TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
CHU THỊ HẠNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH
ĐỂ QUẢN LÝ HÀNH VI TĂNG ĐỘNG
CỦA TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Hoa
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô
giáo, Th.S Nguyễn Thị Hoa – người luôn nhiệt tình, quan tâm, hướng dẫn chỉ
bảo em trong quá trình nghiên cứu đề tài này. Mặc dù công việc bận rộn
nhưng cô luôn dành thời gian để động viên, đưa ra những góp ý và giúp đỡ
em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp. Một lần nữa em xin cảm ơn cô, chúc
cô luôn mạnh khỏe, công tác tốt và thành công trong sự nghiệp trồng người.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, các cô khoa Giáo Dục Đặc
Biệt của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Đặc biệt là cô giáo, Th.S Đỗ Thị
Thảo và TS Nguyễn Nữ Tâm An đã tạo cơ hội cho em xuống trung tâm của
các cô để làm thực nghiệm cho đề tài của mình và có những góp ý để em hoàn
thành bài khóa luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Mầm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ rối loạn phổ Tự kỉ (RLPTK)
nói riêng đang ngày càng nhận được sự quan tâm của xã hội. Số lượng trẻ
RLPTK ngày càng gia tăng. Tại Khoa Phục hồi chức năng - Bệnh viện Nhi
Trung ương, trẻ RLPTK đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm
2000; số trẻ RLPTK đến điều trị năm 2007 tăng gấp 33 lần so với năm 2000
[3]. Qua đây đòi hỏi nghành giáo dục nước ta phải tìm ra biện pháp để giáo
dục trẻ RLPTK một cách hiệu quả. Các nhà tâm lý, giáo dục trên thế giới đã
và đang tiến hành các nghiên cứu để tìm ra các phương pháp giáo dục trẻ
RLPTK như TEACCH của tiến sĩ Eric Schopler; Phân tích hành vi ứng dụng
(ABA) của các nhà hành vi học Baer, Wolf, Risley; Dựa trên sự phát triển, sự
khác biệt cá nhân và các mối quan hệ (DIR) của Stanley Greespan Weider…
Nhưng khi áp dụng vào Việt Nam thì còn gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt
về văn hóa, xã hội và ngôn ngữ…
Ở Việt Nam hiện nay các cơ sở chăm sóc và giáo dục sử dụng khá
nhiều các phương pháp giáo dục trẻ RLPTK. Tuy nhiên việc áp dụng các
phương pháp còn chưa được triệt để do vậy hiệu quả can thiệp chưa được cao.
Do đó vấn đề giáo dục cho trẻ RLPTK cần được đầu tư và quan tâm để xây
dựng các biện pháp và hoạt động giáo dục cho phù hợp và có hiệu quả hơn.
Giáo dục trẻ RLPTK là vấn đề khó, đòi hỏi người giáo viên cần kiên
trì, có chuyên môn và có nhiều sự sáng tạo để đưa ra các biện pháp, hoạt động
phù hợp với trẻ thì mới có hiệu quả cao. Một trong những cách làm hiệu quả
đó là quản lý tốt hành vi của trẻ RLPTK, đặc biệt là hành vi tăng động. Đây là
việc làm quan trọng và cần thiết để làm nền tảng cho trẻ RLPTK học tập tốt
và là điều kiện để trẻ học được trong môi trường hòa nhập.
xuất hiện nhiều ở trẻ RLPTK. Việc ứng dụng hiệu quả phương pháp
TEACCH có thể làm giảm hành vi hành vi tăng động của trẻ RLPTK.
6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết 3 vấn đề sau:
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về RLPTK, quản lý hành tăng động
của trẻ RLPTK, phương pháp TEACCH.
+ Khảo sát thực trạng về việc sử dụng phương pháp TEACCH để quản
lý hành vi tăng động cho trẻ RLPTK.
+ Đề xuất và tiến hành thử nghiệm một số hoạt động sử dụng phương
pháp TEACCH để quản lý hành vi tăng động của trẻ RLPTK.
6. Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc
ứng dụng cấu trúc hóa hoạt động trong quản lý tăng động của trẻ RLPTK.
- Giới hạn về khách thể khảo sát: 31 Giáo viên dạy trẻ RLPTK đã và
đang dạy theo phương phápTEACCH.
- Giới hạn địa bàn khảo sát: Trường mầm non Ánh Sao Mai, Trung tâm
Khánh Tâm.
- Giới hạn khách thể thực nghiệm: 01 trẻ RLPTK 6,5 tuổi theo học tại
lớp can thiệp sớm tại Trường Mầm non Ánh Sao Mai-Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp này nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề
lý luận có liên quan đến RLPTK, phương phápTEACCH, quản lý hành vi cho
trẻ RLPTK qua nghiên cứu các tài liệu nước ngoài, giáo trình, luận văn, luận
án,… về RLPTK, phương pháp TEACCH.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
8
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ QUẢN LÝ
HÀNH VI TĂNG ĐỘNG CỦA TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.1. Trên thế giới
Giáo dục cho trẻ RLPTK và quản lý hành vi cho trẻ RLPTK đang ngày
càng được quan tâm, trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn
đề này với số lượng khổng lồ về trẻ RLPTK và hành vi của trẻ RLPTK. Có thể
chia thành các hướng nghiên cứu sau: Nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến trẻ
RLPTK; đặc điểm của trẻ RLPTK; những khó khăn của trẻ có RLPTK; và các
nghiên cứu ứng dụng phương pháp trị liệu và giáo dục cho trẻ RLPTK…
Can thiệp sớm cho trẻ RLPTK là việc làm rất cần thiết và là một chủ đề
lớn từ trước đến nay. Các nghiên cứu về can thiệp sớm đều chỉ ra lợi ích to
lớn mà trẻ RLPTK được hưởng đó là trì hoãn sự phát triển của bệnh, nhanh
chóng tìm ra các phương pháp để giáo dục cho trẻ, cơ hội để trẻ hòa nhập với
xã hội và học các kỹ năng sẽ dễ dàng hơn. Tóm lại can thiệp sớm sẽ tạo ra sự
phát triển tối ưu nhất cho trẻ RLPTK. Các nghiên cứu về can thiệp sớm cho
trẻ RLPTK có một số kết quả quan trọng thu được như: Hiệu quả của biện
pháp can thiệp sớm; ảnh hưởng của độ tuổi tới hiệu quả can thiệp sớm; điều
kiện để tiến hành can thiệp sớm cho trẻ RLPT; các mô hình can thiệp sớm cho
trẻ RLPTK hiện nay được xây dựng chủ yếu trên cơ sở phương pháp can thiệp
chuyên biệt như: Trị liệu và giáo dục cho trẻ RLPTK và trẻ có khó khăn về
giao tiếp - TEACCH; phân tích hành vi ứng dụng - ABA; dạy học thông qua
giáo dục và trị liệu cho trẻ RLPTK tại Bắc Carolia.
Ngay từ khi sáng lập, Eric Schopler và các đồng sự của mình tin rằng
RLPTK là một dạng rối loạn phát triển (chứ không phía là rối loạn cảm xúc)
10
cha mẹ không phải là nguyên nhân dẫn đến con bị RLPTK và họ hoàn toàn có
thể trở thành những người “giáo viên” tốt của con mình. Đây cũng là ý tưởng
cho việc phát triển các dịch vụ can thiệp không chỉ trực tiếp hướng đến đứa
trẻ mà gián tiếp thông qua gia đình của các em.
Division TEACCH được ra đời từ dự án nghiên cứu trẻ em và kể từ khi
thành lập tới nay, tại đây đã can thiệp cho khoảng 5000 cá nhân RLPTK ở các độ
tuổi khác nhau. Division TEACCH tiếp nhận các cá nhân RLPTK ở mọi khả
năng và độ tuổi. Bắt đầu bằng việc chẩn đoán các dấu hiệu bất thường trong độ
tuổi 2 đến 4 tuổi. Gia đình trẻ phải học để có những hiểu biết cơ bản về RLPTK
dưới sự hướng dẫn của các nhân viên Division TEACCH. Tại Bắc Carolia Mỹ
có 9 trung tâm Division TEACCH đặt rải rác. Các trung tâm này cung cấp các
dịch vụ cho các cá nhân Tự kỉ từ 1 đến 70 tuổi trong khu vực của mình.
