Đặc điểm nổi bật về nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của tạp văn Phan Thị Vàng Anh - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Theo M. Bakhtin, thể loại luôn là nhân vật chính trên sân khấu văn
học. Thể loại vừa chứa đựng hạt nhân cơ bản ổn định, có tính loại hình, vừa
không ngừng vận động, biến đổi, không chịu gò mình trong giới hạn truyền
thống. Vì thế, thể loại cũng là nơi thể hiện rõ nét cá tính sáng tạo của nhà văn.
Thể tạp văn xuất hiện khá sớm trong lịch sử văn học Việt Nam, song lâu
nay ít được giới nghiên cứu quan tâm, chú ý như với các thể loại khác. Một
phần vì người sáng tác không mấy ai chọn tạp văn để thực hiện mơ ước về tác
phẩm để đời. Một phần nữa do quan niệm của số đông độc giả coi tạp văn như
thể loại “cận văn học”, gắn với báo chí, là một thứ văn không có diện mạo,
không được định danh một cách nhất quán.
Trong hai thập kỉ trở lại đây, văn học Việt Nam đã và đang tự làm mới
mình bằng sự xuất hiện của nhiều nhà văn trẻ tài năng, giàu tâm huyết. Những
con người trẻ tuổi, trẻ lòng ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào một “thế giới văn
chương già cỗi - hay nói đúng hơn có nguy cơ già cỗi” [3,6]. Thói quen làm
việc với internet, điện thoại di động, cách ứng xử ở thời đại bùng nổ thông tin,
tốc độ sống chóng mặt... khiến tạp văn trở nên đắc dụng. Hầu hết các tờ báo
đều dành đất cho tạp văn, quy tụ được không ít cây bút vốn đã thành danh ở
những thể loại văn học khác. Có thể kể tới Tản mạn trước đèn của Đỗ Chu
(giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005); Nghiêng tai dưới gió của
Lê Giang; Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập, Gánh đàn bà của Dạ Ngân; Tản
mạn nhớ và quên của Nguyên Ngọc; các tác phẩm của Tô Hoài, Nguyễn Khải,
Hồ Anh Thái, Băng Sơn, Nguyễn Trương Quý, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Ngọc
Tư, Phan Thị Vàng Anh... Với tạp văn, người viết dường như thỏa sức bày tỏ
những trăn trở, nghĩ suy của mình về cuộc sống. Vì thế, đã không ít người cho
rằng thời nay là “thời của tản văn, tạp bút” (Trần Hoàng Nhân).

1





(1995); Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh - Nguyễn Trọng Nghĩa (NXB Công
an nhân dân, 1999); Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (NXB Trẻ, 2011). Dù
không nhiều về số lượng song truyện ngắn của chị đã tạo được dấu ấn sâu sắc
trong lòng độc giả cũng như những nhà nghiên cứu, phê bình văn chương.
Nhận xét về tài viết truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh, đáng chú ý là ý
kiến của dịch giả Huỳnh Phan Anh: “Vàng Anh là một tài năng trẻ, một nhà
văn sớm định hình ngay từ tập truyện ngắn đầu tay, một giải thưởng Quốc gia
dành cho nhà văn trẻ... và còn gì nữa? Tất cả đều đúng nhưng tôi không quên
rằng vượt lên những thông tin đó, tác phẩm của Vàng Anh hay bất luận của ai
khác dù bao người đã đọc tới và nói tới, vẫn còn và mãi mãi còn một sự chờ
đợi, thách thức” [31,16].
Đánh giá về hai tập truyện ngắn Khi người ta trẻ và Hội chợ, Huỳnh
Như Phương khẳng định: “Hai tập truyện ra đời trong khoảng cách hai năm,
mỏng mảnh như nhau, bao gồm những truyện ngắn có khi rất ngắn, bấy nhiêu
cho một thế giới đang hình thành sinh sôi, nảy nở, một thế giới không ngớt trở
về trên những trang giấy, đang kêu gọi, bổ sung cho nhau, vẫn là nó, nhưng
không đơn giản là nó, bởi nó luôn được vén mở soi rọi thêm, nó luôn tìm kiếm
những bến bờ và chiều sâu mới” [31,18]. Ông một lần nữa ghi nhận tài năng
của chị trong bài viết Sân chơi của Vàng Anh: “Vàng Anh biết lạ hóa những
điều quen thuộc, biết làm cho da diết những điều tưởng như nhạt nhẽo” [3,6].
Ở truyện ngắn của chị, người đọc như được đồng hành cùng một người trẻ tuổi
đang say mê khám phá chính mình, lứa tuổi mình và thời đại mình. Đó là tất cả
những gì cụ thể, rất thường tình mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong cuộc sống
hiện đại hôm nay, trong mối quan hệ gia đình, bè bạn, thầy trò, tình yêu..., từ
đó, nhận ra bao hiện thực ngổn ngang của thế sự qua cách nhìn của giới trẻ những con người tuổi còn trẻ nhưng lắm ưu tư. Chung quan điểm ấy, Bùi Việt
Thắng tâm đắc với chiều sâu tác phẩm Phan Thị Vàng Anh: “Đọc Phan Thị
Vàng Anh ta bớt được một phần lối nhìn đời đơn giản một chiều, thêm một lần


