GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG lực CẠNH TRANH của NGÂN HÀNG TMCP sài gòn – hà nội - Pdf 34

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
……………..................

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài :

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI

Sinh viên thực hiện

: Lại Ngọc Linh

Lớp

: K45/31.02

Đơn vị thực tập

: Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội

Hà Nội , năm 2011


LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và khu vực hóa là một xu thế tất yếu trong tiến trình phát
triển kinh tế thế giới. Đối với ngành tài chính ngân hàng, hội nhập kinh tế
quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân
hàng Việt Nam; mở rộng cơ hội trao đổi hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng
thương mại trong hoạt động kinh doanh tiền tệ; đồng thời các ngân hàng

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội dựa trên các chỉ tiêu cơ bản: năng lực
tài chính, khả năng ứng dụng công nghệ, nguồn nhân lực, trình độ quản lý và
cơ cấu tổ chức, uy tín và thương hiệu .
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội .
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp:
phương pháp thống kê, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp đối
chiếu so sánh, phương pháp logic, phương pháp mô tả và khái quát hóa đối
tượng nghiên cứu.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng
thương mại .
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn – Hà Nội .


Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội .
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Các khái niệm cơ bản :
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh :
Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Từ “cạnh tranh” được
giải thích là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những
người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau . Trong tác
phẩm “Quốc phú luận” của Adam Smith, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể
phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội. Vì sự cạnh tranh

kinh tế học thuộc trường phái cổ điển của thế kỷ XIX, các nhà kinh tế học
của trường phái Áo cho rằng: “Một chỉ tiêu quan trọng về sự ra đời của lý
luận cạnh tranh hiện đại là vứt bỏ việc lấy cạnh tranh hoàn hảo làm giáo
điều của lý luận cạnh tranh hiện thực và lý tưởng, cạnh tranh được xem xét
ở góc độ là một quá trình động, phát triển chứ không phải là quá trình tĩnh”
Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho
sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia.
Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo
ra các phương tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và
chất lượng cao hơn. Từ đó, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con
người. Nhờ cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng
suất, tạo ra những thành tựu mới trên nhiều lĩnh vực.
Do sự phát triển của thương mại và chủ nghĩa tư bản công nghiệp cùng
với ảnh hưởng của tư tưởng kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem như là


cuộc đấu tranh giữa các đối thủ. Trong thực tế đời sống kinh tế, cạnh tranh
ngày càng được xem là một cuộc đấu tranh giữa các đối thủ với mục đích
đánh bại đối thủ. Đặc biệt, trước xu thế hội nhập như hiện nay, cạnh tranh
ngày càng trở nên khốc liệt và phức tạp hơn, trở thành một vấn đề sống còn
của doanh nghiệp, doanh nghiệp nào không thể cạnh tranh được với đối thủ
sẽ nhanh chóng bị đào thải ra thương trường.
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh :
Cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Để
tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh
tranh như là lựa chọn duy nhất. Cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế
thị trường, nơi có sự cung ứng hàng hóa, dịch vụ của ít nhất hai doanh
nghiệp (người kinh doanh) trong cùng một điều kiện giống nhau. Trong bối
cảnh đó, các doanh nghiệp phải bằng mọi biện pháp khác nhau để sử dụng
tối đa các nguồn lực (khả năng) mà mình có để vượt lên trên đối thủ cạnh

lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn
mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động
an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động
bất lợi của môi trường kinh doanh”.
Nhìn chung năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại đều được
xem xét thông qua khả năng tạo và duy trì lợi nhuận thị phần nhất định trên
thị trường. Mỗi ngân hàng thương mại phải duy trì được các lợi thế so
sánh của mình với các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng nhằm thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng và
giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của ngân
hàng thương mại thể hiện thành các lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh
khác nhưng các lợi thế đó không phải là bất biến. Điều đó phụ thuộc vào