Ngày nay TEACCH được sử dụng khá nhiều bang ở Mỹ và đã vượt qua
biên giới của nước Mỹ phổ biến tại các nước thuộc Châu Âu, Châu Á và Nam
Mỹ, đặc biệt là tại Anh vào những năm 1990, TEACCH bắt đầu được phổ biến
một cách rộng rãi tại Anh. Kể từ đó đến nay, hiệp hội các chuyên gia sử dụng
TEACCH tại Anh đã phối hợp với Division TEACCH tiến hành đào tạo cho hơn
15000 cha mẹ và chuyên viên về TEACCH, báo cáo về hiệu quả của TEACCH
ở Anh được chứng minh ở cả môi trường giáo dục chuyên biệt và giáo dục hòa
nhập. Năm 2003, Gary Mesibov và Marie Hower đã viết cuốn sách có tên
Accessing the Curriculum for pupil with Autistic Disorder. Trong đó giới thiệu
những nghiên cứu điển hình trên trẻ em Anh có áp dụng phương pháp TEACCH
và đưa ra những đánh giá hiệu quả của việc áp dụng phương pháp TEACCH tại
một nghiên cứu nào đi sâu hay làm rõ về việc đưa ra các biện pháp khắc phục
mà chỉ được nhắc đến trong việc mô tả đặc điểm hành vi của trẻ Tự kỉ trong
đó có hành vi tăng động.
Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam vẫn sử dụng tên
gọi “Rối loạn Tự Kỉ” và tiếp cận chủ yếu dừng lại ở nhóm trẻ Tự kỉ điển hình.
12
Một số ít nghiên cứu đã sử dụng thuật ngữ “Rối loạn phổ Tự Kỉ”, tuy nhiên
việc phân loại thuộc các RLPTK vẫn chưa rõ trong chuẩn đoán, nghiên cứu
và trong tổ chức can thiệp.
Thứ tư, các nghiên cứu chủ yếu theo hướng ứng dụng các phương pháp
can thiệp phổ biến như: ABA, TEACCH, PECS…Tuy nhiên quy mô thực
hiện còn nhỏ, hẹp và chưa rõ mức độ thích ứng trong bối cảnh Việt Nam cũng
như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng của các phương pháp
này trong bối cảnh Việt Nam.[4]
Như vậy, nghiên cứu và thực tiễn can thiệp sớm cho trẻ RLPTK ở Việt
Nam còn thiếu tính hệ thống, lẻ tẻ và manh mún. Khả năng ứng dụng các
nghiên cứu trong thực tế chưa cao.
Tại Việt Nam, cho đến nay, mới chỉ có rất ít những tài liệu về phương
pháp TEACCH. Hiện chỉ có một số tài liệu tiêu biểu như:
Tác giả Nguyễn Văn Thành trong cuốn sách trẻ em Tự kỉ - phương
pháp giáo dục cơ bản về phương pháp TEACCH. Trong cuốn sách này, tác giả
Nguyễn Văn Thành mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu phương pháp
TEACCH, các điểm chính trong phương pháp này mà tác giả cho là rất hữu
ích trong giáo dục trẻ em mắc rối loạn Tự kỉ.
Trong tài liệu sự lĩnh hội và phát triển giao tiếp ngôn ngữ và lời nói,
Keith Arkin, chuyên gia về giao tiếp, ngôn ngữ và lời nói của tổ chức VSO,
cũng bàn đến phương pháp này nhưng chỉ với tính chất giới thiệu.
bình thường về kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tương tác xã hội và suy luận. Nam
nhiều gấp 4 lần nữ. Trẻ có thể phát triển bình thường đến 30 tháng tuổi.
Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về Tự kỉ ở Mỹ, các chuyên gia cho
rằng nên xếp Tự kỉ vào nhóm các rối loạn phát triển diện rộng và đã thống
nhất đưa ra định nghĩa cuối cùng về Tự kỉ như sau: Tự kỉ là một dạng bệnh
trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát
triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kĩ năng giao tiếp và quan hệ xã hội.
Một khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất là khái
niệm của tổ chức Liên hiệp quốc đưa ra vào năm 2008, trong đó Tự kỉ được
14
định nghĩa như sau: Tự kỉ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc
đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời. Tự kỉ là do rối loạn thần kinh ảnh
hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ. Tự kỉ có thể xảy ra với bất cứ cá
nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội.
Đặc điểm của Tự kỉ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và có sở thích mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại.
Có nhiều khái niệm khác nhau về Tự kỉ, song nhìn chung đều thống
nhất ở quan điểm: Tự kỉ là một dạng khuyết tật phức tạp, được đặc trưng bởi
ba khiếm khuyết: về giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi, sở thích, hoạt
động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại. RLPTK bao gồm các rối loạn có
chung đặc điểm như trên nhưng khác nhau về phạm vi, mức độ nặng, khởi
phát và tiến triển của triệu chứng theo thời gian.
RLPTK bao gồm: Rối loạn Tự kỉ (Autism Disorder), hội chứng
asperger, rối loạn bất hòa nhập ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder –
CDD), rối loạn Rett (Rett Disorder), rối loạn phát triển diện rộng không xác
định (Pervasive Developmental Disorder – Not Otherwise Speciied – PDDNOS). Tất cả các RLPTK đều có thiếu hụt trong chức năng giao tiếp, chức
năng xã hội và khả năng tưởng tượng, nhưng chúng khác nhau về phạm vi,
d. Thiếu hoạt động/cách chơi đa dạng, trò chơi đóng vai, hoặc thiếu hoạt
động/cách chơi bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức độ phát triển.
(3) Những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lặp đi lặp lại
hoặc rập khuôn, thể hiện ở ít nhất 1 trong các biểu hiện sau:
a. Quá bận tâm đến một hoặc một số những mối quan hệ có tính chất
rập khuôn và bó hẹp với mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường.
b. Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và
không mang tính chức năng.
16
c. Có những biểu hiện mang tính rập khuôn (ví dụ như gõ tay hoặc vặn
tay, hoặc có kiểu di chuyển cả than ngườ mội cách phức tạp, đi trên các đầu
ngón chân…).
d. Bận tâm dai dẳng với những bộ phận của vật thể.
B. Chậm hoặc thực hiện một cách không bình thường các chức năng ở
ít nhất một trong các lĩnh vực sau, với mức khởi đầu trước tuổi lên 3:
(1) – Tương tác xã hội
(2) – Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội
(3) – Chơi/ hoạt động mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.
C. Rối loạn không bao gồm hội chứng rett hay rối loạn bất hòa nhập
thời ấu thơ.[3]
1.1.2.3. Hành vi của trẻ RLPTK
a. Khái niệm hành vi
Có rất nhiều khía cạnh khác nhau khi xem xét vấn đề về hành vi. Quan
điểm của các nhà sinh học những phản ứng để con người thích ứng với những
kích thích môi trường (những kích thích có tính sinh học).
Theo chủ nghĩa hành vi quan niệm: Hành vi cá nhân không chỉ phản
ứng với những kích thích có tính sinh học mà còn phản ứng với tác nhân
không mong muốn, hình thành và duy trì và phát triển những hành vi mong
muốn.[2]
c. Đặc điểm hành vi tăng động của trẻ RLPTK
Trẻ RLPTK có rất nhiều hành vi bất thường như là hành vi rập khuôn,
hành vi tự kích thích, hành vi chống đối, hành vi ù lì… Bên cạnh các hành vi
này thì hành vi tăng động không thể không nói đến ở trẻ RLPTK. Tăng động
là một trong những hành vi gây nhiều khó khăn cho giáo viên trong quá trình
dạy học và giáo dục đối với trẻ RLPTK. Vì vậy các giáo viên và nhà quản lý
giáo dục đang tìm tòi các cách thức và phương pháp nhằm quản lý hành vi
18
cho trẻ RLPTK nói chung và hành vi tăng động nói riêng để việc giáo dục và
dạy học cho trẻ RLPTK đạt kết quả cao nhất.
