mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và í thức và sự vận dụng của đảng ta trong thực tiễn cách mạng việt nam hiện nay - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
===== o0o =====

TIÓU LUËN triÕt häc
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG THỰC
TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Người hướng dẫn khoa học : TS. Vi Thái Lang
Học viên

: Trần Thị Ngọc Hân

Lớp

: K18 - Lý luận văn học


2
Hà Nội - 2015


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Sau khi hoàn thành, luận văn phải đạt được mục đích là: ............................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................................................................2
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.

công nghệ phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Các nước đều có cơ hội phát
triển. Tuy nhiên ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc các nước phát
triển, khiến cho những nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước
những thử thách to lớn. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của chúng
ta quá thấp, lại đang ở trong môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, bên cạnh
đó chúng ta còn gặp phải sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch.
Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại. Đảng và nhà
nước ta cần liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt xây
dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Chính vì vậy, tìm hiểu mối
quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức giúp Đảng ta vận dụng vào việc
giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra góp phần thực hiện thành công
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay.
Với ý nghĩa đó tôi quyết định chọn đề tài: “Mối quan hệ biện chứng
giữa vật chất và ý thức. Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng
Việt Nam giai đoạn hiện nay".


2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Sau khi hoàn thành, luận văn phải đạt được mục đích là:
+ Làm rõ được những vấn đề lý luận chung về mqh giữa vật chất và ý
thức .
+ Thấy được sự vận dụng của Đảng ta trong thực tiễn CMVN giai đoạn
hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Khái quát vài nét về những vấn đề chung về mqh giữa vật chất và ý

tuy buộc phải thừa nhận sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng của thế giới
nhưng lại phủ nhận đặc trưng “tự thân tồn tại” của chúng, phủ nhận đặc tính
khách quan của vật chất, dựa vào lực lượng tinh thần để giải thích thế giới.
Các nhà triết học duy vật trước Mác thừa nhận sự tồn tại khách quan của
thế giới vật chất, bác bỏ vai trò sáng thế của tinh thần, thượng đế, họ lấy bản
thân giới tự nhiên để giải thích tự nhiên, lấy hiện thực khác quan để giải thích
về thế giới vật chất song họ lại đồng nhất vật chất với một hình dạng cụ thể
của vật thể.
1.1.2. Quan điểm của Các Mác và Ăngghen
C. Mác và Ph. Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy
tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc
đã nêu ra quan điểm về sự đối lập giữa vật chất và ý thức, cần phải sự
phân biệt rõ giữa vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học với
bản thân các sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất.


4
1.1.3. Quan điểm của V. I. Lênin
Kế thừa những tư tưởng thiên tài đó, V. I. Lênin đã bảo vệ và phát triển
quan niệm duy vật biện chứng về vật chất và đưa ra định nghĩa nổi tiếng hoàn
chỉnh về phạm trù vật chất: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm
giác của chúng chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào
cảm giác"
(V. I. Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1981, tập 18, tr. 151)
Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách
thông thường là quy một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác
rộng hơn vì khái niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật
chất, Lênin đã đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, vật chất tồn tại độc lập đối với

nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển
vào bộ óc của con người và được cải biến đi trong nó. Óc người là khí quan
vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của bộ óc người. Mối quan hệ giữa
bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức là không thể tách rời. Tất cả
những quan niệm tách rời hoặc đồng nhất ý thức với óc người đều dẫn đến
quan điểm duy tâm thần bí hoặc duy vật tầm thường. Ý thức là chức năng của
bộ óc người hoạt động bình thường.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên cơ sở nhận thức đúng đắn nguồn
gốc tự nhiên và xã hội của sự ra đời ý thức và nắm vững lý thuyết phản ánh
đã luận giải một cách khoa học bản chất của ý thức. Vật chất và ý thức là hai
hiện tượng chung nhất của thế giới hiện thực, mặc dù khác nhau về bản chất,
nhưng giữa chúng luôn có mối liên hệ không tách rời. Do vậy, muốn hiểu
đúng bản chất của ý thức cần xem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vật