tại bằng cách cảm, cách nghĩ, cách nói của lớp người đương thời... ngôn ngữ

4


điện đại, bằng cách tư duy mới mẻ, bằng những ý tưởng trẻ trung... hình thức
ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, hấp dẫn và minh triết”. Bà cũng tinh tường phát
hiện ra rằng mỗi bài viết của Phan Thị Vàng Anh có “sự tích hợp những ưu thế
của cả hai loại hình: văn chương và báo chí, chất báo và chất văn hòa quyện
vào nhau, tạo nên một phong cách nghệ thuật riêng, phong cách của một nhà
văn đi làm báo”. Phong cách ấy được chị thể hiện trong cách phát hiện, kiến
giải vấn đề thông minh, sắc bén, trong nghệ thuật biểu hiện độc đáo và giàu
chất u-mua.
Trên trang Phongdiep.net, bài viết Tản văn - thể loại không dành cho
người viết trẻ?, tác giả Nguyễn Hồng Nga đánh giá về khả năng hàm chứa, tính
triết lý sâu sắc trong sáng tác của Phan Thị Vàng Anh: “Tạp văn Phan Thị
Vàng Anh đầy tính tư duy và hàm chứa nhiều ý nghĩa cuộc sống về con người,
đất nước Việt Nam...”. Còn nhà báo Thu Hà, trên VnExpress nhận xét: “Trong
nhịp sống gấp gáp đang trôi qua hờ hững, khi đọc những dòng suy nghĩ của
Thảo Hảo, người ta bỗng giật mình vì dường như mình đã làm vuột qua nhiều
điều thú vị trong cuộc sống... Nó có sự logic sắc sảo của lý trí, phân tích nhìn
nhận vấn đề theo nhiều chiều. Tác giả không ngại nói thẳng, thậm chí ngoa
ngoắt khi bàn đến những mặt trái trong cuộc sống... Ẩn sau mỗi sự kiện là tâm
trạng nôn nóng, tấm lòng trách nhiệm của người cầm bút...” [41]. Quả đúng
vậy, mỗi bài viết của Vàng Anh dù chỉ luận về một vấn đề, một hiện tượng nhỏ
trong đời sống song đủ sức gợi ra những triết lý sâu xa, khiến người đọc không
khỏi ngỡ ngàng, tâm đắc.
Cũng là một trong những cây bút khá thành công với thể loại tạp văn,
Nguyễn Trương Quý đánh giá cao tài năng của người đồng nghiệp trong cách
khai thác đề tài, chiều sâu tư duy và thái độ quyết liệt: “Hồi tản văn Thảo Hảo

4. Phạm vi nghiên cứu
Tạp văn Phan Thị Vàng Anh được đăng rải rác trên nhiều báo và tạp chí.
Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc khảo sát, chúng tôi chủ yếu tập trung vào hai
tập sách:
1. Nhân trường hợp chị Thỏ Bông (2005) - NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.
2. Tạp văn Phan Thị Vàng Anh (2011) - NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

