BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ NGỌC QUYẾT
DẠY HỌC MỘT SỐ ĐẠI LƯỢNG VẬT LÍ THUỘC PHẦN
“ĐIỆN HỌC. ĐIỆN TỪ HỌC” – VẬT LÍ 11 THPT THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Chuyên ngành: LL & PP dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thế Khôi
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám
hiệu, Phòng sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Vật lí và các thầy cô trong Tổ bộ
môn Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS.Nguyễn Thế Khôi
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các em học sinh
trường THPT Lý Nhân Tông và trường THPT Tiến Thịnh đã tạo mọi điều kiện
cần thiết để tôi hoàn thành chương trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
ĐHQG
Đại học quốc gia
3
ĐHSP
Đại học sư phạm
4
GQVĐ
Giải quyết vấn đề
5
GV
Giáo viên
6
HS
Học sinh
7
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 3
4. Giả thuyết khoa học .................................................................................. 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 4
6. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 4
7. Đóng góp của luận văn.............................................................................. 5
8. Cấu trúc của luận văn ................................................................................ 5
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
CÁC ĐẠI LƯỢNG VẬT LÍ TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT .......... 6
1.1. Dạy học đại lượng vật lí ở trường THPT ............................................... 6
1.1.1. Kiến thức vật lí ................................................................................ 6
1.1.1.1. Kiến thức của học sinh ............................................................. 6
1.1.1.2 Kiến thức vật lí trong dạy học................................................... 6
1.1.2. Khái niệm về đại lượng vật lí [16], [24] ......................................... 7
1.1.3 Chất lượng nắm vững kiến thức vật lí............................................ 10
1.1.3.1 Những mức độ của chất lượng kiến thức ................................ 10
1.1.3.2 Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng kiến thức .............. 12
1.1.4. Yêu cầu nắm vững đại lượng vật lí trong dạy học ........................ 12
1.1.5. Con đường hình thành các đại lượng vật lí trong dạy học ............ 13
1.1.5.1. Sơ đồ 1 ................................................................................... 14
1.1.5.2 Sơ đồ 2 .................................................................................... 18
1.2. Dạy học các đại lượng vật lí theo định hướng phát triển năng lực
giải quyết vấn đề ......................................................................................... 20
1.2.1. Năng lực giải quyết vấn đề ........................................................... 20
1.3.1.1. Giải quyết vấn đề (problem solving) ..................................... 20
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc và mục tiêu dạy học chương “Từ trường” ............ 34
2.1.2.1 Mục tiêu dạy học chương “Từ trường” ................................... 34
2.1.2.2. Sơ đồ cấu trúc chương “Từ trường” ...................................... 36
2.2.1. Cường độ điện trường ................................................................... 37
2.2.2 Điện dung của tụ điện .................................................................... 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................ 53
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................... 55
3.1 Mục đích, đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm ............... 55
3.1.1 Mục đích......................................................................................... 55
3.1.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm. ..................................... 55
3.1.3. Thời gian, địa điểm và chuẩn bị thực nghiệm sư phạm ................ 56
3.2. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm .............................. 57
3.2.1. Các tiêu chí đánh giá thực nghiệm sư phạm ................................. 57
3.2.2. Phân tích hiệu quả của các tiến trình dạy học đã soạn thảo .......... 57
3.2.2.1. Đánh giá định tính. ................................................................. 57
3.2.2.2. Đánh giá định lượng............................................................... 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3............................................................................ 69
KẾT LUẬN CHUNG ...................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 72
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay thế giới đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tếtri
thức. Tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ đòi hỏi người lao động
phải có tính linh hoạt, năng động, tự chủ, khả năng thích ứng và sáng tạo.
