làm việc trong một tập thể có nội quy, kỉ
luật, có hướng dẫn học tập có trách nhiệm, nghĩa vụ rõ ràng.
- Các em còn hay đãng trí, khó tập trung chú ý lâu, nhất là khi phải chú ý các đối
tượng trừu tượng, ít hấp dẫn.
- Từ thực trạng trên, tôi thấy cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong tiết Học Vần lớp 1.
III. MỘT số BIẸN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực, CHỦ ĐỘNG

Việc sử dụng đồ dùng dạy học cần:
- Gắn với nội dung của bài học.
- Phù hợp với hình thức dạy học bộ môn.
- Phù hợp với kế hoạch bài học: + Đúng mục đích.
+ Đúng lúc, đúng chỗ.
- Khi sử dụng: + Cần đinh hướng cho HS quan sát.
+ Khai thác triệt để đồ dùng dạy học.
4. Cách sử dụng:
Đồ dùng dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy họ. Sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí, có hiệu quả sẽ góp phần
nâng cao chất lượng dạy học. Sau đay là một vài cách sử dụng đồ dùng dạy học
trong giờ học vần lớp 1.
4.1. Cách sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật.
a. Sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật để giải nghĩa từ.
* Ví dụ dạy bài 9: o - b
Sau khi hướng dẫn học âm -tiếng - từ mới o -bò - bò.Giáo vien giới thiệu ảnh
" con bò" để học sinh tái hiện về hình ảnh con vật (nếu chưa biết ).Giáo viên có thể
nói thêm đôi nét sơ lược: Con bò thường ăn cỏ, được nuôi để kéo cày dùng trong
việc nhà nông.
* Ví dụ dạy bài 40: iu - êu
Để giảng từ " Cái phễu ",giáo viên cái phễu ra và hỏi: Cái phễu dùng để làm gì?
- HSTL: Cái phễu dùng để rót chất lỏng như rượu, nước mắm vào chai cho khỏi
rớt ra ngoài.
Sử dụng tranh, mô hình, vật thật khi giải nghĩa từ giúp học sinh mường tượng ra
sự vật hay hoạt động được nói đến trong từ khoá, từ ứng dụng, hiểu đúng hơn về
sự vật, hoạt động.
b.Sử dụng tranh ảnh để minh hoạ câu ứng dụng.
* Ví dụ dạy bài 40: iu -êu
Khi học câu ứng dụng: Cây bưởi cây táo nhà bà đều sai tñu quả .
Giáo viên treo tranh: " vườn cây nhà bà " và nói: Đây là bức tranh vẽ cảnh vườn cây

chuyện cho ta thấy Hổ là con vật như thế nào, các em hãy chú ý lắng nghe.
- GV kể chuyện 2 lần có kết hợp minh hoạ tranh.
- GV gợi ý học sinh quan sát từng tranh, giúp câu chuyện thêm hấp dẫn;kích
thích được trí tưởng tượng của các em. Dựa theo tranh, các em hình dungra
không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, sắp xếp các ý của câu chuyện, tự nhớ lại
nội dung để kể.
4.2. sử dụng các đồ dùng dạy học khác.
a. Sử dụng mẫu chữ trong dạy tập viết:
* Ví dụ dạy viết chữ: h
- Giáo viên đưa mẫu chữ h
- Yêu cầu học sinh nhận xét độ cao của chữ h; phân tích chữ h gồm mấy nét? Là
những nét nào?
Sử dụng mẫu chữ trong tập viết, giúp cho các em ghi nhớ được cách viét chữ bằng
nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe ), giúp các em ghi nhớ lâu.
b.Sử dụng bộ đồ dùng dạy học Tiếng Việt.
* Ví dụ dạy bài 44: on - an
- Giáo viên đưa lệnh yêu cầu học sinh:
+ Ghép vần on - an
+ Ghép tiếng khoá con, sàn
Cuối tiết 1, giáo viên cho học sinh tự tìm và ghép tiếng, (có nghĩa) mang vần đã
học nhưng không xuất hiện trong SGK. Việc làm này giúp các em luyện tập thực
hành để vận dụng kiến thức ,kĩ năng đã học một cách tích cực và sáng tạo.
+ vần on: bón, đòn, gọn, lon ton
+ vần an: can, cạn, cản, bạn, lan can, đàn ngan, bàn tán
Sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt không những giúp học sinhnắm được cấu tạo
của từ, viết được từ mà còn phát triển tư duy, các em được sử dụng tát cả các giác
quan như mắt nhìn, tay cầm do đó các em sẽ ghi nhớ lâu; không những thế việc sử
dụng bộ thực hành Tiếng Việt còn làm giảm bớt sự khô khan của việc tìm từ mà
còn làm lớp học thêm sinh động.
c. Sử dụng sách giáo khoa:

yếu kém được trả lời, phát huy tính tích cực của tất cả học sinh trong lớp.
- Sắp xếp câu hỏi từ dễ đến khó.
3. Các loại câu hỏi thường sử dụng.
3.1. Câuhỏi yêu cầu tái hiện:
* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ươm
Sau khi học xong bài, giáo viên hỏi: Hôm nay các em học hai vần mới nào?
- HS trả lời: Hôm nay con học hai vần là vần uôm và vần ươm.
3.2. Câuhỏi yêu cầu so sánh.
* Ví dụ dạy bài 26: y - tr
Khi dạy chủ đề luyện nói "Nhà trẻ ", giáo viên đặt câu hỏi để học sinh so sánhviệc
học ở nhà trẻ và học ở lớp 1 có gì giống và khác nhau.
+ Nhà trẻ khác lớp Một ở chỗ nào? ( Đi nhà trẻ khác vói đi học lớp Một là ở nhà trẻ
giờ chơi nhiều hơn, có nhiều đồ choi hơn, các con vừa học lại vừa choi )
* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ươm
Sau khi học xong vần ươm, giáo viên yêu cầu học sinh so sánh vần uôm và vần
ươm.
3.3. Câuhỏi yêu cầu suy luận.
* Ví dụ dạy bài 37: Ôn tập, phần kể chuyện " Cây kế
Sau khi học xong câu chuyện, giáo viên hỏi: "Vì sao người em trở nên giàu có?" -HS
phải suy luận từ các sự việc để ừả lòi: Ngưòi em hiền lành, chăm chỉ nên trở nên
9
giàu có.
* Ví dụ dạy bài 27: Ôn tập
Sau khi hình thành xong bảng ôn vần, để học sinh phân biệt khi nào viết gh, khi
nào viêt g. Giáo viên hỏi: Nhìn vào bảng ôn tập, ta thấy gh đứng trước âm nào?
Còn g đứng trước âm nào?
Học sinh phải quan sát bảng ôn để nêu được gh đứng trước âm (i, e, ê ), còn g
đứng trước các âm còn lại.
Câu hỏi suy luận dùng để yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân sự việc,vận
dụng kiến thức vào bài học, khái quát hoá kiến thức.

- Kích thích sự thi đua giánh phần thắng cho các em bên tham gia.
3. Cách tổ chức trò chơi học tập.
- Giới thiệu tên trò chơi, hướng dãn cách choi, thòi gian choi và phổ biến luật chơi
(Có thể tiến hành nhiều cách khác nhau nhưng yêu cầu giáo viên nói ngắn gọn rõ
ràng, dễ hiểu, sao cho tất cả học sinh nắm được cách chơi).
- Cho học sinh chơi thử (nếu cần ).
- Tiến hành chơi ( giáo viên điều khiển trò choi phải nắm vững tiến trình và theo
dõi chặt chẽ ).
- Đánh giá kết quả chơi ( động viên là chủ yếu ). Nhận xét thái độ của người tham
dự và rút kinh nghiệm.
4. Các hình thức trò choi thường sử dụng trong giờ học vần.
4.1. Loại 1: Trò chơi tô chữ trên tranh
+ Mục đích: Nhận được dạng chữ ghi âm, ghi vần mới, đọc tiếng có âm(vần) mới.
10
+ Cách chơi: Một hoặc một nhóm hai em dùng bút chì màu tô vào chữ có âm hoặc
vần mới học; sau khi tô, học sinh phải nói rõ ô chữ ở hình vẽ nào (gọi tên con vật,
đồ vật, người trong hình vẽ ) có chữ ghi âm (vần) mới. 5 học sinh tô đúng và xong
sớm sẽ chi đinh nói kết quả và nhận thưởng.
+ Chuẩn bị và tổ chức: Giáo viên sao chép hình ảnh một số con yật, đổ yật,
người có tên gọi là từ chứa âm (vần) mới. Nên sao cả một vài hình ảnh của người,
vật mà tên gọi không có âm, vần mói để học sinh lựa chọn. Ghi tên gọi dưới mỗi
hình, kẻ khung cho từng chữ ghi mỗi tên gọi. Chụp các hình này vào một trang
giấy rồi nhân bản cho mỗi học sinh hoặc một nhóm một bản để chơi.
Minh hoạ bài 12: i - a
* Nên dùng trò choi này ở những bài đầu của phần học âm và chữ cái.
4.2. Loại 2: Trò chơi thi ghép vần, tiếng,từ.
+ Mục đích: Nhớ mặt chữ ghi vần mới, ghép vần mới vói phụ âm đầu và thanh để
tạo tiếng mới; đọc trơn; nêu ý nghĩa của tiếng hoặc từ tìm được.
+ Cách choi: Giáo viên tổ chức cho học sinhchoi ghép vần, tiếng từ, theo nội dung
bài học, có chú ý dẫn dắt, mở rộng vốn từ và vốn hiểu biết của học sinh.