6


5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại: được sử dụng chủ yếu khi nhận
diện đặc điểm tạp văn Phan Thị Vàng Anh.
5.2. Phương pháp phân tích tác phẩm theo thể loại: nhằm chỉ ra những
sáng tạo của ngòi bút tạp văn Phan Thị Vàng Anh.
5.3. Phương pháp so sánh - đối chiếu: nhằm tìm ra chỗ tương đồng và
khác biệt giữa tạp văn với truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, giữa tạp văn Phan
Thị Vàng Anh với tạp văn của một số cây bút cùng thời.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Vài nét về thể loại tạp văn và vị trí của tạp văn trên hành trình văn
học của Phan Thị Vàng Anh
Chương 2. Đặc điểm tạp văn Phan Thị Vàng Anh nhìn từ góc độ nội dung
Chương 3. Đặc điểm tạp văn Phan Thị Vàng Anh nhìn từ góc độ nghệ thuật

7


PHẦN NỘI DUNG

phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã
hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng, sắc sảo” [44,1601]. Trong cách diễn
giải này, các tác giả đều quan niệm tạp văn bắt nguồn từ văn học Trung Quốc
mà người khởi xướng chính là Lỗ Tấn. Họ nêu những đặc điểm chính của tạp
văn: kết hợp tính chính luận và tính văn học, tính ngắn gọn, tính thời sự. Định
nghĩa đó không sai nếu ta soi chiếu vào tạp văn của Lỗ Tấn hay Ba Thợ Tiện
(Hoàng Thoại Châu) ở Trung Quốc (thí dụ tác phẩm: Con chó hay đồ chó, Cái
đầu, Chất lượng, Nghệ thuật ăn, Hạ cánh an toàn...) hay tạp văn của các nhà
văn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 như Ngô Tất Tố, Ngô Đức
Kế... Tạp văn của họ đều đậm chất thời sự, tính chiến đấu. Nhưng khi soi chiếu
vào tạp văn của các cây bút đương đại, sẽ có sự vênh lệch. Đọc tạp văn của
Trần Huyền Ân, Lê Giang, Nguyễn Ngọc Tư... ta thấy họ nghiêng nhiều về suy
tư, cảm xúc hơn là tính chiến đấu, tính thời sự. Trong cách nhìn truyền thống
thì tạp văn có lúc bao gồm cả tản văn, có lúc lại là một tiểu loại trong tản văn.
Thực tế, một bộ phận lớn tác phẩm được chính người cầm bút gọi là tạp
văn ở nước ta hiện nay không phải là tạp văn như định nghĩa truyền thống.
Nhiều tạp văn, nhất là những tạp văn trên blog, đơn thuần chỉ là những áng văn
ngắn ghi lại những suy tư, những ý kiến chủ quan của người viết về những vấn
đề hết sức cá nhân.
Tinh tế và hài hước, Võ Phiến bàn về tạp văn qua sự chia sẻ nỗi khổ của
nhà phê bình Hoài Thanh: “Khi Hoài Thanh viết xong cuốn Thi nhân Việt Nam,
muốn tự xếp cho mình một chỗ ngồi trên văn đàn, ông loay hoay khổ sở: Ông
là gì đây? Là tiểu luận gia chăng? Là tùy bút gia? là tùy hứng gia chăng?
Nhưng dù là gì đi nữa, sự phân vân ấy của ông cũng chưa diễn tả hết mọi
phiền hà rắc rối ngụ trong chữ essai (essay) của Tây phương. Nó là tiểu luận,
là tùy hứng, cũng là tùy bút, bút ký, là tạp ký, tạp luận, tạp bút, tạp văn, là
nhận định, phiếm luận...” (Tổng quan văn học miền Nam, www.tienve.org).
Như vậy nghĩa là tác phẩm tạp văn vừa có chất của một tác phẩm văn học nghệ