Đứng trước thách thức đó, nền giáo dục của nước ta phải đổi mới mạnh mẽ,
toàn diện và đồng bộ để khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư
hoạt động dạy và học. Vậy nên hơn lúc nào hết việc thay đổi cách dạy, cách
học, cách phối hợp làm việc giữa thầy và trò để phát huy tính tích cực, tự lực
và sáng tạo cho học sinh là thực sự cần thiết. Có như vậy chúng ta mới có
nguồn nhân lực không chỉ giỏi chuyên môn mà còn năng động, sáng tạo và có
khả năng xử lí linh hoạt các tình huống trong cuộc sống.
Hưởng ứng tư tưởng đó, ở nước ta trong những năm qua cùng với sự
phát triển và đổi mới giáo dục, vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh
trong việc tổ chức hoạt động dạy học đã và đang được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu như: Phạm Hữu Tòng [24], [25], Thái Duy Tuyên [28], Đỗ Hương
Trà [26], [27]…
Trong hệ thống kiến thức Vật lí 11 THPT, phần “Điện học. Điện từ
học” là một phần kiến thức quan trọng, học sinh cần được trang bị đầy đủ
kiến thức phần này để làm nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức chương “Dao
động và Sóng điện từ”, “Dòng điện xoay chiều” của lớp 12. Đặc biệt các đại
lượng vật lí là những kiến thức trừu tượng, phong phú nhưng lại là kiến thức
trọng tâm, cơ bản để từ đó xây dựng các quy tắc, định luật và thuyết vật lí.Vì
vậy giáo viên cần nghiên cứu tìm được cách tổ chức dạy học các đại lượng vật
lí một cách khoa học nhằm phát triển năng lực GQVĐ góp phần nâng cao
chất lượng kiến thức cho HS.Một số tài liệu như [16], [24], [26] đã vạch ra
các giai đoạn trong dạy học một khái niệm vật lí (khái niệm về sự vật, hiện
tượng; khái niệm về đại lượng vật lí).
3
Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có một số công trình như: Trần
Trung Dũng (2013), Thiết kế, tổ chức dạy học chương “Dao động cơ” theo
hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh lớp 12 THPT,
Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Hà Nội 2 [12]; Vương Thị Thanh Hương
(2013), Dạy học đại lượng Vật lí chương “Từ trường” – Vật lí 11 hệ bổ túc
văn hóa với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học, Luận văn thạc sĩ khoa học
vấn đề, góp phần nâng cao chất lượng kiến thức cho HS.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học đại lượng vật lí ở trường
THPT nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề góp phần nâng cao
chất lượng kiến thức của HS.
5.2 Điều tra thực tiễn việc dạy học các đại lượng vật lí thuộc chương
“Điện học. Điện từ học” của GV và HS lớp 11 THPT.
5.3 Nghiên cứu nội dung kiến thức, xác định mục tiêu dạy học phần
“Điện học. Điện từ học” -Vật lí 11 THPT.
5.4 Đề xuất tiến trình dạy học một số đại lượng vật lí thuộc phần “Điện
học. Điện từ học”.
5.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học
của đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Nghiên cứu các văn kiện đại hội của Đảng, của Nhà nước, của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, lí luận và phương pháp dạy học,
các luận án, luận văn, các bài báo liên quan tới đổi mới phương pháp dạy học.
5
- Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, mục tiêu dạy học và các tài liệu
tham khảo có liên quan tới đề tài.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT.
- Điều tra thực trạng dạy học một số đại lượng vật lí thuộc phần “Điện
hoạt động sáng tạo trong quá trình tìm hiểu và cải tạo thế giới của họ
Kiến thức bao gồm một tập hợp nhiều mặt về số lượng và chất lượng
của các hiện tượng và khái niệm lĩnh hội được, nó được ghi nhớ và tái tạo khi
có những đòi hỏi tương ứng.Kiến thức được hình thành, củng cố và phát triển
trong quá trình học tập của học sinh.
