Phân tích vị trí và nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong hệ thống phép biện chứng duy vật ý nghĩa phương pháp luận sự vận dụng của đảng ta trong đường lối đổi mới đất nước - Pdf 10

Mở đầu
Cùng với xu thế của thời đại và thế giới thì việc chuyển sang nền kinh tế
thị trờng của Việt Nam là tất yếu. Vào những năm 70 , cuối những năm 80 của
thế kỷ XX , khi mà những khủng hoảng kinh tế trong hệ thống các nớc xã hội
chủ nghĩa đã phát triển đến đỉnh điểm, Việt Nam cũng không nằm ngoài tình
trạng này . Trớc tình hình này , Đảng và Nhà nớc ta đã quyết định chuyển nền
kinh tế đất nớc từ cơ chế tập trung quan liêu , bao cấp sang nền kinh tế thị trờng,
mà mốc đánh dấu là Đại hội Đảng VI (tháng 12 năm 1986).
Kinh tế thị trờng là một nền kinh tế phát triển nhất cho tới nay với rất
nhiều mặt u đIểm. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng ,
nớc ta không tránh khỏi những khó khăn . Theo quan đIển triết học duy vật biện
chứng thì bất cứ một sự vật , hiện tợng nào cũng chứa đựng trong nó những mâu
thuẫn của các mặt đối lập . Điều này cũng đúng trong nền kinh tế thị truờng ở
Việt Nam hiện nay, trong lòng nó đang chứa đựng các mâu thuẫn . Trong giai
đoạn chuyển tiếp này , trớc hết đó là mâu thuẫn của sự xuất hiện cơ chế mới của
nền kinh tế thị trờng và cơ chế cũ trong nền kinh tế tập trung , quan liêu , bao
cấp ; mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển với kiến trúc thợng tầng về mặt chính
trị , pháp lý , quan điểm , t tởng . Mâu thuẫn giữa tính tự phát của sự phát triển
kinh tế thị trờng (theo chủ nghĩa t bản) với định hớng xã hội chủ nghĩa , mâu
thuẫn giữa mặt tích cực và mặt tiêu cực của kinh tế thị trờng
Những mâu thuẫn này đang hiện diện và tác động mạnh mẽ tới quá trình
phát triển nền kinh tế đất nớc . Việc nhận thức rõ vấn đề này và giải quyết chúng
có ý nghĩa vô cùng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế Việt Nam
hiện nay . Đây là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nớc ta .
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này và bằng những kiến thức
thu đợc trong năm học vừa qua tôi chọn đề tài: "Phân tích vị trí và nội dung
của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong hệ thống
phép biện chứng duy vật? ý nghĩa phơng pháp luận? Sự vận dụng của
Đảng ta trong đờng lối đổi mới đất nớc?"
1
I. Cơ sở lý luận

chủ yếu là triết học linh viện tập trung vào cái chung và cái riêng . Sang đến triết
học Tây Âu thời phục hng và cận đại cùng với những thành tựu về khoa học tự
nhiên thì sự đấu tranh giữa triết học duy tâm và triết học duy vật cũng diễn ra hết
sức gay gắt . Nhng các quan đIểm thời kỳ này vẫn rơi nhiều vào siêu hình , máy
móc .Tới triết học cổ điển Đức mới thực sự bao hàm những t tởng triết học tiến
bộ . Cách mạng và khoa học . Triết học cổ diển Đức đã đạt đợc trình độ khái quát
và t duy trừu tợng rất cao với những hệ thống kết cấu chặt chẽ , thể hiện một
trình độ t duy tài biện thâm cao vợt xa tính trực quan , siêu hình của nền triết học
Anh Pháp ở thế kỷ XVII XVIII, do vậy các t tởng triết học về mâu thuẫn
đã có những bớc tiến đáng kể Đại biểu đặc trng của triết học cổ điển Đức là
Hêghen .
I.2.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.
Mỗi sự vật hiện tợng đang tồn tại đều là một thể thống nhất đợc cấu thành
bởi các mặt đối lập , các thuộc tính , các khuynh hớng phát triển ngợc chiều
nhau , đối lập nhau
*Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập .
Khái niệm mặt đối lập trong quy luật mâu thuẫn là sự khái quát các mặt ,
các khuynh hớng , các thuộc tính trái ngợc nhau trong một chỉnh thể làm nên sự
vật , hiện tợng . Mỗi mâu thuẫn phải có hai mặt đối lập . Nhng không phải hai
2
mặt đối lập bất kỳ của một mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn . Chỉ
những mặt đối lập nào nằm trong một chỉnh thể có quan hệ khăng khít với nhau ,
tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn . Mâu thuẫm là một chỉnh
thể, trong đó các mặt đối lập vừa đấu tranh , vừa thống nhất với nhau .
Trong một mâu thuẫn , hai mặt đối lập có quan hệ thống nhất với nhau.
Khái niệm thống nhất trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là hai mặt đối lập
liên hệ với nhau, ràng buộc nhau , quy định nhau ,mặt này lấy mặt kia làm tiền
đề tồn tại của mình . Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật
thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật . Bởi vậy sự thống nhất của các mặt
đối lập là điều kiện không thể thiếu đợc cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật , hiện t-