tên gọi là từ chứa vần mới học treo trên các bức tường của lớp học.
* Nên tổ chức cho cả lớp cùng chơi, trò chơi này có thể dùng ở các bài học âm,
vần mới và bài ôn tập.
4.5.Loại 5: Trò chơi viết thư
+ Mục đích: Luyện tập những từ chứa âm, vần mới học để tạo lời nói; viết ra được
một cách chính xác.
+ Cách choi: Nhóm 3-4 cùng choi. Em đầu tiên viết một tiếng có nghĩa (có thể là từ
đơn) vào một mẩu giấy rồi gấp lại đưa cho bạn bên cạnh, bạn này viết tiếp một
hoặc vài tiếng ở trước hoặc ở sau từ đã có rồi chuyển thư cho bạn cuối cùng viết
xong phần mình thì ghi câu đó lên bảng. Nhóm nào có câu đúng và dài nhất sẽ
được nhận phần thưỏng.
* Nên tổ chức cho cả lớp cùng choi, trò chơi này có thể dùng ở các bài học âm,
vần mới và bài ôn tập hoặc trong các tiết hoạt động tập thể.
Trên đây là minh hoạ một vài trò choi mà tôi đã áp dụng. Trong quá trình áp dụng
tôi nhận thấy để trò choi có hiệu quả, ngoài việc chuẩn bị trò choi thì việc lựa chọn
sao cho phù hợp với nội dung bài cũng là điều quan trọng.
Biện pháp 4: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
1. Các hình thức tổ chức luyện đọc, luyện viết, luyện nói trong tiết học vần:
1.1.Luyện đọc:
Đọc thành tiếng (Trên bảng lớp, trong sách giáo khoa, ở bìa ghép chữ hay "bảng
quay âm - vần tiếng" ),đọc nhẩm - đọc thầm (qua sử dụng vở bài tập Tiếng Việt 1,
trong SGK ), với các hình thức: đọc theo cá nhân -theo tổ -theo nhổm - cả lớp.
1.2.Luyện viết:
Viết vào bảng tay, viét trên bảng lớp, viết trong vở tập viết.
1.3.Luyện nói:
Nói câu, nói theo chủ đề với các hình thức: Nói cá nhân - nói trong nhóm.
2. Tác dụng của việc vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
- Tạo môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn luyện 4 kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói).
- Tạo điều kiện cho mọi học sinh đều luyện đọc, luyện viết, luyện nói.