1.1.1.2 Kiến thức vật lí trong dạy học
Theo Phạm Hữu Tòng, kiến thức vật lí là kết quả phản ánh trong đầu óc
mỗi con người về các tình chất, mối quan hệ quy luật của các sự việc, hiện tượng
vật lí và về cách nhận thức, vận dụng kết quả phản ánh đó của con người [27].
Có thể phân biệt các kiến thức vật lí theo ba loại dưới đây:
Kiến thức về hiện tượng vật lí
Đó là các kiến thức về các tính chất, các mối liên hệ quy luật của các sự
vật hiện tượng vật lí. Trong nội dung kiến thức vật lí ở trường phổ thông, đó
là các khái niệm về các hiện tượng vật lí, các đại lượng vật lí, các định luật
vật lí, các thuyết vật lí. Kiến thức về đại lượng vật lí là khái niệm, đặc điểm,
công thức tính đại lượng, đơn vị đo và ứng dụng của đại lượng vật lí đó.
Kiến thức về các ứng dụng vật lí
Đó là kiến thức ứng dụng của các định luật, các thuyết vật lí trong thực
tiễn sản xuất và đời sống, trong việc tạo ra các dụng cụ, thiết bị, máy móc và
các quy trình công nghệ khác nhau.
7
Kiến thức về phương pháp nhận thức vật lí
Đó là kiến thức về các phương pháp nhận thức khoa học vật lí học như:
phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp quy nạp, suy
diễn…Các kiến thức về các phương pháp nhận thức khoa học của vật lí được
hình thành trong quá trình dạy học gắn liền với sự hình thành các kiến thức về
các khái niệm, các đại lượng, các định luật, các thuyết vật lí và các ứng dụng
của vật lí.
- Mỗi khái niệm xuất hiện đều do nhu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa
vốn hiểu biết đã có và một sự vật, hiện tượng không thể lí giải bằng vốn hiểu
biết cũ và cũng là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn ấy. Chẳng hạn, để
diễn tả khả năng dự trữ năng lượng của một thiết bị, máy móc ta dùng khái
niệm công cơ học là đủ. Nhưng khi nghiên cứu sự thực hiện công của các
thiết bị, ta thấy khả năng thực hiện công của các thiết bị khác nhau là khác
nhau. Vậy dùng đại lượng vật lí nào đã biết (thời gian hay công…) để biểu thị
tính chất mới này? Mâu thuẫn đã xuất hiện. Và chỉ có thể giải quyết nó bằng
cách xây dựng khái niệm mới là công suất.
- Khái niệm vật lí là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, được hình
thành do kết quả của hoạt động tư duy, đặc biệt là hai quá trình gắn bó chặt
chẽ là khái quát hóa và trừu tượng hóa (Khái quát hóa là thao tác tư duy vạch
ra cái chung trong hàng loạt những sự vật, hiện tượng tưởng chừng là khác
nhau; Trừu tượng hóa là thao tác tư duy tách các dấu hiệu bản chất ra khỏi các
các dấu hiệu không bản chất của các sự vật, hiện tượng nhằm phân biệt
chúng). Ví dụ như khi nghiên cứu sự tương tác của sự vật, ta nhận thấy có
một tính chất chung là vận tốc thay đổi. Tính chất này được biểu thị bằng khái
niệm “lực”. Đó là khái niệm trừu tượng, là sản phẩm của tư duy chứ không
thể quan sát trực tiếp được bằng các giác quan. Cũng như các khoa học khác,
vật lí học được xây dựng dựa trên một hệ thống các khái niệm trừu tượng như
vậy. Chính vì thế, tư duy phải dựa vào các khái niệm chứ không phải dựa vào
các biểu tượng cảm tính gắn với các sự vật, hiện tượng cụ thể.