mới xuất hiện . Cứ nh thế đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi
không ngừng từ thấp đến cao . Chính vì vậy Lênin khẳng định sự phát triển là
một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập .
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập , Lênin chỉ ra rằng :Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý
nghĩa là chính nó nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận
biết đợc sự vật , sự vật tồn tại trong thế giới khách quan . Song bản thân sự thống
nhất chỉ là tạm thời . Đấu tranh của các mặt đối lập mới là tuyệt đối . Nó diễn ra
thờng xuyên , liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật . Kể cả trong trạng
thái ổn định , cũng nh khi chuyển hoá nhảy vọt về chất . Lênin viết :sự thống
3
nhất (phù hợp , đồng nhất ,tác dụng ngang nhau )của các mặt đối lập là có điều
kiên , tạm thời , thoang qua trong tơng đối . Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài
trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng nh sự phát triển , sự vận động tuyệt đối.
*Chuyển hóa của các mặt đối lập .
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn tới sự
chuyển hoá giữa chúng . Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một trình độ nhất định , hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá ,
bài trừ , phủ định lẫn nhau . Trong giới tự nhiên , chuyển hoá của các mặt đối lập
thờng diễn ra một cách tự phát , còn trong xã hội chuyển hoá của các mặt đối lập
diễn ra nhất thiết phải thông qua hoạt động có ý thức của con ngời
Do đó , không nên hiểu sự chuyển hoá của các mặt đối lập chỉ là sự hoán
đổi vị trí một cách đơn giản , máy móc . Thông thờng thì mâu thuẫn chuyển hoá
theo hai phơng thức :
+Phơng thức thứ nhất :Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia
nhng ở một trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật .
Ví dụ :Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu
tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới ở trình độ cao
hơn.
+Phơng thức thứ hai:Cả hai mặt đối lập đều chuyển hoá lẫn nhau để tạo

thế bởi một phơng thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn , nhân đạo hơn.
4
Chủ nghĩa t bản , mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh và tự thích
nghi, nhng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó , chủ nghĩa t bản không thể tự
giải quyết đợc , có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu đợc chừng nào mâu thuẫn mà
thôi . Nền kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu
hớng tự phủ định và tự tiến hoá để chuyển sang một giai đoạn hậu công nghiệp ,
theo xu hớng xã hội hoá . Đây là tất yếu khách quan , là quy luật phát triển của
xã hội . Nhân loại muốn tiến lên , xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể
dừng lại ở kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa .
Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết là một kiểu tổ chức xã hội , tổ
chức kinh tế muốn sớm khắc phục khuyết tật của chủ nghĩa t bản, muốn nhanh
chóng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn , một phơng thức sản xuất văn minh hiện
đại hơn chủ nghĩa t bản . Nhng có lẽ , do nôn nóng , làm trái quy luật , không
năng động , kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cục đã không thành
công . Liên Xô khắc phục sự nóng vội bằn cách đa ra thực hiện chính sách kinh
tế mới (NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế
hàng hoá, chấp nhận ở mức độ nhất định cơ chế thị trờng Muốn thế , Nga cần
phải sử dụng quan hệ tiền tệ hàng hoá và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần , đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc để phát triển lực lợng
sản xuất . Tuy chỉ mới thực hiện trong một thời gian ngắn nhng NEP đã đem lại
những kế quả tích cực cho nớc Nga:hồi phục và phát triển kinh tế bị chiến tranh
tàn phá, nhiều nghành kinh tế hoạt động năng động , nhộn nhịp hơn . Tiếc rằng ,
t tuởng của V.I.Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội với chính sách NEP đã
không đợc tiếp tục thực hiện sau đó .
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, những khuyết tật của mô hình
kinh tế Xô Viết bộc lộ ra rất rõ cộng với sự yếu kém trong công tác lãnh đạo ,
quản lý lúc bấy giờ đã làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và các nớc Đông Âu rơi vào tình trạng khủng hoảng trì trệ . Một số nhà lãnh đạo
chủ chốt của Đảng và Nhà nớc Liên Xô lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng

*.Bản chất và những đặc trng của kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
Nói kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không phải
kinh tế thị trờng tự do theo kiểu t bản chủ nghĩa , cũng không phải kinh tế bao
cấp quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp và cũng cha hoàn toàn là kinh
tế thị trờng xã hội chủ nghĩa ,bởi vì Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội , vừa có vừa cha có các yếu tố của chủ nghĩa xã hội .
Chủ trơng phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp
thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại , phát huy vai trò tích cực của
kinh tế thị trờng trong việc thúc đẩy sức sản xuất , xã hội hoá lao động , cả tiến
kỹ thuật công nghệ , nâng cao chất lợng sản phẩm , tạo ra nhiều của cải , góp
phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân : đồng thời phải có
những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trờng . Đây
cũng là sự lựa chọn tự giác con đờng và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt
lý luận Mác Lênin nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam .
Mục đích của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là phát
triển lực lợng sản xuất , phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội , nâng cao đời sống nhân dân .Phát triển lực lợng sản xuất
hiện đại gắn liền với phát triển quan hệ sản xuất mới , tiên tiến.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu,,
nhiều thành phần kinh tế , trong dó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo : kinh tế
nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc .
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nớc,
Nhà nớc xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lợc, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách , pháp luật , và bằng cả sức mạnh vật chất của kinh tế nhà n-
ớc : đồng thời sử dụng cơ chế thị trờng , áp dụng các hình thức kinh tế và phơng
pháp quản lý của kinh tế thị trờng để kích thích sản xuất , giải phóng sức sản
xuất , phát huy mặt tích cực , hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng , bảo vệ
lợi ích của nhân dân lao động , của toàn thể nhân dân .

phần , vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc , theo định hớng
xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay , vấn đề lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
là một vấn đề hết sức phức tạp , mâu thuẫn giữa hai lực lợng này và những biểu
hiện của nó xét trên phơng diện triết học Mac-Lênin , theo đó lực lợng sản xuất
là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật , lực lợng sản
xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất , lực lợng sản xuất là yếu tố động ,
luôn thay đổi. Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì
quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm sự phát
triển của lực lợng sản xuất . Để mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển , cần
thay thế quan hệ sản xuất cũ băng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất .Chính quan hệ sản xuất tự phát triển để
để phù hợp với lực lợng sản xuất , quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất , đó là quy luật kinh tế chung cho sự phát triển của xã
hội .
Quá trình mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất
lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt , quyết liệt và cần đợc giải quyết . Nhng giải
quyết nó bằng cách nào ? Đó chính là các cuộc cách mạng xã hội ,các cuộc
chuyển đổi kinh tế mà các cuộc chuỷên đổi kinh tế ở nớc ta là một ví dụ . Khi
một mục tiêu , một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng , thể hiện tính chất cách mạng
của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nớc ta trở
thành quốc gia công nghiệp hoá , hiện đại hoá , xã hội công bằng , dân chủ , văn
minh .
Công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc là chủ trơng , biện pháp vừa mang
tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội . Nói đến
công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc chính là nói đến nền sản xuất tiên tiến và
đó chính là lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất , nói đến khoa học, đến sự anh
minh của trí tuệ là nói đến một phơng thức tối u để thoát khỏi tình trạng sản xuất
nhỏ , nông nghiệp lạc hậu , tạo điều kiện và cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội đợc xây dựng và phát triển. Không thể ăn đói mặc rách với cái cuốc
trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết chủ nghĩa xã hội , chuyển