mỗi ngân hàng trong việc thường xuyên duy trì và tăng cường năng lực
cạnh tranh. Có những ngân hàng thương mại gần như không có lợi thế hoặc
lợi thế chỉ ở dạng tiềm năng tuy nhiên do biết cách khai thác và sử dụng
một cách hợp lý hiệu quả các lợi thế tiềm năng đó đã nâng cao được năng
lực cạnh tranh của mình trên thương trường.
* Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại :
Cạnh tranh là động lực cho phát triển của ngân hàng và toàn bộ nền kinh
tế. Cạnh tranh thúc đẩy các ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ ngân
hàng phục vụ nhu cầu khách hàng, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả
sử dụng nguồn lực. Theo ông Michael Fairbanks1 - một chuyên gia nghiên
cứu và tư vấn về năng lực cạnh tranh, thì cạnh tranh tạo động lực tối đa hoá
hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế. Ngoài ra, cạnh tranh của
ngân hàng mang lại lợi ích cho khách hàng vì được sử dụng dịch vụ rẻ hơn,
chất lượng cao hơn, hậu mãi tốt hơn. Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát
triển và khẳng định vị trí, thu hút khách hàng. Nếu sức cạnh tranh thấp,

- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện có thể. Nó bao gồm :
nguồn từ lợi nhuận , nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm,
cấp thêm …
- Các quỹ :
Ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quỹ có mục đích riêng. Trước tiên là quỹ
dự phòng tổn thất. Quỹ này được trích lập hàng năm và được tích lũy lại
nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra. Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao


mòn của vốn dưới tác động của lạm phát. Quỹ thặng dư là phần đánh giá
lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu
khi phát hành cổ phiếu mới. Tùy theo qui định cụ thể của từng nước, các
ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, khen thưởng, quỹ giám đốc…
Các quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn hình thành
các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên khả năng sử dụng các
quỹ này vào hoạt động kinh doanh tùy thuộc vào mục đích sử dụng quỹ.
- Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại mà có khả
năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở
hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm như sử
dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn
trả khi đến hạn.
* Vai trò của vốn chủ sở hữu :
- Vốn chủ sở hữu tuy chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy
động kinh doanh của một ngân hàng nhưng đóng vai trò rất quan trọng.
Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập ngân hàng, đây là nguồn vốn khởi
đầu tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cung cấp năng
lực tài chính cho quá trình tăng trưởng như mở rộng quy mô, mua sắm

Một ngân hàng thương mại làm ăn kinh doanh tốt, khả năng sinh lời cao sẽ
có điều kiện trích lập các quỹ dự trữ, đầu tư mở rộng mạng lưới giao dịch,
đầu tư công nghệ, khách hàng cảm thấy yên tâm tin tưởng và gửi tiền, do
đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Đánh giá mức sinh lợi của
một ngân hàng thông qua chỉ tiêu như giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau
thuế; tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (return on equity), tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản có ROA (return on assets)…


ROA = (Lợi nhuận ròng sau thuế / Tổng tài sản) x 100
Chỉ tiêu này được coi là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng hay hiệu
quả khai thác tài sản có . ROA giúp ta xác định hiệu quả kinh doanh tốt,
ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các mục
tiêu trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế.
ROE = (Lợi nhuận ròng sau thuế / Vốn chủ sở hữu) x 100
Chỉ tiêu này được coi là một thước đo hiệu quả của một đồng vốn ngân
hàng bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROE đo lường hiệu quả sử
dụng một đồng vốn chủ sở hữu.
Trong cạnh tranh, nếu ngân hàng có năng lực cạnh tranh tốt thì hoạt động
và thu được lợi nhuận cao hơn các đối thủ khác. Chỉ tiêu ROA, ROE cũng
được các tổ chức tài chính quốc tế sử dụng đánh giá điều kiện hội nhập
quốc tế của ngân hàng. Theo thông lệ quốc tế, mức ROA tối thiểu phải đạt
trên 1% và tỷ lệ ROE tối thiểu phải đạt 15% mới bảo đảm mực hiệu quả
hoạt động kinh doanh ngân hàng.
1.2.1.3. Chất lượng tài sản có :
Phản ánh sức khoẻ của một ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể
hiện thông qua các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ
lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và
đa dạng hoá danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn...
1.2.2. Khả năng ứng dụng công nghệ :