em cùng tham gia. Khi các em trả lời được chỉ cần một ý nhỏ giáo viên cũng
khen ngay và đông viên em đó tiếp tục phát huy.
- Đối với các em khá giỏi nên khuyến khích, gợi mở bằng những câu hỏi khái
quát hơn.
- Giáo viên nên tổ chức thi viết chữ đẹp theo tháng, treo bài viết đẹp trên lóp
để động viên các em đó và các em khác cũng lấy đó làm gương.
GIÁO ÁN MINH HOẠ:
Bài 44: iu -êu
I. Mục đích - yêu cầu:
- Học sinh đọc được: iu, êu, lưỡi rìu, cái phễu, từ và câu ứng dụng trong bài.
- Học sinh viết được iu. êu, lưỡi rìu, cái phễu.
- Luyện nói từ 2 - 4 câu theo chủ đề luyện nói: Ai chịu khó?
II.Đồ dùng dạy học:
- Giáo viên: Tranh minh hoạ cây nêu, vườn quả, ai chịu khó, chữ mẫu, cái
phễu, mô hình lưỡi rìu.
- Học sinh: Bộ thực hành Tiếng Việt, bảng
con. ra. Hoạt động dạy học chủ yếu:
Tiết 1
T.gian dự
kiến
NỘI DUNG CÁC H’ Đ DAY HOC PHƯƠNG PHÁP - HÌNH THỨC Tố CHỨC CÁC
HOAT ĐÔNG DAY HOC TƯƠNG ÚNG
Ghi chú
ĐDDH
5 phút
I Kiểm tra bài cũ - Viết:
rau cải lau sậy châu chấu
sáo sậu
-Đọc từ: rau cải, lâu sậy,
- Giáo viên đọc cho học sinh viết vào

Đố các con biết đây là cái gì? HS
TL: Cái rìu
- GV hỏi tiếp: Rìu dùng để làm gì?
HS TL: Dùng để chặt cây, chặt củi
-GV giảng kết hợp chỉ trên mô
hình: Đây là phần cán rìu thường
làm bằng gỗ, còn đây là phần lưỡi
rìu làm bằng thép và được mài sắc,
dùng để chặt cây, chặt củi
Hôm nay chúng ta học từ mới thứ
nhất là từ lưỡi rìu
- Từ lưỡi rìu có mấy tiếng là tiếng
nào? Tiếng nào chứa vần vừa học?
- 4 HS đọc cá nhân, tổ, nhóm đọc
đồng thanh
(tương tự) So sánh iu và êu
Cái phễu dùng để làm gì?
Cái phễu dùng để rót chất lỏng như
rượu, nước mắm vào chai cho
khỏi rớt ra ngoài
- GV hướng dẫn HS viết:
Đưa mẫu chữ iu, êu, lưỡi rìu, cái
phễu cho học sinh nhận xét các chữ
có độ cao 21i, 51i
- GV đưa bảng phụ
- HS tìm tiếng chứa vần vừa học
( phân tích)
- HS đọc cá nhân, đổng thanh
Líu lo: tiếng hót của chú chim hoặc
sáo sậu, châu chấu

5 phút
10
phút
Tranh
Ai
chịu
kho
14
tiếng nói thơ ngây của em bé Cây
nêu: Theo phong tục của một số
đổng bào dân tộc, vào những ngày
tết, ngưòi ta thường cắm một cây tre
cao trước nhà. Trên thường có treo
trầu cau và bùa để cầu bình an trong
một năm. Cây đó chính là cây nêu.
Kêu gọi: Lòi yêu cầu động viên mọi
người cần làm một việc gì đó. Ví dụ
trường chúng ta đang kêu gọi HS
hãy giữ vệ sinh không ăn quà vặt để
đề phòng bệnh tả
III Luyện tập
1. Luyện đọc
Câu ứng dụng:
Cây
bưởi, cây táo nhà bà đều
sai quả
2. Luyện viết vở
Tiết 2
- HS đọc bài tiết 1
- GV gắn nội dung câu ứng dụng

sát tranh, nêu nội dung
bức tranh theo câu hỏi
gọi ý.
+ Trong tranh vẽ gì?
+ Trong tranh, ai chịu
khó? tại sao?
- 2 HS khá nói một câu về chủ đề "
Ai chị khó "
- HS nổi trong nhổm đổi ____________
IV. Củng cố dặn dò
2 phút
- HS trình bày trước
lớp GV hỏi:
- Là HS, có cần chịu khó không? Vì
sao?
- Liên hệ: Trong lớp mình ai đã chịu
khó? Ai chưa chịu khó?
- HS đọc toàn bài trên bảng
- Trò chơi tìm từ hoặc tiếng có chứa
vần iu hoặc vần êu
BTHT
V
Trong giáo án trên tôi đã áp dụng thành công việc sử dụng tranh ảnh, vật thật
vào việc giải nghĩa từ, giảng nội dung câu ứng dụng và gợi ý cho học sinh khi
luyện nói. Ngoài ra việc sử dụng hệ thống câu hỏi khai thác bài hợp lí và tận
dụng các hình thức tổ chức lớp phong ph, sử dụng trò chơi ghép tiếng tù có
hiệu quả đã giúp tôi thành công trong tiết học này.
IV. KET QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
* Về phía học sinh:
Với việc áp dụng thường xuyên các biện pháp trên, việc học môn Tiếng Việt