nhiều hình thức sở hữu , chứ không phải chỉ bao gồm hai hình thức sở hữu là sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể nh quan niệm trớc đây .
Trong giai đoạn hiện nay , nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm
nhiều hình thức sở hữu nh: sở hữu toàn dân , sở hữu tập thể , sở hữu nhà nớc , sở
hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp . Trong các hình thức sở hữu này , khái quát lại chỉ
có hai hình thức sở hữu đó là : công hữu và t hữu , còn các hình thức sở hữu khác
chỉ là hình thức trung gian, quá độ hoặc hỗn hợp . ở đây mỗi hình thức sở hữu lại
có nhiều hình thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau. Chúng đợc hình
thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất và năng lực quản lý .
Về sở hữu toàn dân.
Trớc đây , ngời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng với sở hữu nhà nớc .
Nền kinh tế nhiều thành phần đơng nhiên bao gôm nhiều hình thức sở hữu, trong
đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác phát triển theo hớng có lợi cho quốc tế dân sinh . Nhà nớc quản lý kinh
tế với t cách là cơ quan có quỳên lực đại diện cho lợi ích của nhân dân và là đại
diện đối với tài sản sở hữu toàn dân .
ở nớc ta hiện nay , nh hiến pháp và luật đất đai quy định rõ :Xét và mặt
kinh tế , đất đai là phơng tiện tồn tại của cả một cộng đồng xã hội . Xét về mặt
xã hội , đất đâi là nơI c trú của một cộng đồng . Thế nhng khi xét trên cả hai ph-
ơng diện có thể nói đất đai không thể là sở hữu của riêng ai . Tuy nhiên , suy cho
cùng , đất đai là t liệu sản xuất , hay nói chính xác hơn đó là một bộ phận quan
trọng của sản xuất . Bởi thế , dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hoá, nó
vẫn phải hoạt động theo quy luật của thị trờng và chịu sự điều tiết của quy luật
8
đó .Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nớc là ngời đại diện, thống nhất
quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân, kể cả
quyền chuyển nhợng , quyền sử dụng đất đai nếu biết giải quyết các vấn đề sở
hữu, biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng . Chẳng hạn nh ruộng đất vẫn

phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thờng rất hạn chế , song đôi khi lại có
tình trạng lạm quyền. Sự không xác định , sự nhập nhằng giữa quyền sở hữu nhà
nớc và sở hữu t nhân trá hình cũng là hiện tợng phổ biến . Để thoát khỏi tình
trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trờng hiện naycần phải xác định rõ
quyền mua bán và chuyển nhợng t liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất kinh
doanh. Chỉ có nh vậy, sở hữ tập thể mới có thể trở thành hình thức sở hữu có hiệu
quả.
Chúng ta biết, hợp tác xã không phải là hình thức riêng có đặc trng cho
chủ nghĩa xã hội, nhng nó là một hình thức sỏ hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội . Vì vậy , chúng ta phải duy trì và phát triển hơn nữa
khi xây dựng chủ nghĩa xã hội nh V.I.Lênin đã khẳng định :chế dộ của ngời xã
viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa".
Hợp tác xã là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình , của nền sản
xuất hàng hoá. Khi lực lợng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏ phát
triển đến một trình độ nhất định , nó sẽ thúc đẩy quá trình hợp tác . Trong đIều
kiện của nề kinh tế hàng hoá các nhu cầu về vốn , cung ứng vật t, tiêu thụ sản
9
phẩm đòi hỏi các hộ sản xuất phải liên kết với nhau mới có khả năng cạnh
tranh và phát triển. Chính nhu cầu đó đã liên kết những ngời lao động lại với
nhau làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể. Thực tế cho thấy , ở nớc ta hiện nay
đã có những hình thức hợp tác xã kiểu mới ra đời do nhu cầu tồn tại và phá triển
của cơ chế thị trờng hợp tác xã đợc tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự
tham gia trực tiếp của xã viên , phân phối theo kết quả lao động và cổ phần đóng
góp, mỗi xã viên có quyền nh nhau đối với công việc chung(Đảng cộng sản
Việt Nam Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VIII-nhà xuất bản chính
trị quốc gia Hà Nội 1996) . ĐIều này cho thấy kết cấu bên trong của sở hữu
tập thể đã thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn ở nớc ta hiện nay.
*Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trờng và mục tiêu xây dựng con ngời xã hội chủ
nghĩa .
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc hết