9
- Nội dung khái niệm vật lí không phải là vĩnh viễn, bất biến mà có thể
thay đổi, trở nên phong phú, đầy đủ và chính xác hơn do trình độ nhận thức
con người ngày càng cao, càng phản ánh đúng và đầy đủ các tính chất chung,
bản chất của sự vật cũng như mối quan hệ giữa các tính chất đó. Sự thay đổi
ấy có thể diễn ra theo các hướng: Loại bỏ hẳn (chất nhiệt, chất điện, ete khối,
được tên của khái niệm hoàn toàn chưa phải là nắm được khái niệm mà cần
phải biết nội dung gì chứa đựng trong từ đó, dưới cái tên đó, nghĩa là phải
hiểu nội hàm của khái niệm được biểu thị dưới cái tên đó.
10
- Các khái niệm vật lí được chia làm hai nhóm lớn: khái niệm vật lí
chỉ có đặc điểm định tính (như chuyển động, rơi tự do, chân không, sự
nhiễm điện, tia sáng, phản ứng nhiệt học…); khái niệm vật lí có cả đặc điểm
định lượng gọi là đại lượng vật lí. Nhóm này lại chia làm ba loại là đại lượng
vectơ (gia tốc, lực, động lượng…), đại lượng vô hướng (quãng đường, thời
gian, khối lượng, công, điện trở…), hệ số tỉ lệ (có thứ nguyên như hằng số
hấp dẫn, hằng số trong biểu thức của định luật Culông…; không có thứ
nguyên hay hư số như hằng số điện môi, độ từ thẩm, chiết suất của môi
trường…). Đặc điểm định tính biểu thị một tính chất nào đó của sự vật hiện
tượng (Ví dụ như cường độ điện trường biểu thị điện trường về phương diện
tác dụng lực tại mỗi điểm). Đặc điểm định lượng cho biết cách đo độ lớn hay
nhỏ, mạnh hay yếu của tính chất ấy (Ví dụ cường độ điện trường được đo
bằng thương số
F
). Những khái niệm về đại lượng vật lí được đặc trưng bởi
q
sự thống nhất giữa đặc điểm định tính và đặc điểm định lượng. Chúng có ý
nghĩa lí thuyết và thực tiễn đặc biệt quan trọng, vì mối liên hệ định lượng giữa
giữa chúng được thể hiện trong nhiều định luật vật lí. Chính vì thế, sau đây
chúng tôi chỉ đề cập tới việc hình thành khái niệm về các đại lượng vật lí cho
học sinh trong dạy học môn vật lí ở trường phổ thông. Việc hình thành loại
khái niệm vật lí chỉ có đặc điểm định tính đơn giản hơn, gồm một số giai đoạn
d) Mức độ sáng tạo (đề xuất và giải quyết vấn đề không theo mẫu sẵn có)
Mức độ này thể hiện ở khả năng phát biểu và giải quyết những vấn đề
theo cách riêng của mình bằng cách lựa chọn, đề xuất và áp dụng kiến thức để
giải quyết được các vấn đề không theo các mẫu có sẵn; đề ra và giải đáp được
câu hỏi thuộc dạng: “Có vấn đề gì?”; “Đề xuất ý kiến riêng, cách giải quyết
riêng thế nào?”. (Bạn thấy vấn đề đặt ra là gì và bạn thể đi tới kết quả thỏa
mãn như thế nào?).
12
1.1.3.2 Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng kiến thức
Qua việc nghiên cứu một số tài liệu tham khảo [20], [27], [28], [30]
chúng tôi nhận thấy có thể nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh bằng
một số biện pháp sau:
- Sử dụng các tài liệu trực quan (sách giáo khoa, tài liệu tham khảo…)
nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức bền vững, chính xác.
- Sử dụng các thí nghiệm trực quan, giúp học sinh kiểm tra lại tính
đúng đắn của các kiến thức lí thuyết, sửa chữa và bổ sung, đánh giá lại chúng
nếu không phù hợp với thực tiễn.
- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực và các biện pháp phát huy
tính tích cực của học sinh. Tổ chức thảo luận, hoạt động nhóm để học sinh có dịp
đưa ra các ý kiến, được tự đánh giá và tiếp thu tính chính xác của kiến thức.
- Cho học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế, từ đó học sinh biết được
nhiều ứng dụng của kiến thức và nhận biết được bản chất của hiện tượng vật lí,
giải thích được chính xác các hiện tượng xảy ra trong đời sống thực tiễn.
Theo [28], có thể vận dụng một số PPDH hiện đại như: Dạy học theo
chủ đề; Dạy học trên cơ sở vấn đề, Dạy học theo góc; Dạy học theo dự án.
Trong luận văn, chúng tôi đặc biết chú ý tới việc nghiên cứu dạy học các đại
lượng vật lí theo kiểu dạy học phát hiện và GQVĐ, đòi hỏi HS phải vận dụng
kiến thức từ mức thấp nhất là giải quyết được tình huống tương tự cho đến đề
vật lí và cả thực tiễn dạy học ở phổ thông, vào cấu trúc của tư duy vật lí…có
thể vạch ra những bước, giai đoạn điển hình nhất trong quá trình hình thành
một đại lượng vật lí là: Vạch ra các đặc điểm định tính và làm sáng tỏ đặc
điểm định lượng của đại lượng vật lí; Định nghĩa khái niệm bằng lời; Xây
dựng đơn vị đo; Vận dụng khái niệm vào thực tiễn. Từ con đường điển hình
ấy, ta thường gặp hai sơ đồ hình thành một đại lượng vật lí trong dạy học ở
trường THPT gồm các bước và nội dung chính từng bước như sau:
14
1.1.5.1. Sơ đồ 1
Bước 1. Vạch ra đặc điểm định tính của khái niệm
Bằng các thí nghiệm gần gũi với đời sống hàng ngày, những thí nghiệm
gợi mở đơn giản hay giải các bài tập kiểm tra đầu giờ học…GV làm cho HS
thấy rằng ngay trong những sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu đã xuất hiện
đặc điểm mới mà vốn kiến thức cũ, khái niệm cũ không đủ đặc trưng, không
giải quyết được nhiệm vụ đề ra, buộc phải xây dựng một khái niệm mới. Như
vậy, trả lời được câu hỏi tại sao phải xây dựng khái niệm mới, nó đặc trưng
cho tính chất mới nào của sự vật, hiện tượng là đã phát hiện được đặc điểm
định tính của khái niệm mới.
Bước 2. Làm sáng tỏ đặc điểm định lượng của khái niệm
Nội dung của bước này là nêu ra được mối liên hệ định lượng giữa khái
niệm mới với khái niệm cũ và cách xác định độ lớn của khái niệm mới từ mỗi
liên hệ ấy.
Các đại lượng vật lí liên hệ với nhau theo nhiều cách khác nhau. Trong
dạy học, có thể thiết lập mối liên hệ và phụ thuộc ấy bằng thực nghiệm.Mối
liên hệ đó cho phép tìm ra đặc điểm định lượng của khái niệm đang nghiên
cứu, nghĩa là tìm ra sự phụ thuộc về mặt định lượng của khái niệm mới vào
các khái niệm đã biết.Thông thường, đặc điểm định lượng của khái niệm mới
được biểu thị bằng một công thức toán học liên hệ giữa đại lượng mới và các
lượng đã biết. Ví dụ: “Công suất là đại lượng vật lí vô hướng, đặc trưng cho
khả năng sinh công của một vật, được đo bằng công sinh ra của một vật ấy
trong một đơn vị thời gian”.
“Cường độ điện trường tại một điểm là đại lượng vật lí véctơ, đặc trưng
cho điện trường về phương diện tác dụng lực tại mỗi điểm và được đo bằng
thương số giữa lực tác dụng lên một điện tích thử đặt tại điểm đó và độ lớn
của điện tích thử”.