0
0
Giữa Kỳ II 15 55,6 9 33,3 3 11,1
0 0
Cuối Kỳ II 19 70,3 7 26
1
3,7
0
0
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trên con đường tién vào thế
kỉ 21 bằng cạnh tranh tó tuệ đang đòi hỏi phải có sự đổi mới về nội dung và
phương pháp trong dạy học nói chung và ữong bộ môn Tiếng Việt nói riêng, để
nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cần phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh trong giờ học.
Từ kinh nghiệm thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu, tôi rút ra một số kết
luận sau:
*Để học sinh phát huy tính tích cực, chủ động cần:
+ Sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả.
+ Tổ chức " Trò chơi học tập "
+ Có hệ thống câu hỏi hợp lí.
+ Tổ chức dạy học với nhiều hình thức, làm cho lớp học thêm sinh động.
+ Động viên, khen thưởng kịp thòi.
* Để các tiết dạy thành công, người giáo viên phải nắm chắc mục đích, yêu cầu
bộ môn, phải hiểu tâm lí của trẻ mới đến trường, phải có sự chuẩn bị chu đáo cho
bài dạy của mình. Khi thực hiện phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy
học, các hình thức dạy học.
* Người giáo viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ, tận tâm với nghề nghiệp.
Để các biện pháp như đã nêu ở trên được thực hiện có hiệu quả, tôi xin đề xuất
một số kiến nghị sau:

Đây chính là nền móng cho các em học tốt môn Tiếng Việt ở các lóp trên. Chính vì
vậy dạy tốt môn Tiếng Việt ở lớp 1 ( phân môn Học vần - Tập đọc) là điều cực kì quan
trọng.
Với những lí do nêu trên tôi đã suy nghĩ và nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm “
Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học vần
nhầm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp 1”
2. Mô tả tóm tắt nội dung của giải pháp, kết quả thử nghiệm:
2. Mô tả tóm tắt nội dung của giải pháp, kết quả thử nghiệm:
* “ Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
trong giờ học vần nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp 1”
a.Sử dụng đồ dùng dạy học.
b.Sử dụng hệ thống câu hỏi
c. TỔ chức trò chơi học tập.
d.Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
3.Điểm mới - Điểm sáng tạo;
- Điểm mới: “ Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong
giờ học vần Học vần lớp 1”.
- Điểm sáng tạo: Đưa ra nhiều ví dụ ở các dạng bài khác nhau trong phân môn Tiếng
Việt.
4. Hiệu quả kinh tế - xã hội:
- Được giáo viên trực tiếp giảng dạy ủng hộ
- Được Ban giám hiệu, tổ khối, phụ huynh học sinh đóng góp ý kiến.
5. Khả năng áp dụng:
- Bước đầu áp dụng cho 131 học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn Than Uyên.
6. Tình hình áp dụng, triển vọng áp dụng giải pháp.
- Có thể áp dụng cho tất cả học sinh trong khối lớp 1 ở trường Tiểu học Thị trấn Than
Uyên trong năm học này và các năm học tiếp theo.
c. PHẦN MÔ TẢ NỘI DUNG CHÍNH CỦA GIẢI PHÁP
1. Tên giải pháp: Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
trong giờ học vần Học vần lớp 1”.