với việc tạo ra điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lợc xây dựng con ng-
ời cho thế kỷ XXI.
Trong năm qua , kinh tế thị trơng ở nớc ta đã đợc nhân dân hởng ứng rộng
rãi và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng , góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng
sáng tạo , làm cho nền kinh tế sống động hơn . Đây là những kết quả rất đáng
mừng , đáng đợc phát huy . nó thể hiện sự phát hiện và vận dụng đúng đắn các
10
quy luật khách quan của xã hội . Quá trình biện chứng đi lên chủ nghĩa xã hội từ
khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội .
Bên cạnh đó , có một khía cạnh khác cần đề cập tới : kinh tế thị trờng ở n-
ớc ta hiện nay không chỉ tạo điều kiện vật chất để xây dựng , phát huy nguồn lực
con ngời mà còn tạo ra môi trờng thuận lợi cho con ngời phát triển hoàn toàn ,
toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Kinh tế thị trờng tạo ra sự chạy đua , cạnh
tranh quyết liệt . Điều đó buộc con ngời phải năng động , sáng tạo , linh hoạt , có
tác phong nhanh nhạy , có đầu óc phân tích , tổng hợp để thích nghi và hành
động có hiệu quả. Từ đó nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con ngời góp
phần làm giảm đi tính trì trệ và chậm chạp vốn có của ngời lao động trong nền
kinh tế lạc hậu từ ngàn đời con ngời Việt Nam. Kinh tế thị trờng tạo ra những
điều kiện thích hợp cho con ngời mở rộng các quan hệ mua bán , giao lu , từ đó
hình thành những chuẩn mực văn hoá , đạo đức theo tiêu chí của thị trờng nh chữ
tín trong chất lợng và giao dịchĐây cũng là một hớng tốt đẹp bù đắp những
thiếu hụt trong hệ giải trí của con ngời Việt Nam.
Tuy nhiên , cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng kinh tế thị trờng là
những phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con ngời . Có những lúc, những
nơi , kinh tế thị trờng không những làm cho con ngời ta năng động hơn, tốt đẹp
hơn mà ngợc lại , còn làm tha hoá bản chất con ngời biến con ngời trở thành gã
nô lệ sùng bái đồng tiền hoặc đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích
cá nhân , sẵn sàng chà đạp lê nhân phẩm , đạo đức , luân lý Bên cạnh những
tác động tích cực , kinh tế thị trờng có nhiều khuyết tật ,hạn chế gây ra những tác
động xấu .