9


10


nghiên cứu xếp những tác phẩm được chính nhà văn định danh là tạp văn vào
thể loại tản văn như Lê Trà My trong Bước đầu tìm hiểu tản văn Việt Nam
thời kỳ đổi mới (Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2005), Phạm Thị Thanh
Thủy trong Đặc điểm thể loại tản văn Tô Hoài (Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà
Nội, 2008), Nguyễn Phương Thùy trong Đặc điểm tản văn Nguyễn Ngọc Tư
(Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP Hà Nội, 2008)... Điều này có nguyên do là quan
niệm khá rộng về tạp văn. Theo nhiều học giả, cả tạp văn và tản văn đều là
những khái niệm có nguồn gốc Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam mà
khó có thể tìm thấy trong ngôn ngữ châu Âu những khái niệm có nội hàm
tương đương. Tuy vậy, trong văn học đương đại Việt Nam, các khái niệm này
cũng có những biến chuyển. Khái niệm tạp văn có vẻ ngày một tách xa khái
niệm tản văn.
Tản văn được sử dụng để xác định một thể thức tổ chức văn bản. Trong lý
luận cổ Trung Hoa, dựa vào thể thức tổ chức văn bản, người ta chia văn bản
thành ba loại thông dụng: vận văn (văn vần), tản văn (văn xuôi), biền văn (văn
biền ngẫu). Theo đó, tản văn có nội hàm thể loại rất rộng. Khái niệm tản văn
được dùng để chỉ phương thức phản ánh đời sống của tác phẩm, đó thường là
phương thức tự sự nhiều hơn là phương thức trữ tình... Trong thời hiện đại, tản
văn chỉ tất cả những thể loại có tính trữ tình, tính nghị luận, tính tự sự mà không
phải là thơ ca, tiểu thuyết, kịch, văn học điện ảnh. Do đó có thể phân loại thành
tản văn trữ tình, tản văn tự sự, tản văn nghị luận. Trên nghĩa hẹp, tản văn chuyên
chỉ văn xuôi trữ tình, vì theo sự phát triển của thể loại, những cách viết chuyên
để đặc tả, ghi chép, báo cáo trong tản văn tự sự đã phát triển thành thể loại độc
lập (như kí sự, phóng sự); và tản văn nghị luận lại phát triển riêng thành tạp văn.
Gần đây tản văn và tạp văn về mặt hình thức dần dần phân biệt rõ.
Có thể nói, tạp văn là một nhánh của tản văn, là một biến thể của văn

rằng: “Thường thì người viết trọng kỹ thuật chọn lối vòng vèo nhiều thủ pháp
đánh lừa người đọc hoặc gài bẫy, phục bút để độc giả thu được sự khoái trá
khi đọc xong. Tuy vậy, đạt tới sự giản dị và nhuần nhuyễn trong cách viết mà

12


giấu được những kỹ thuật đi là điều khó nhất. Đó là thách thức trong việc tiếp
cận chủ đề” [73].
Nhìn chung, tạp văn mang một số đặc trưng cơ bản dễ nhận diện:
Thứ nhất, tạp văn là những tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, khác
biệt với các tác phẩm thuộc thể ký (tùy bút, phóng sự, du ký) thường khá dài.
Tạp văn có dung lượng nhỏ, thường xoay quanh một hình ảnh, một chi tiết nào
đó để làm nổi bật tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Tạp văn ra đời đáp ứng nhu
cầu phản ánh, bộc lộ lập tức ý nghĩ, suy ngẫm của người viết trước một vấn đề
cuộc sống. Vì thế, hệ thống hình ảnh, chi tiết được sử dụng cũng hết sức tinh
lọc, ngắn gọn, không quá tản mạn như tùy bút nhằm tập trung làm nổi bật cảm
xúc cơ bản của người viết về vấn đề bên ngoài hoặc cá nhân. Vì lí do này, tạp
văn dễ tìm được chỗ đứng trên các trang báo, dễ tới với người đọc trong sự tất
bật của cuộc sống hiện đại. Trần Hoàng Nhân cho rằng: “hiện nay là thời của
tạp bút khi quỹ thời gian của người đọc không đủ dành cho tiểu thuyết dông
dài. Tạp bút, tản mạn đâu phải chuyện “thiên tào”, mà là chuyện rất người”
[68]. Mỗi tạp văn thường chỉ khoảng tám trăm đến hai nghìn từ, vừa vặn với
một trang giấy hay một, hai cột báo. Song không vì thế mà tạp văn mất đi tính
hấp dẫn hay không thể nói tới những vấn đề có tầm vóc lớn lao.
Thứ hai, tạp văn có sự tương đồng với thể ký ở vai trò trung tâm của hình
tượng tác giả. Đa phần các tạp văn được trần thuật bởi ngôi thứ nhất xưng
“tôi”. Đối với những tạp văn không có nhân vật xưng “tôi” thì hình tượng tác
giả vẫn hiện diện, trực tiếp dẫn dắt, chỉ đạo các yếu tố khác như chi tiết, hình
ảnh trong tác phẩm nhằm đưa người đọc đến với cái đích mà tác giả mong