7
chất, mà chủ yếu là đời sống hiện thực có tính thực tiễn của con người. Bản
chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản
ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.
Như vậy, khi xem xét ý thức từ mặt bản thể luận, thì ý thức chỉ là "hình
ảnh" về hiện thực khách quan trong óc người. Đối với con người, cả ý thức và
vật chất đều là hiện thực, nghĩa là đều tồn tại thực. Nhưng cần phân biệt giữa
chúng có sự khác nhau, đối lập nhau về bản chất: vật chất là hiện thực khách
quan; còn ý thức là hiện thực chủ quan. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách
quan, ý thức không phải là sự vật, mà chỉ là "hình ảnh" của sự vật ở trong óc
người. Ý thức tồn tại phi cảm tính, đối lập với các đối tượng vật chất mà nó
phản ánh luôn tồn tại cảm tính. Thế giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ
nhất. Còn ý thức chỉ là bản sao, là "hình ảnh" về thế giới đó, là tính thứ hai..
Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Về nội dung mà ý
thức phản ánh là khách quan, còn hình thức mà nó phản ánh là chủ quan. Ý

Tóm lại, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất đặc biệt
là bộ óc người; nói cách khác, chỉ có con người mới có ý thức. Loài người
xuất hiện là kết quả của lịch sử vận động, phát triển lâu dài của thế giới vật
chất. Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc người là nền tảng vật chất để ý thức hoạt
động; cùng với hoạt động thực tiễn và đời sống xã hội phong phú tạo động lực
mạnh mẽ thúc đẩy ý thức hình thành và không ngừng phát triển. Không có bộ
óc của con người, không có hoạt động thực tiễn xã hội thì không thể có ý
thức. Sáng tạo là thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức. Sức sáng tạo
của ý thức trong tinh thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiễn khác
nhau về bản chất nhưng chỉ là những biểu hiện khác nhau của năng lực sáng
tạo, khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.


9
1.3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau về bản chất, nhưng
giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng, mặc dù vai trò không ngang
bằng nhau. Lênin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa
tuyệt đối trong phạm vi hết sức hạn chế, trong trường hợp này, chỉ giới hạn
trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước cái gì là
caí có sau. Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập
đó chỉ là tương đối. Tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể
hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt - bộ óc người và thuộc
tính của chính nó.
Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được
rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là
cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thứ hai. Vật chất tồn
tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức. Sự vận
động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có
tư duy là bộ óc người. Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt

giờ cũng giữ vai trò quyết định chi phối và quy định mục đích hoạt động của
con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể
tham gia hoạt động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần này
hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục
đích, chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng
cách chọn lựa sửa chữa, bổ sung, cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp
đó. Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng hướng đến mục tiêu cải
biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống, hơn nữa cuộc sống tinh thần của
con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn những
nhu cầu vật chất và những điều kiện vật chất hiện có. Khẳng định vai trò cơ
sở quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất. Hơn nữa trong hoạt động của


11
mình con người không thể để cho thế giới khách quan quy luật khách quan
chi phối mà chủ động hướng nó đi theo con đường có lợi của mình. ý thức
con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất, cũng không thể thay đổi
được quy luật vận động của nó. Do đó, trong quá trình hoạt động của mình
con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể thoả mãn mục
đích chủ trương trong phạm vi hoàn cảnh cho phép.
Ý thức không tồn tại thụ động mà có tính độc lập tương đối tác động
trở lại đối với thế giới vật chất, thông qua hoạt động thực tiễn của con người,
chỉ đạo hoạt động cải tạo thế giới trong hiện thực theo nhu cầu của con
người thông qua thực tiễn. Theo chỉ dẫn của C. Mác: "Tư tưởng căn bản
không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện được tư tưởng, thì cần có
những con người sử dụng lực lượng thực tiễn " (C. Mác và Ph. Ăngghen,
toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 211). Vai trò của ý thức cải
tạo thế giới sẽ rất khác nhau, tuỳ thuộc vào chất lượng phản ánh hiện thực
khách quan là đúng đắn hoặc sai lầm. Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực
khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức

- chủ thể của hoạt động đó. Con người lao động sáng tạo để duy trì sự sống
với chất lượng ngày càng cao của mình. Qua đó, dần dần ý thức đầy đủ về
những cái tồn tại đối diện, quy định hoạt động của mình và giới hạn sức mạnh
của bản thân mình.
Khi nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện
tượng của thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan,
không lấy ý muốn chủ quan của mình làm cơ sở định ra chính sách, không lấy
ý chí áp đặt cho thực tế. Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn
trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, định kiến, thiếu
trung thực. Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy
luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan.


13
CHƯƠNG II: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG THỰC TIỄN
CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học
Mác Lênin thừa nhận chỉ có một thế giói duy nhất và thống nhất là thế giới
vật chất. Vật chất và ý thức có quan hệ biện chứng với nhau. Vật chất là
nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có tác dụng trở lại đối
với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy nguyên tắc
phương pháp luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của người là:
Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức phải tôn trọng khách quan đồng thời
phải phát huy cao độ tích tích cực, năng động sáng tạo của nhân tố chủ quan.
2. 1. Tôn trọng khách quan
Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Điều
này đòi hỏi trong hoạt động và nhận thức của con người phải xuất phát từ
thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, căn cứ cho mọi hoạt động của
mình. Điều đó có nghĩa con người phải nhận thức và và vận dụng một cách
đúng đắn những quy luật khách quan. Mục đích, đường lối, chủ trương con

tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện. So với trước đây
thì mức khủng hoảng đã giảm bớt. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng
được phát huy...
Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra bài học: "Mọi
đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật
khách quan" ( Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 5.)
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam đã rút ra bài
học kinh nghiệm: “ Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân,


15
phù hợp với thực tiễn luôn sáng tạo”. Đổi mới là công cuộc cách mạng sâu
sắc, toàn diện, triệt để diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã
hội. Do đó phải sáng tạo. Sáng tạo nhưng luôn phù hợp với qui luật khách
quan, với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Sáng tạo nhưng không bảo thủ trì
trệ. Trong quá trình đổi mới, một mặt Đảng ta coi trọng công tác tổng kết thực
tiễn, nghiên cứu lý luận để có cơ sở kịp thời điều chỉnh bổ sung, phát triển
đường lối cho phù hợp. Mặt khác, Đảng rất coi trọng tìm tòi lựa chọn khâu
đột phá mới làm chuyển biến tình hình. Trong khi khẳng định đổi mới toàn
diện đồng bộ, triệt để, Đảng ta nhấn mạnh trước hết phải đổi mới tư duy về
chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội, đối ngoại.
Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Đảng ta đã đúng khi
tập trung trước hết vào việc đổi mới về kinh tế, khắc phục cuộc khủng hoảng
kinh tế – xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất, tinh thần để giữ vững ổn
định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện đổi
mới các lĩnh vực khác thắng lợi. Trong đổi mới kinh tế, khâu trung tâm của
công cuộc đổi mới, Đảng ta nhấn mạnh “ thực hiện nhất quán lâu dài chính
sách kinh tế nhiều thành phần” nhưng phải củng cố tăng cường kinh tế nhà

thực tiễn của con người. Mác viết: "Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì
hết, muốn thực hiện được tư tưởng, thì cần có những con người sử dụng lực
lượng thực tiễn" ( C. Mác và Ph. Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội,
1995, tập 2, tr. 211).
Mặt khác khi thực tiễn đặt ra những nhiệm vụ để con người giải quyết
thì bản thân nó cũng sản sinh ra những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm
vụ đó. Nên vấn đề trọng yếu trước tiên, quyết định thành công hay thất bại
của con người, đó là con người có tìm ra, có huy động, tổ chức được những
yếu tố vật chất thành lực lượng vật chất để thực hiện mục đích, đường lối chủ
trương của mình hay không.