Chính vì vậy, khi chuyển sang nền kinh ttế thị trờng , nền kinh tế mở đã khiến
nền kinh tế gặp nhiều khó khăn.
Các hoạt động kinh tế vẫn còn mang nặng tính tập trung quan liêu bao cấp
. Các hoạt động thông qua các cơ quan trung gian nhà nớc vẫn còn đầy dẫy
những thủ tục phiền hà gây tốn thời gian vô ích , cán bộ quan liêu cửa quyền dẫn
đến hạn chế sự phát triển của nền kinh tế . Hoạt động của các cơ quan nhà nớc
khi chuyển sang kinh tế thị trờng không bắt kịp nhịp độ sản xuất do máy móc .
II.3. Thực trạng và phơng hớng giải quyết những mâu thuẫn trong nền kinh
tế thị trờng.
Theo quan điểm của Mác: các quy luật khách quan đều tồn tại và phát huy
tác dụng một cách khách quan và không phụ thuộc vào ý chí của con ngời . Vì
vậy , con ngời không thể sáng tạo thêm quy luật và con ngời cũng không có khả
năng thủ tiêu các quy luật khách quan . Vận dụng vào nền kinh tế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam , chúng ta một lần nữa khẳng định những mâu
thuẫn của nền kinh tế tồn tại một cách khách quan và tuân theo quy luật của
phép biện chứng duy vật . Do vậy , muốn giải quyết mâu thuẫn ở Việt Nam hiện
nay chúng ta phải dựa vào quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập .
Trong phạm vi bài tiểu luận , tôi xin mạn phép đa ra hớng giải quyết cụ thể cho
một mâu thuẫn đó là :mâu thuẫn giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội .
Khi đề cập tới mâu thuẫn này chúng ta phải khẳng định đây là nội dung
chủ yếu của các học thuyết kinh tế , của các chiến lợc , chính sách phát triển
kinh tế của các nớc đang phát triển . Một mục tiêu chiến lợc CNH-HĐH ở nớc ta
là tăng trởng kinh tế cao , liên tục , lâu dài, đi kèm với tiến bộ và công bằng xã
hội . Đại hội VIII đã chỉ rõ bài học cũng nh phơng hớng phát triển lau dài tăng
trởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội . Và giới nghiên cứu nớc ngoài tơng
đối thống nhất khẳng định phơng hớng đó là ở giai đoạn đầu của sự phát triển ,
đối với nớc nông nghiệp đi theo con đờng công nghiệp hoá , điều cần thiết là gia
tăng đáng kể về thu nhập do tăng trởng kinh tế đợc thúc đẩy bởi việc bộ phận lao
động đợc thu hút vào một số nghành có năng xuất lao động cao đi liền với sự
giảm sút tỷ lệ thu nhập có 20 , 40 hoặc 60% dân số ở phía dới . Vấn đề đặt ra

tiện để thực hiện gắn bó keo sơn giữa giai cấp công nhân , nông dân và lực lợng
tri thức . Nói khác đi , căn cứ liên kết giai cấp , tránh phân hoá giai cấp là nội
dung cốt lõi và tăng trởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội ở Việt Nam .
Thực hiện tăng trởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội là thực hiện liên t t-
ởng chỉ đạo của quá trình chỉ đạo đổi mới ở nớc ta đợc khởi xớng tại Đại hôI VI ,
liên tục khẳng định tại Đại hội VII, VIII .Đó là đổi mới kinh tế là trọng tâm ,
từng bớc đổi mới chính trị . Từ quan điểm chỉ đạo của nớc ta là toàn diẹn, đồng
bộ , cần tiếp tục đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế phát triển ở nớc ta ,
trong đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế thị trờng đi đôi nâng cao và tăng trởng , nâng
cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nớc là then chốt . Việc hoạch định chính
sách kinh tế xã hội trong thực tiễn phải hợp lý đó là : khi thực hiện phơng h-
ớng chính sách kinh tế và chính sách xã hội hoà quỵên với nhau nh là điều kiện
quyết định để đảm bảo phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội . Trên cơ
sở lấy con ngời làm trọng tâm , không ngừng phát huy , bồi dỡng, nâng cao
nguồn vốn con ngời ; cân nhắc thực hiện và hạn chế dần các chính sách kinh tế ,
thúc đẩy tăng trởng kinh tế trớc mặt nhng không có hại cho công bằng xã hội về
lâu dài. Sử dụng hợp lý chính sách xã hội , căn cứ vào hoàn cảnh kinh tế tài
chính đất nớc , phù hợp với truyền thống nhân nghĩa , đạo lý tốt đẹp của dân tộc ,
tinh thần bao dung nhân ái của nhân dân , của Chủ tịch Hồ Chí Minh ; kiên
quyết thực hiện các chính sách kinh tế không thúc đẩy tăng trởng kinh tế có hại
cho công bằn g xã hội .
13
Kết luận
Nền kinh tế thị trờng tuy mới hình thành ở nớc tanhng bớc đầu đã vợt qua
những khó khăn tởng chừng nh không thể vợt qua do nên kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp để lại thu đợc những thành tựu đáng phấn khích trong nền kinh tế.
Tạo niền tin trong nhân dân vào sự nghiệp đổi mới , kiên định đi theo con đờng
chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhà nớc đã lựa chọn . Tuy nhiên, bên cạnh những
mặt tích cực do nền kinht tế thị trờng mang lại chúng ta cũng không thể tránh
khỏi những mâu thuẫn vốn có của nó . Vì mới bớc đầu hội nhập với nền kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status