bản, những nhân cách cao đẹp, những cách ứng xử văn hóa giữa con người với
con người, con người cá nhân với cộng đồng, con người với quê hương đất
nước, con người với thiên nhiên...” [59,287]. Vì vậy, tạp văn tăng thêm sức
nặng cho báo chí, ngược lại, sự sôi động của báo chí tác động tích cực đến sự
phát triển của thể loại này. Các chuyên mục tạp văn như: “Thú chơi người Hà
Nội” (Người Hà Nội), “Nhàn đàm” (Văn nghệ), “Nhàn đàm” (Thanh niên),

14


“Tôi nghe, đọc, xem, thấy” (Thể thao - Văn hóa), “Tạp văn Hà Nội” (Hà Nội
mới cuối tuần)... đã thực sự được độc giả yêu thích.
Thứ tư, phải nói tới khả năng dung hợp dễ dàng các thể loại, các phương
thức nghệ thuật biểu hiện dẫn đến hình thức tự do, phóng túng của tạp văn.
Ngô Tất Tố khẳng định: “Tạp văn là một lối văn đặc biệt.... Nhẹ nhàng mà vẫn
thâm thúy, thẳng thắn mà vẫn kín đáo, cứng rắn mà không làm mất duyên
dáng, nghiêm nghị mà không làm mất thân mật, bóng bẩy nhưng vẫn rõ ràng
như cục đất ném vào mặt, với một chút gì, nhưng chất phác, tinh nghịch, như dí
dỏm, khóc hổ người, cười ra nước mắt, đó là tạp văn” [48,139]. Ở tạp văn,
người viết có thể kết hợp cả những yếu tố nghệ thuật và phi nghệ thuật (văn
chương và báo chí). Nó dung nạp cả phương thức tự sự, phương thức trữ tình
và phương thức nghị luận, có thể đan xen “những điều trông thấy” và những
cảm xúc, suy tư, liên tưởng của người viết. Điều đó mang lại cho tạp văn bản
chất năng động, khi gần gũi ngụ ngôn, giai thoại, lúc mang dáng dấp của bút
ký, tùy bút... Trong tạp văn, người đọc cảm nhận được cá tính riêng của tác giả
thể hiện ở vấn đề mà họ đề xuất, cách kiến giải vấn đề và sự can dự của người
viết vào thời đại mình đang sống với tư cách của một nhà tư tưởng, một triết
gia hay một nghệ sĩ...
Do sự bề bộn của tạp văn đương đại, chúng tôi chấp nhận một định nghĩa
về tạp văn với nội hàm tương đối rộng mở, điều đó phù hợp với thực tiễn vận

do với hình thức ngắn gọn, trình bày trực tiếp tư tưởng tác giả về những vấn thề
thời sự, xã hội và nhân sinh, được đăng chủ yếu trên các báo và tạp chí bấy giờ
như: mục "văn xuôi" của Nam Phong tạp chí, mục "Xét tật mình" của Đông
Dương tạp chí, "Câu chuyện hàng tuần" hay "Góp...nhặt"... trên Sông Hương
tục bản... Các sáng tác ấy cũng xuất hiện đơn lẻ, rời rạc chứ người viết chưa
chú tâm hướng đến những tuyển tập dầy dặn (trừ một vài tuyển tập hiếm hoi:
Tản Đà tản văn (Hương Sơn, 1942), Trước đèn của Phùng Tất Đắc (Tân Dân,