17
Thực tiễn công cuộc kháng chiến cứu nước, chúng ta đã rất thành công
trong việc huy động, tổ chức sức mạnh của mỗi người, của cả nước tạo nên
sức mạnh của lực lượng vật chất khổng lồ của chiến tranh nhân dân, đánh bại
những thế lực hơn chúng ta nhiều lần về tiềm lực kinh tế lẫn quân sự để bảo
vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Ngày nay, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
Đảng ta xác định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết
toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do
Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát
huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, H 2001, tr.86) cũng chính là tạo ra lực lượng vật chất để thực
hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
2.2. Phát huy tính năng động chủ quan
Phát huy tính năng động chủ quan là quá trình phát huy tính tích cực,
năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong
việc vật chất hoá những tính chất ấy. Việc phát huy tính năng động chủ quan

phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội tạo ra những
tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX đánh giá: “ khoa học xã hội và nhân văn, khoa
học tự nhiên và công nghệ chuyển biến tích cực, gắn bó hơn với phát triển kinh
tế -xã hội ” ( Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr.69)
Tiếp tục thực hiện quan điểm đó thì tại báo cáo chính trị tại đại hội X đã
đánh giá: “giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn.
… khoa học và công nghệ góp phần tích cực vào việc hoạch định đường lối,
chính sách, điều tra… phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng an


19
ninh” ( Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb CTQG, H 2006, tr.358)
Để thực hiện nội dung tôn trọng tri thức khoa học tạo cơ sở tiền đề, động
lực nhằm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, Đảng và Nhà nước
chủ trương “thực hiện cơ chế kết hợp chặt chẽ giữa khoa học xã hội và nhân
văn với khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Đổi mới chính sách đào tạo,
sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt
Nam ở nước ngoài. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng giao
lưu và hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, thu hút chuyên gia giỏi của
thế giới đóng góp vào sự phát triển đất nước bằng nhiều hình thức thích hợp”
Thứ hai: Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào
quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành
động.
Trên cơ sở tôn trọng tri thức khoa học, thì phải thực sự làm chủ tri thức
khoa học. Đây là một quá trình lâu dài và hết sức khó khăn. Việc vươn lên
làm chủ tri thức khoa học không chỉ liên quan đến quan niệm của con người
về khoa học mà còn liên quan đến năng lực, nghị lực, quyết tâm của con

Tóm lại tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa là
những yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa là phương pháp luận cơ bản trong hoạt
động nhận thức và cải tạo thực tiễn. Những yêu cầu này khác nhau nhưng lại
thống nhất và có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau nên con người chỉ
có thể đạt hiệu quả tối ưu khi thực hiện chúng một cách đồng bộ, sáng tạo và
song song với đó là phải chống các quan điểm, tư tưởng và những biểu hiện
đối lập.


21
KẾT LUẬN
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp rất khó khăn, phức
tạp nó là một công cuộc kháng chiến trường kỳ của Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những biến động
nhiều mặt của đất nước ta trong quá trình đổi mới toàn diện xã hội càng đòi
hỏi toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta phải kiên trì, kiên định, giữ vững
lòng tin, quyết tâm khắc phục khó khăn đồng thời phải tỉnh táo, thông minh,
nhạy bén, sáng tạo để thích ứng kịp thời với tình hình thực tiễn xã hội biến
đổi.
Quán triệt phương pháp luận duy vật biên chứng của chủ nghĩa Mác Lênin và vận dụng thành thạo phép duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu
làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn của xã hội Việt Nam có ý nghĩa to lớn cho
sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn hiện nay. Trong đó việc làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa
vật chất và ý thức có ý nghĩa to lớn cả về lý luận cũng như phương pháp luận
trong nhận thức và cải tạo thế giới theo đúng quy luật khách quan vốn có của
nó, đồng thời vận dụng một cách khoa học, sáng tạo, linh hoạt trong hoạt
động thực tiễn. Điều này có ý nghĩa quan trọng để Đảng ta vận dụng trong
thực tiễn công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status