mọi cải tiến và phát triển.
- Trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm hoạt động ngân hàng của
những người tham gia công tác quản trị, kiểm soát, điều hành ngân hàng
quyết định tới chất lượng và tính khả thi của việc xây dựng và thực hiện


chiến lược hoạt động kinh doanh cũng như chính sách quản lý, kiểm soát
rủi ro của ngân hàng.
- Trình độ chuyên môn cao, thao tác nghiệp vụ thành thạo, kinh nghiệm của
đội ngũ các nhân viên ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản
phẩm dịch vụ ngân hàng, có thể phục vụ khách hàng chu đáo, chính xác,
nhanh chóng, chất lượng công tác quản lý tốt và kiểm soát được rủi ro.
- Chính sách nhân sự, đào tạo và sử dụng, đãi ngộ hợp lý sẽ giữ được cán
bộ có trình độ, năng lực tận tâm phục vụ cho sự nghiệp ngân hàng đồng
thời xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ, thu hút những người
có trình độ cao đến với ngân hàng. Nguồn nhân lực có trình độ cao, có
năng lực và kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng chính là nguồn tài sản
có giá trị của ngân hàng.
Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm và
trình độ cao được tích lũy theo thời gian . Hiệu quả của các chính sách
nhân sự, đặc biệt chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhana sự chất lượng cao
của một ngân hàng.
1.2.4. Trình độ quản lý và cơ cấu tổ chức :
Trình độ quản lý có vai trò quan trọng trong việc quyết định năng lực
cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Nếu trình độ quản lý không tốt sẽ làm giảm
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, bộ máy quản lý cồng kềnh gây lãng
phí, chất lượng nguồn nhân lực không cao… làm giảm năng lực cạnh tranh
của ngân hàng . Do đó các ngân hàng thương mại trong nâng cao phải nâng
cao trình độ quản lý trong đó đặc biệt quan tâm đến chất lượng nguồn nhân

chiếm trên 50% thu nhập của ngân hàng. Đây là một tiêu chí đánh giá năng
lực hoạt động của ngân hàng thương mại, thể hiện ở:


- Ngân hàng có thể cung ứng nhiều các phương tiện thanh toán (séc, ủy
nhiệm chi, thu tín dụng, ủy nhiệm thu, thanh toán chuyển tiền, thẻ ngân
hàng…) do đó khách hàng có nhiều sự lựa chọn.
- Ngân hàng có thể thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và thanh
toán quốc tế trên cơ sở tham gia thị trường thanh toán liên ngân hàng và
thiết lập các quan hệ đại lý thanh toán với các ngân hàng khác, đặc biệt là
quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu thanh
toán, chi trả của khách hàng.
- Ngân hàng đảm bảo việc thanh toán, chi trả nhanh cóng, chính xác theo
nhu cầu của khách hàng.
- Ngân hàng có khả năng cung ứng các dịch vụ thanh toán trực tuyến thông
qua hệ thống công nghệ tin học, viễn thông như internetbanking,
phonebanking, homebanking…
- Ngân hàng có số lượng thẻ ngân hàng được phát hành lớn, doanh số giao
dịch qua thẻ ngân hàng cao, đặc biệt là có hệ thống máy ATM và thiết lập
hệ thống đơn vị đại lý chấp nhận thanh toán thẻ nhiều, có khả năng liên kết
với hệ thống thanh toán thẻ của nhiều ngân hàng trong và ngoài nước.
Sự phát triển đa dạng của đời sống xã hội cùng với sự tiến bộ về khoa
học công nghệ đòi hỏi các ngân hàng thương mại ngoài việc cạnh tranh về
giá còn phải không ngừng tìm tòi, phát triển những hình thức dịch vụ mới,
đa dạng hóa danh mục, chủng loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng để đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, tăng thêm thị phần và lợi nhuận
cho ngân hàng.
* Khả năng đa dạng hóa sản phẩm trong từng dịch vụ ngân hàng và nhiều
loại dịch vụ ngân hàng, thể hiện :
- Có nhiều hình thức huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế như