- Phù hợp với hình thức dạy học bộ môn.
- Phù hợp với kế hoạch bài học: + Đúng mục đích.
+ Đúng lúc, đúng chỗ.
- Khi sử dụng: + Cần định hướng cho HS quan sát.
+ Khai thác triệt để đồ dùng dạy học.
4. Cách sử dụng:
Đồ dùng dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiệnyêucầu đổi mới
phương pháp dạy họ. Sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí,có hiệu quả sẽ góp phần
nâng cao chất lượng dạy học. Sau đây là một vài cách sử dụng đồ dùng dạy học trong
giờ học vần lớp 1.
4.1. Cách sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật.
a. Sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật để giải nghĩa từ.
* Ví dụ dạy bài 9: o - b
Sau khi hướng dẫn học âm -tiếng - từ mới o -bò - bò.Giáo vien giới thiệu ảnh
" con bò" để học sinh tái hiện về hình ảnh con vật (nếu chưa biết ).Giáo viên có thể nói
thêm đôi nét sơ lược: Con bò thường ăn cỏ, được nuôi để kéo cày dùng trong việc nhà
nông.
* Ví dụ dạy bài 40: iu - êu
Để giảng từ " Cái phễu ",giáo viên cái phễu ra và hỏi: Cái phễu dùng để làm gì?
- HSTL: Cái phễu dùng để rót chất lỏng như rượu, nước mắm vào chai cho khỏi rớt
ra ngoài.
Sử dụng tranh, mô hình, vật thật khi giải nghĩa từ giúp học sinh mường tượng ra sự
vật hay hoạt động được nói đến trong từ khoá, từ ứng dụng, hiểu đúng hơn về sự vật,
hoạt động.
b.Sử dụng tranh ảnh để minh hoạ câu ứng dụng.
* Ví dụ dạy bài 40: iu -êu
Khi học câu ứng dụng: Cây bưởi cây táo nhà bà đều sai tñu quả .
Giáo viên treo tranh: " vườn cây nhà bà " và nói: Đây là bức tranh vẽ cảnh vườn cây
nhà bà. Các em hãy quan sát bức tranh và cho cô biết: Quả của các cây trong vườn nhà
bà như thế nào? - Học sinh trả lòi: Quả của các câytrong vườnnhà bà

không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, sắp xếp các ý của câu chuyện, tự nhớ lại nội
dung để kể.
4.2. sử dụng các đồ dùng dạy học khác.
a. Sử dụng mẫu chữ trong dạy tập viết:
* Ví dụ dạy viết chữ: h
- Giáo viên đưa mẫu chữ h
- Yêu cầu học sinh nhận xét độ cao của chữ h; phân tích chữ h gồm mấy nét? Là
những nét nào?
Sử dụng mẫu chữ trong tập viết, giúp cho các em ghi nhớ được cách viét chữ bằng
nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe ), giúp các em ghi nhớ lâu.
b.Sử dụng bộ đồ dùng dạy học Tiếng Việt.
* Ví dụ dạy bài 44: on - an
- Giáo viên đưa lệnh yêu cầu học sinh:
+ Ghép vần on - an
+ Ghép tiếng khoá con, sàn
Cuối tiết 1, giáo viên cho học sinh tự tìm và ghép tiếng, (có nghĩa) mang vần đã học
nhưng không xuất hiện trong SGK. Việc làm này giúp các em luyện tập thực hành để
vận dụng kiến thức ,kĩ năng đã học một cách tích cực và sáng tạo.
+ vần on: bón, đòn, gọn, lon ton
+ vần an: can, cạn, cản, bạn, lan can, đàn ngan, bàn tán
Sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt không những giúp học sinhnắm được cấu tạo của từ,
viết được từ mà còn phát triển tư duy, các em được sử dụng tát cả các giác quan như
mắt nhìn, tay cầm do đó các em sẽ ghi nhớ lâu; không những thế việc sử dụng bộ thực
hành Tiếng Việt còn làm giảm bớt sự khô khan của việc tìm từ mà còn làm lớp học
thêm sinh động.
c. Sử dụng sách giáo khoa:
Ngoài việc cho học sinh quan sát tranh ảnh, mẫu chữ trên bảng, thì việc khai thác các
kênh hình, kênh chữ trong SGK là việc làm rất cần thiết. Sách giáo khoa là một đồ
dùng học tập không thể thiếu được trong mỗi tiết học.
Việc hướng dãn các em biết cách sử dụng SGK, giúp các em phát huy được tính tích