Hành vi tăng động ở trẻ RLPTK thể hiện ở chỗ trẻ thường đi lại chạy
nhảy liên tục, chúng không thể tập trung hướng vào một hoạt động nào đó đủ
dài và chúng không thể kiểm soát mức độ hoạt động của bản thân và biểu hiện
ra bằng việc: chân tay luôn hoạt động, không thể ngồi yên được một chỗ, la
hét…với tần số xảy ra thường xuyên và với cường độ mạnh.Trẻ thường dễ bị
mất tập trung và bị phân tán với cả những khích thích rất nhỏ. Ví dụ như tiếng
quạt trần trong lớp học có thể khiến chúng bị xao lãng, cái lắc lư của quả
bóng cũng làm trẻ cảm thấy tò mò và muốn khám phá. Nhiều trẻ không đồng
ý hoặc không được đáp ứng thường la hét, khóc, ném đồ, đá, nhảy, lắc, lăn
đùng ra đất để đạt được mục đích là được quan tâm hoặc được đáp ứng. Có
trẻ lại có hành vi trong giờ học như luôn chân luôn tay hoạt động lúc thì vẫy
tay, cắn móng tay, đập bàn đập ghế và phá rối các hoạt động của giáo viên và
các bạn khác như cấu, đánh bạn, cướp đồ chơi của bạn, không hợp tác với
giáo viên như vứt đồ dùng dạy học, phá hay cho đồ dùng vào mồm. Biểu hiện
hành vi tăng động của trẻ RLPTK thường rất dễ nhận ra và với tần suất nhiều
không quản lý được hành vi tăng động cho trẻ RLPTK thì việc giáo dục và
dạy học sẽ gặp nhiều khó khăn và công tác hòa nhập trẻ RLPTK với xã hội
ngày càng bị đẩy xa..
1.1.3. Một số vấn đề lí luận về phương pháp TEACCH
1.1.3.1. Khái niệm
TEACCH là chữ viết tắt của Treatment and Education of Autistic and
Related Communication Handicapped Children – TEACCH là phương pháp
giáo dục hướng dẫn trẻ Tự kỉ kỹ năng sống tự lập, hòa nhập khi trưởng thành
và rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp. Phương pháp này được
áp dụng rộng rãi tại các trường công lập Hoa Kỳ. Phương pháp này do ông
Eric Schopler đưa ra vào thập niên 70. Ông Schople ông đã khẳng định rằng:
20
Phương pháp dạy dỗ và hướng dẫn trẻ Tự kỉ cần xây dựng dựa trên sở trường,
sở thích, và nhu cầu của các em. TEACCH chủ trương thiết lập môi trường rõ
ràng: Phòng học có lối thiết kế bàn ghế gọn ghẽ, học sinh có thời khóa biểu
chính xác, học sinh hiểu rõ luật lệ của lớp, giáo viên sử dụng nhiều hình ảnh
để hỗ trợ lời giảng…[7]
- Mục đích của TEACCH:
+ Tạo tối đa những gì có thể tiếp thu bằng kênh thị giác (tập trung thế
mạnh của trẻ RLPTK - tri giác, ghi nhớ bằng hình ảnh tốt).
+ Giúp trẻ dễ dàng hiểu và đoán được những gì đang và sẽ xảy ra.
+ Để hạn chế những vấn đề về hành vi của trẻ.
+ Hỗ trợ sự độc lập.
+ Dạy các hành vi phù hợp.
- TEACCH tiếp cận ở 2 phương diện:
TEACCH trên phương diện là chương trình can thiệp cho trẻ rối loạn Tự kỉ.