giao dịch càng tăng đồng nghĩa với việc năng lực cạnh tranh của ngân hàng
tăng.
1.3. Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại :
1.3.1. Môi trường kinh tế :
Sự phát triển của nên kinh tế trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Sản xuất, kinh doanh,
thương mại và dịch vụ ngày càng tăng sẽ tác động đến khả năng thu hút
tiền gửi, khả năng cho vay đầu tư và phát triển các dịch vụ ngân hàng của
ngân hàng thương mại. Ngân hàng là một ngành chứa đựng nhiều rủi ro.
Mỗi một biến động bất lợi của môi trường kinh tế vĩ mô đều có thể ảnh
hưởng đến hoạt động bình thường của một ngân hàng. Một nước có nền
kinh tế phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, các chỉ số về lạm phát,
lãi suất, tỷ giá phát triển ổn định, năng lực cạnh tranh cao sẽ là một điều
kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng,
giúp các ngân hàng thương mại trong nước có điều kiện mở rộng quy mô
kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ từ đó nâng cao năng lực cạnh
tranh và hội nhập của mình. Và ngược lại, sự bất ổn định về kinh tế có thể
tạo ra sự dè dặt, co cụm của những nỗ lực đầu tư của các doanh nghiệp nói
chung và của các ngân hàng thương mại nói riêng.
1.3.2. Đối thủ cạnh tranh :
Trong phạm vi quốc gia, đối thủ cạnh tranh của các ngân hàng chính là
các ngân hàng khác, ngoài ra còn có các định chế tài chính phi ngân hàng
như công ty bảo hiểm, công ty tiết kiệm bưu điện, quỹ tín dụng nhân dân,
công ty tài chính. Trong điều kiện hội nhập, có nhiều ngân hàng quốc tế
vào đầu tư và ngược lại các ngân hàng thương mại mở rộng phạm vi kinh
doanh ra thị trường quốc tế . Số lượng các đối thủ cạnh tranh càng nhiều thì


ngân hàng như lòng tin của dân chúng; thói quen tiêu dùng và tiết kiệm của
người dân; trình độ dân trí và khả năng hiểu biết về các dịch vụ của ngân
hàng; mức thu nhập của người dân . Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh
hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là thói quen sử dụng tiền
tệ. Nếu người dân sử dụng tiền mặt nhiều thì người dân mất đi cơ hội kinh
doanh. Mức tiết kiệm của người dân càng cao càng có ảnh hưởng đến nguồn
cung tín dụng cho các ngân hàng. Trình độ dân trí cũng là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng. Trình độ dân trí ở một quốc
gia càng cao thì khả năng phổ biến dịch vụ ngân hàng hiện đại càng thuận
tiền , cơ hội đổi mới của các ngân hàng cũng cao hơn. Mức thu nhập cũng
vậy, người dân có thu nhập càng cao càng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân
hàng nhiều hơn.
Ngoài ra, đặc điểm văn hóa xã hội ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong
lĩnh vực ngân hàng có thể kể đến như quan điểm về doanh nhân và kinh
doanh; quan điểm về sự giàu có; quan điểm về thăng tiến; về đạo đức nghề
nghiệp; quan điểm về học tập, tự đào tạo; quan điểm về sự gắn bó nghề
nghiệp hay quan điểm về rủi ro thất bại… Phải quan niệm rõ ràng, ngân
hàng trước hết là một doanh nghiệp, do đó được toàn xã hội coi trọng và
tạo điều kiện phát triển. Bên cạnh đó, ngân hàng là một ngành dịch vụ chất
xám và cần có những cá nhân xuất sắc, có tham vọng kinh doanh, làm giàu
và thăng tiến sẽ tạo nên thành công của ngân hàng . Ngân hàng là một
ngành có nhiều rủi ro, những người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng phải
là những người có khả năng phát hiện và đánh giá được rủi ro, dám chấp
nhận rủi ro, đồng thời là người có sự thận trọng cần thiết, tôn trọng các yêu
cầu về đạo đức nghề nghiệp. Việc coi trọng đạo đức là cơ sở để ngân hàng
giữ chữ tín đối với khách hàng, gây dựng niềm tin của công chúng . Sự gắn