16


1939), Tản văn mới của nhiều tác giả (Văn Lâm, 1940), Tùy bút của Nguyễn
Tuân (Cộng Lực, 1941)...)
Đội ngũ viết tạp văn bấy giờ phải kể tới những học giả đi đầu trong việc
hô hào tân văn như: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi... có những
nhà văn vốn xuất thân Nho học nhưng chịu không ít ảnh hưởng văn hóa Tây
phương như Tản Đà, có những cây bút tiêu biểu cho giai đoạn văn học trước
1945 như: Lưu Trọng Lư, Thạch Lam, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn
Tuân...; có người vì duyên nợ với văn chương mà thường xuyên góp mặt bằng
bài tạp văn trên các báo và tạp chí hàng kì như: Vũ Ngọc Liễn, Mân Châu,
Minh Phượng, Châu Nguyên, Hoàng Ngọc Phách, Phan Kế Bính, Hoàng Tích
Chu, Hội Nhân, Phạm Kỹ, Nguyễn Khắc Hanh...
Về nội dung, tạp văn đầu thế kỉ XX xoay quanh một số đề tài cơ bản.
Hoặc nghiêng về giới thiệu các địa danh, các chuyên du ngoạn, các thú vui
chơi, lễ hội như: Khai bút của N.V.V trên Đông Dương tạp chí, Lễ thanh minh
của Phó Đức Thành trên Nam Phong tạp chí, Bài kí núi Cố Tính của Dương
Mạnh Huy hay Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam...; hoặc nghiêng
về luận lẽ đời, thời vận, văn chương như: Xã hội loài nhảy của Tùng Vân,
Tính dễ tính khó của Hoàng Tích Chu, Mái Tây của Lưu Trọng Lư, Văn nghệ
của Hoài Thanh...; hoặc nghiêng về bộc lộ cảm xúc trước thiên nhiên, hồi

chuyện, mà tất cả những cảnh đời thường chỉ là cái cớ để nhà văn bộc lộ cái tôi
của mình. Chẳng hạn: Một lá thư không gửi, Một người lữ khách giữa thành
phố chúng ta, Lại đi nữa.... Có lẽ vì thế, Vương Trí Nhàn nhận định: “Tùy bút
Nguyễn Tuân ở phương diện này chính là sự kéo dài của tạp văn Tản Đà đến
một trình độ mà Tản Đà chưa thể nghĩ tới” (Nguyễn Tuân và thể tùy bút, Tạp
chí Văn học, số 6/1997).
Có thể nói những cây bút tạp văn tiêu biểu đầu thế kỉ XX đã có ảnh
hưởng tích cực tới sự phát triển của thể loại tạp văn sau này.
1.2.1.2. Tạp văn từ 1945 đến trước đổi mới
Trong khoảng thời gian diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mĩ, văn học hướng tới quần chúng công - nông - binh với mục tiêu tuyên

18


truyền chính trị, cổ vũ tinh thần chiến đấu, ca ngợi các giá trị truyền thống như
lòng nhân ái, niềm tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết chiến đấu... Con người
cộng đồng, tập thể lên ngôi, con người cá nhân bị khước từ, dẹp bỏ. Các thể
loại lấy cái tôi làm trọng tâm đương nhiên không thể phát triển như giai đoạn
trước. Tản văn, tạp văn giai đoạn này tập trung vào nội dung cơ bản là ngợi ca
đất nước tươi đẹp, truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường, những địa
danh lịch sử hào hùng, những anh hùng dân tộc... Hà Nội giải tù Mỹ qua phố
Hà Nội, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi của Nguyễn Tuân tiêu biểu cho hướng chuyển
động này. Chất kí sự pha trữ tình sử thi đã thay đổi diện mạo tạp văn. Người ta
ít nói đến tạp văn theo nghĩa là nói chuyện đời thường vụn vặt, với cái nhìn
riêng, cá biệt.
Vì tạm gác những vấn đề riêng tư, cá nhân hoặc những điều không thực
sự ích lợi cho hoàn cảnh đất nước thời ấy nên tạp văn kém phong phú về đề tài,
cảm hứng và sắc màu thẩm mĩ... Các sáng tác đều mang âm hưởng chung của
thời đại: cổ vũ chiến đấu, khẳng định chân lý Xã hội chủ nghĩa. Cấu tứ chủ yếu