Với phương diện TEACCH là chương trình can thiệp cho trẻ Tự kỉ thì
Nâng cao kĩ năng: Việc đánh giá sẽ nhận ra những kĩ năng đang còn là tiềm
năng phát triển để tập trung can thiệp.
•
Trị liệu nhận thức và hành vi: Phát triển nhận thức luôn đồng hành với trị liệu
về hành vi bởi lẽ những vấn đề về hành vi có thể dẫn đến những khó khăn
trong nhân thức.
+ Những dịch vụ của chương trình TEACCH:
TEACCH được xem là một chương trình lớn với các dịch vụ toàn diện
hướng tới trẻ Tự kỉ và gia đình các em. Trong đó, đào tạo và dịch vụ là hai
chương trình cơ bản nhất.
- Đào tạo: Từ năm 1972 chương trình TEACCH cung cấp các dịch vụ
đào tạo dành cho giáo viên, các chuyên gia trị liệu và các bậc phụ huynh. Nội
dung của các chương trình đào tạo mà TEACCH tiến hành hướng vào việc
cung cấp nhận thức về Tự kỉ và bồi dưỡng những kĩ năng làm việc với trẻ trên
cơ sở phương pháp TEACCH. Các khóa tập huấn thường do các nhân viên
thuộc Division TEACCH, Bắc Carolia tiến hành. Một số chủ đề chính: Cơ sở
của TACCH- những chiến lược ban đầu cho sử dụng TEACCH; Tự kỉ chức
năng cao, Apserger và dạy hoc có cấu trúc…
- Can thiệp: Tại Division TEACCH, Bắc Carolia đã có khoảng hơn 5000
trẻ em mắc chứng Tự kỉ được can thiệp. Cùng với sự phổ biến rộng rãi của
TEACCH, Tại Anh, Đức , Pháp… rất nhiều trẻ em Tự kỉ được tiến hành can
thiệp. Hiện nay Division TEACCH đang điều hành khoảng 130 lớp học dành
cho trẻ Tự kỉ, một số trung tâm dành cho các thanh niên và người lớn Tự kỉ.
TEACCH trên phương diện là phương pháp can thiệp cho trẻ RLPTK
Bản chất của TEACCH là quá trình dạy học có cấu trúc. Hiểu một cách
của các môi trường, đâu là chỗ vui chơi, đâu là chỗ tập thể, đâu là chỗ cá
nhân… Vì vậy chúng ta cần cấu trúc hóa môi trường vật chất giúp trẻ RLPTK
phân biệt được các khu vực.
23
Hiểu một cách đơn giản, cấu trúc hóa môi trường vật chất là sự thiết kế,
sắp xếp về vị trí, không gian, đồ vật,… theo một trật tự, một cấu trúc logic, ổn
định, phù hợp. Việc cấu trúc hóa môi trường vật chất giúp trẻ mắc RLPTK
hiểu, đoán biết được những thứ xung quanh. Mình sẽ đi đâu, đi đến đó bằng
cách nào, đâu là chỗ mình phải đến để học, để chơi, để ngủ…? Điều này giúp
trẻ trở nên tự tin, hạn chế những hành vi gây rối trong lớp học.
* Mục tiêu của cấu trúc hóa môi trường vật chất
+ Tạo ra những danh giới rõ ràng giữa các khu vực khác nhau.
+ Đánh dấu các khu vực khác nhau tương ứng với các hoạt động.
+ Giảm thiểu những kích thích thị giác và thính giác ảnh hưởng đến
việc tham gia các hoạt động của trẻ.[5]
Lịch bằng hình ảnh
Trẻ RLPTK thường gặp khó khăn với những thay đổi không được báo
trước. Do vậy mọi hoạt động diễn ra trong ngày của trẻ cần được sắp xếp theo
thứ tự thời gian, được minh họa bằng hình ảnh giúp trẻ dễ dàng nhân ra các
24
hoạt động mình sẽ phải thực hiện trong thời gian nhất định, trẻ sẽ cần biết