bó với nghề nghiệp cũng có ý nghĩa trong việc giúp người lao động có thời
gian và cơ hội tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm, từ đó giúp ngân

hướng dẫn về mặt pháp lý trong kinh doanh ngân hàng nhằm đảm bảo hoạt
động của các ngân hàng thương mại, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
và bình đẳng giữa các ngân hàng thương mại… Với vai trò quan trọng như
vậy đòi hỏi ngân hàng Nhà nước phải có năng lực quản lý điều hành phù
hợp. Nếu năng lực quản lý điều hành của ngân hàng Nhà nước không tốt sẽ
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và hội nhập của các ngân hàng thương
mại. Ví dụ không đưa ra được các quy định pháp lý kịp thời hướng dẫn
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, không có các biện
pháp cảnh cáo, ngăn chặn cần thiết đối với các hành vi tiêu cực, gian lận, vi
phạm những điều bị cấm hoặc không khuyến khích, hạn chế về năng lực
điều hành chính sách tiền tệ.


CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI (SHB)
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội SHB :
2.1.1. Giới thiệu về ngân hàng :
Tên doanh nghiệp:

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI

GÒN – HÀ NỘI
Tên giao dịch :

SHB

Tên quốc tế :

SaHa



đăng ký

kinh

doanh số

0103026080 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp – sửa đổi lần
thứ 16 ngày 25/08/2009
Ngành nghề kinh doanh:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của các thành phần kinh tế
và dân cư dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn; phát hành kỳ
phiếu có mục đích sau khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
- Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của tổ chức và cá nhân
trongnước và ngoài nước khi được NHNN cho phép
- Vay vốn NHNN và các tổ chức tín dụng khác.


- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn ñối với các tổ chức và cá nhân sản
xuất, kinh doanh trên địa bàn tuỳ theo tính chất và khả năng của nguồn
vốn.
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá .
Khách hàng và sản phẩm : SHB tập trung cả vào khách hàng cá nhân và
khách hàng doanh nghiệp với các sản phẩm dịch vụ :
- Sản phẩm tiền gửi:
• Tiền gửi thanh toán cá nhân và doanh nghiêp
• Tiền gửi có kỳ hạn
• Tiền gửi không kỳ hạn
• Tiết kiệm dự thưởng
• Các chứng chỉ tiền gửi có liên quan

vi phạm các nghĩa vụ thỏa thuận .
- Dịch vụ thẻ : Sản phẩm thẻ hiện tại của Ngân hàng là Thẻ ghi nợ nội địa
có thấu chi. Thẻ bắt đầu phát hành từ 07/12/2007 . Từ nay đến năm 2015 ,
SHB sẽ tiếp tục triển khai dịch vụ thẻ Visa, Master và thẻ tín dụng .
- Dịch vụ thanh toán : Dịch vụ thanh toán trong nước , Dịch vụ thanh toán
quốc tế , Chuyển tiền bằng điện (T/T) , Nhờ thu , Tín dụng chứng từ,…
- Các sản phẩm dịch vụ khác :
• Kinh doanh ngoại tệ: nhận thu đổi các loại ngoại tệ của khách hàng vãng
lai, mua bán các loại ngoại tệ trên tài khoản của khách hàng khi có yêu cầu,
thực hiện mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối trong nước và quốc tế
• Chi trả lương cán bộ - công nhân viên: nhận tiền mặt hoặc trích từ tài
khoản tiền gửi thanh toán của tổ chức kinh tế để thanh toán tiền lương cho
CBCNV theo thời gian nhất định hàng tháng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status