diễn đàn văn học... đầy mới mẻ. Điều kiện công bố thuận lợi, những đổi thay
vũ bão của cuộc sống khiến người ta muốn viết, muốn trình bày, tranh luận với
người khác tất cả những gì đang diễn ra quanh mình. Vì thế không chỉ các nhà
văn chuyên nghiệp mà những cây bút nghiệp dư cũng thỏa sức thể hiện mình.
Trước nhịp sống hối hả, khi con người ngày càng bị cuốn vào dòng chảy bất
tận của công việc, của xã hội công nghệ, của áp lực thời gian... thì những trang
viết càng đòi hỏi sự súc tích, nén thông tin, sao cho người đọc thỏa mãn lượng
thông tin tối đa trong lượng thời gian tối thiểu. Do vậy, yêu cầu viết ngắn, viết
hàng ngày đã trở thành thói quen của nhiều cây bút và kéo theo sự phát triển
mạnh mẽ của thể loại ngắn về dung lượng, độc đáo về ý tưởng và sâu sắc về tư
tưởng, đó chính là tạp văn.
Có thể nói, tạp văn ở Việt Nam đã đạt đến đỉnh cao trong những năm gần
đây. Số lượng tác phẩm xuất hiện trên các trang báo, các trang blog hay được in
thành sách... thật khó có thể thống kê hết. Người ta có thể nhận thấy nguồn xuất
hiện tạp văn thông thường là từ các trang blog cá nhân như của Nguyễn Quang

20


Lập, Hồ Anh Thái, Phong Điệp..., từ các trang báo giấy, báo mạng của Mai
Văn Tạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Băng Sơn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn
Trương Quý, Phan Thị Vàng Anh...
Hơn mười năm cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI là khoảng
thời gian tạp văn phát triển sôi nổi nhất. Các tờ báo từ lớn tới nhỏ, từ truyền
thống tới mới xuất hiện, ở từng lĩnh vực, từng lứa tuổi, từng địa phương... báo
nào cũng dành một mục thường xuyên đăng tải các bài tạp văn như: “Thú chơi
người Hà Nội” (Người Hà Nội), “Nhàn đàm” (Văn nghệ), “Nhàn đàm” (Thanh
niên), “Tôi nghe, đọc, xem, thấy” (Thể thao - Văn hóa), “Tạp văn Hà Nội” (Hà
Nội mới cuối tuần)... Sự nở rộ của thể loại tạp văn trong văn học đương đại một
phần lớn nhờ vai trò của báo chí. Ngoài xuất hiện trên báo chí, còn có nhiều tác

đời sống hàng ngày, là sự nóng hổi của những sự kiện từ chính thống đến vỉa
hè. Từ đó, người đọc thấy rõ cách nhìn, cách nghĩ và kiến giải của lớp người trẻ
tuổi, đang sống cùng nhịp thở của Hà Nội hôm nay.
Đó là cố đô Huế trầm mặc, ưu tư với những lăng tẩm, đền đài, thành
quách, với dòng Hương giang thơ mộng gắn với điệu hò sâu thẳm, thiết tha
trong tạp văn Trung tâm thành Châu Hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đó
còn là Sài Gòn năng động, ồn ào, náo nhiệt, đa dạng về văn hóa trong Không
gian tiệm nước (Sài Gòn tạp văn) của 26 tác giả thuộc đủ mọi ngành nghề, từ
nhà văn, nhà thơ, đến Giáo sư dạy Đại học, nhạc sĩ hay họa sĩ... Mỗi người
đóng góp một cách nhìn nhận, một phương diện khác nhau để làm nên cảnh sắc
và tính cách con người Sài Gòn. Đó cũng có thể là miền Tây nước nổi An
Giang trong sáng tác của cây bút chuyên về tạp văn Mai Văn Tạo với Miền đất
quê hương, Lúa trời, vườn sầu riêng Bình Thủy... và đặc biệt là miền đất mũi
Cà Mau trong trang viết của Nguyễn Ngọc Tư với Đất Mũi mù xa, Ngủ ở Mũi,
Chút tình sông nước, Nước và gió, Trăm năm bến cũ con đò...
Cũng trong đề tài này, nhiều tạp văn hào hứng khám phá những nét sinh
hoạt truyền thống, phong tục tập quán, phép ứng xử của con người Việt Nam. Sự
giao lưu quốc tế rộng rãi càng đòi hỏi phải gìn giữ nét đẹp truyền thống. Đó là
thú chơi cây kiểng trong tạp văn của Nguyễn Hà (Mai phương Nam, đào xứ