Với các đại lượng vật lí, dù đặc điểm định lượng phản ánh đặc điểm
định tính, thống nhất với đặc điểm định tính nhưng lại có vai trò nổi bật hơn
16
do yêu cầu phải đo lường chính xác.Bởi vậy nhiều khi trong cái gọi là định
nghĩa, người ta chỉ nêu ra đặc điểm định lượng và để chỉ ra đặc điểm định tính
của đại lượng vật lí như là giải thích ý nghĩa vật lí của khái niệm bằng mệnh
đề nằm ngoài định nghĩa.Trong giờ học ở trường phổ thông, cách làm này thể
hiện khi hình thành các đại lượng vật lí không phải qua một mà qua một số
bài học. Ví dụ bắt đầu nghiên cứu công cơ học, chỉ có thể đưa ra định nghĩa
“Công cơ học của lực 𝐹 làm vật dịch chuyển được một quãng đường 𝑠 theo
phương của lực, được tính bằng công thức: 𝐴 = 𝐹. 𝑠”, rồi “Công là đại lượng
vật lí vô hướng được đo bằng tích số của lực 𝐹, độ dời 𝑠 của điểm đặt của lực
và côsin của góc 𝛼 giữa hướng của lực 𝐹 và hướng chuyển dời: 𝐴 =
𝐹. 𝑠. 𝑐𝑜𝑠𝛼”. Còn đặc điểm định tính của công thì chỉ khi xây dựng xong khái
niệm cơ năng, năng lượng mới xác định được “Công là đại lượng biểu thị
phần năng lượng truyền từ vật này sang vật khác hay biến đổi từ dạng này
sang dạng khác”.
Bước 4: Xác định đơn vị đo
Đo đại lượng vật lí là so sánh nó với đại lượng cùng loại được chọn làm
đơn vị. Và giá trị đại lượng đo = đại lượng cần đo/đại lượng đơn vị. Như vậy,
đơn vị đo một đại lượng là trường hợp riêng, cụ thể của chính đại lượng ấy.
E
F
.
q
Không nên quan niệm định nghĩa đơn vị đo đại lượng vật lí là nhiêu
khê, dài dòng, lủng củng mà cho học sinh biết ngay tên đơn vị đo. Nắm được
định nghĩa đơn vị đo đại lượng vật lí có nhiều tác dụng: Học sinh biết cách đo
đại lượng vật lí; Củng cố công thức định nghĩa đại lượng; Suy ra được các
đơn vị đo trong hệ đơn vị khác, do vậy biết cách đổi đơn vị; Kiểm tra nhanh
nhất kết quả tính toán về vật lí (vì các công thức, phương trình vật lí khác với
các công thức, phương trình toán học là không chỉ đòi hỏi sự bằng nhau ở cả
hai vế về độ lớn mà cả về đơn vị).
Bước 5. Vận dụng khái niệm vào thực tiễn
Chỉ đến khi vận dụng khái niệm vào thực tiễn, thường là giải các bài
tập củng cố hay bài tập về nhà, giải thích những sự vật, hiện tượng cụ thể, dự
đoán những dấu hiệu, những hiện tượng có thể cảm nhận được trong thực tiễn
bằng giác quan, có thể đo lường được…mà nội dung của khái niệm mới dần
dà được mở rộng, bổ sung đầy đủ và chính xác thêm. Tuy nhiên, cần lưu ý
việc mở rộng, bổ sung này phải tùy thuộc vào trình độ học sinh mà xác định
mức độ thích hợp. Đồng thời, yêu cầu họ không được áp dụng các công thức,
phương trình vật lí một cách máy móc, mà phải dùng kiến thức đã học phân
tích hiện tượng, nhờ thế tìm ra các công thức, phương trình cần vận dụng để
có thể thu được lời giải. Các bước trong dạy học các khái niệm về đại lượng
vật lí thuộc loại này được trình bàytheo sơ đồ sau:
18