Sau khi học xong bài, giáo viên hỏi: Hôm nay các em học hai vần mới nào?
- HS trả lời: Hôm nay con học hai vần là vần uôm và vần ươm.
3.2. Câu hỏi yêu cầu so sánh.
* Ví dụ dạy bài 26: y - tr
Khi dạy chủ đề luyện nói "Nhà trẻ ", giáo viên đặt câu hỏi để học sinh so sánhviệc học
ở nhà trẻ và học ở lớp 1 có gì giống và khác nhau.
+ Nhà trẻ khác lớp Một ở chỗ nào? ( Đi nhà trẻ khác vói đi học lớp Một là ở nhà trẻ giờ
chơi nhiều hơn, có nhiều đồ choi hơn, các con vừa học lại vừa choi )
* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ươm
Sau khi học xong vần ươm, giáo viên yêu cầu học sinh so sánh vần uôm và vần ươm.
3.3. Câu hỏi yêu cầu suy luận.
* Ví dụ dạy bài 37: Ôn tập, phần kể chuyện " Cây kế
Sau khi học xong câu chuyện, giáo viên hỏi: "Vì sao người em trở nên giàu có?" -HS
phải suy luận từ các sự việc để ừả lòi: Ngưòi em hiền lành, chăm chỉ nên trở nên giàu
có.
* Ví dụ dạy bài 27: Ôn tập
Sau khi hình thành xong bảng ôn vần, để học sinh phân biệt khi nào viết gh, khi nào
viêt g. Giáo viên hỏi: Nhìn vào bảng ôn tập, ta thấy gh đứng trước âm nào?Còn g đứng
trước âm nào?
Học sinh phải quan sát bảng ôn để nêu được gh đứng trước âm (i, e, ê ), còn g đứng
trước các âm còn lại.
Câu hỏi suy luận dùng để yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân sự việc,vận dụng
kiến thức vào bài học, khái quát hoá kiến thức.
3.4. Câu hỏi yêu cầu liên hệ.
* Ví dụ bài 7: ê - v: khi học chủ đề luyện nói " bế bé " giáo viên hỏi:
+ Mẹ thường làm gì khi bế bé? Còn em bé nũng nịu mẹ như thế nào?
+ Mẹ rất vất vả, con có thể làm gì để giúp đỡ mẹ?
4.Khi nêu câu hỏi cho học sinh giáo viên cần chú ý:
- Thu hút sự chú ý của học sinh.
- Sau khi nêu câu hỏi, giành thời gian cho học sinh suy nghĩ.

- Đánh giá kết quả chơi ( động viên là chủ yếu ). Nhận xét thái độ của người tham dự
và rút kinh nghiệm.
4. Các hình thức trò choi thường sử dụng trong giờ học vần.
4.1. Loại 1: Trò chơi tô chữ trên tranh
+ Mục đích: Nhận được dạng chữ ghi âm, ghi vần mới, đọc tiếng có âm(vần) mới.
+ Cách chơi: Một hoặc một nhóm hai em dùng bút chì màu tô vào chữ có âm hoặc vần
mới học; sau khi tô, học sinh phải nói rõ ô chữ ở hình vẽ nào (gọi tên con vật, đồ vật,
người trong hình vẽ ) có chữ ghi âm (vần) mới. 5 học sinh tô đúng và xong sớm sẽ chi
đinh nói kết quả và nhận thưởng.
+ Chuẩn bị và tổ chức: Giáo viên sao chép hình ảnh một số con yật, đổ yật, người có
tên gọi là từ chứa âm (vần) mới. Nên sao cả một vài hình ảnh của người, vật mà tên gọi
không có âm, vần mói để học sinh lựa chọn. Ghi tên gọi dưới mỗi hình, kẻ khung cho
từng chữ ghi mỗi tên gọi. Chụp các hình này vào một trang giấy rồi nhân bản cho mỗi
học sinh hoặc một nhóm một bản để chơi.
Minh hoạ bài 12: i - a
Hình con ong Hình cái lá Hình Hình
ngã ba đường ngôi nhà ngói
lá ngã ba nhà lá
* Nên dùng trò choi này ở những bài đầu của phần học âm và chữ cái.
4.2. Loại 2: Trò chơi thi ghép vần, tiếng,từ.
+ Mục đích: Nhớ mặt chữ ghi vần mới, ghép vần mới vói phụ âm đầu và thanh để tạo
tiếng mới; đọc trơn; nêu ý nghĩa của tiếng hoặc từ tìm được.
+ Cách choi: Giáo viên tổ chức cho học sinhchoi ghép vần, tiếng từ, theo nội dung bài
học, có chú ý dẫn dắt, mở rộng vốn từ và vốn hiểu biết của học sinh.
* Ví dụ bài 44: on - an, sau khi học xong bài GV cho học sinh ghép tiếng ngoài bài có
chứa vần on, vần an theo hai dãy ( dãy 1 ghép tiéng chứa vần on, dãy 2 ghép tiếng
chứa vần an) vào bảng gài. HS ghép xong, GV yêu cầu học sinh từng tổ gắn từ lên
bảng hỏi thêm để từng em nêu rõ tiêng tìm được có trong từ (hoặc cụm từ) nào, như:
man (lan man), than (than đá), đan (đan lưói), gan (gan dạ), tan (tan học), bán (bán
hàng) Tổ nào ghép được nhiều từ đúngvà hay sẽ là tổ chiến thắng.