22


Bắc; Chơi hoa thủy tiên...) là thú ẩm thực trong Rượu làng Vân của Hoàng Phủ
Ngọc Tường, thú cơi cờ trong Luyện cờ của Hoàng Minh Thắng, thú nghe hát
trong Mê chèo của Vũ Tam Huề... Những tạp văn này thiên về tính tự sự, thường
được bộc bạch thông qua câu chuyện từ chính cuộc đời thực của người viết.
Nhưng, điểm mới nhất của tạp văn đề tài này là ở chỗ một số tác giả đi
sâu vào các vấn đề của hiện thực đời sống với cảm hứng chính luận. Tạp văn
thời kì này tiếp cận hiện thực bộn bề, thậm phồn, những chính sách của Nhà

dân chủ hóa mạnh mẽ của toàn xã hội mà đội ngũ sáng tác tạp văn trở nên đông
đúc, sắc sảo đáp ứng tầm đón đợi của người đọc đương đại. Trong những
gương mặt tiêu biểu góp phần làm nên diện mạo thể loại mấy thập kỉ qua, phải
kể tới cây bút đầy cá tính Phan Thị Vàng Anh.
1.3. Ví trí của tạp văn trên hành trình văn học của
Phan Thị Vàng Anh:
1.3.1. Vài nét tiểu sử
Phan Thị Vàng Anh là một trong những cây bút khẳng định được mình
trong sự đa dạng của nền văn học Việt Nam đương đại. Chị đã kịp ghi dấu ấn
của mình ở một số thể loại như: thơ, truyện ngắn, kịch bản phim và nhất là tạp
văn. Sau thành công ở thể loại truyện ngắn, chị trở thành cây bút quen thuộc
trên của mục tạp văn trên một số trang báo. Mỗi bài tạp văn, chị đều thể hiện
cách nhìn, cách cảm của một người trẻ nhưng giàu trí tuệ, một công dân giàu
trách nhiệm và ý thức về cái tôi một cách sâu sắc. Độc giả bắt đầu chú ý tới chị
ngay từ những năm đầu của thập kỉ 90, thế kỉ XX, khi chị được giải thưởng
trong cuộc thi viết truyện rất ngắn của tạp chí Thế giới mới và sau đó là tặng
thưởng uy tín của Hội Nhà văn năm 1994.
Phan Thị Vàng Anh sinh ngày 18 tháng 8 năm 1968 tại Hà Nội, quê ở
huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng trị. Chị tốt nghiệp Đại học Y khoa TP Hồ Chí Minh
năm 1993, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1996 và năm 2005
được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kì VII.

24


Sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn chương (cha là nhà thơ nổi
tiếng Chế Lan Viên, mẹ là nhà văn Vũ Thị Thường), chị thừa hưởng được nhiều
tố chất của cả cha và mẹ. Sau khi tốt nghiệp đại học, chị về công tác tại một bệnh
viện lớn tại TP Hồ Chí Minh. Ngoài công việc chuyên môn ở bệnh viện, chị còn
tích cực phát hiện những tài năng hội họa và giúp họa sĩ trẻ bán tranh. Có thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status