thưởng.
* Nên tổ chức cho cả lớp cùng choi, trò choi này có thể dùng ở các bài học âm, vần
mới và bài ôn tập hoặc trong các tiết hoạt động tập thể.
Trên đây là minh hoạ một vài trò choi mà tôi đã áp dụng. Trong quá trình áp dụng tôi
nhận thấy để trò choi có hiệu quả, ngoài việc chuẩn bị trò choi thì việc lựa chọn sao cho
phù hợp với nội dung bài cũng là điều quan trọng.
Biện pháp 4: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
1. Các hình thức tổ chức luyện đọc, luyện viết, luyện nói trong tiết học vần:
1.1.Luyện đọc:
Đọc thành tiếng (Trên bảng lớp, trong sách giáo khoa, ở bìa ghép chữ hay "bảng quay
âm - vần tiếng" ),đọc nhẩm - đọc thầm (qua sử dụng vở bài tập Tiếng Việt 1, trong
SGK ), với các hình thức: đọc theo cá nhân -theo tổ -theo nhóm - cả lớp.
1.2.Luyện viết:
Viết vào bảng tay, viết trên bảng lớp, viết trong vở tập viết.
1.3.Luyện nói:
Nói câu, nói theo chủ đề với các hình thức: Nói cá nhân - nói trong nhóm.
2. Tác dụng của việc vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
- Tạo môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn luyện 4 kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói).
- Tạo điều kiện cho mọi học sinh đều luyện đọc, luyện viết, luyện nói.
- Tạo điều kiện cho các em cách làm việc tập thể theo nhóm, học cách phối hợp với
bạn bè trong học tập.
- Học sinh được luyện tập kĩ năng đọc, viết theo nhiều hình thức.
- Chống học vẹt.
- Ghi nhớ bằng nhiều giắc quan cách đọc, cách viết giúp học sinh không nhàm chán
và ghi nhớ hơn bài học.
3. Một số lưu ý khi tổ chức các hình thức học tập.
- Cần kết hợp sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, tận dụng thễ mạnh của mỗi hình thức học
tập trong quá trình dạy học.
- Tổ chức dạy học theo nhóm chỉ thích hợp với các nội dung học tập cần có sự thảo

Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngưòi Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho
học sinh.
Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học rất chú trọng đến việc hình thành kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt, do vậy việc hướng dẫn học sinh lớp 1 các kĩ năng thực hành Tiếng
Việt (Đọc , viết, nghe , nói) là điều rất quan trọng.
2. Mô tả giải pháp:
a. Nguyên lý của giải pháp:
Cấu trúc của quá trình dạy Tiếng Việt cần rèn luyện 4 kĩ năng:
- Nghe - nói
- Đọc - Viết
b. Các nội dung công nghệ chủ yếu:
Bốn bước cần rèn luyện 4 kĩ năng:
- Nghe - nói
Nghe và nói được câu, nói theo chủ đề với các hình thức: Nói cá nhân - nói trong
nhóm.
- Đọc:
Đọc thành tiếng (Trên bảng lớp, trong sách giáo khoa, ở bìa ghép chữ hay "bảng
quay âm - vần tiếng" ),đọc nhẩm - đọc thầm (qua sử dụng vở bài tập Tiếng Việt 1,
trong SGK ), với các hình thức: đọc theo cá nhân -theo tổ -theo nhóm - cả lớp.
- Viết :
Viết vào bảng tay, viết trên bảng lớp, viết trong vở tập viết, vở ô li.
Từ thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu, tôi rút ra một số kết luận sau:
* Để học sinh phát huy tính tích cực, chủ động cần:
+ Sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả.
+ Tổ chức trò choi học tập.
+ Có hệ thống câu hỏi hợp lí.
+ Tổ chức dạy học với nhiều hình thức, làm cho lóp học thêm sinh động
+ Động viên, khen thưởng kịp thời.
Để các tiết dạy thành công giáo viên phải nắm chắc mục đích yêu cầu bộ môn, phải
hiểu tâm lí của trẻ mới đến trường, phải có sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status