1
TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: “Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập trong hệ thống phép biện chứng duy vật”.
MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế của thời đại và thế giới thì việc chuyển sang nền kinh tế
thị trường của Việt Nam là tất yếu. Vào những năm 70, cuối những năm 80 của
thế kỷ XX, khi mà những khủng hoảng kinh tế trong hệ thống các nước xã hội
chủ nghĩa đã phát triển đến đỉnh điểm, Việt Nam cũng không nằm ngoài tình
trạng này. Trước tình hình này, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định chuyển nền
kinh tế đất nước từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, mà mốc đánh dấu là Đại hội Đảng VI (tháng 12 năm 1986).
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế phát triển nhất cho tới nay với rất
nhiều mặt ưu đIểm. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường, nước ta không tránh khỏi những khó khăn. Theo quan điểm triết học duy
vật biện chứng thì bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng chứa đựng trong nó
những mâu thuẫn của các mặt đối lập. Điều này cũng đúng trong nền kinh tế thị
truờng ở Việt Nam hiện nay, trong lòng nó đang chứa đựng các mâu thuẫn.
Trong giai đoạn chuyển tiếp này, trước hết đó là mâu thuẫn của sự xuất hiện cơ
chế mới của nền kinh tế thị trường và cơ chế cũ trong nền kinh tế tập trung, quan
liêu, bao cấp; mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển với kiến trúc thượng tầng về
mặt chính trị, pháp lý, quan điểm, tư tưởng. Mâu thuẫn giữa tính tự phát của sự
phát triển kinh tế thị trường (theo chủ nghĩa tư bản) với định hướng xã hội chủ
nghĩa, mâu thuẫn giữa mặt tích cực và mặt tiêu cực của kinh tế thị trường…
Những mâu thuẫn này đang hiện diện và tác động mạnh mẽ tới quá trình
phát triển nền kinh tế đất nước. Việc nhận thức rõ vấn đề này và giải quyết
chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế Việt
Nam hiện nay. Đây là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này và bằng những kiến thức
Hêraclit - nhà triết học lớn nhất của Hy Lạp cổ đại ở thời kỳ đầu của nó
thì phỏng đoán rằng: mâu thuẫn tồn tại trong mọi sự vật của thế giới. Theo ông,
3
các mặt đối lập gắn bó, quy định, ràng buộc với nhau. Heraclit còn khẳng định
vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh
của các lực lượng đối lập, nhờ vậy vũ trụ tồn tại và vận động. Vì thế đấu tranh là
“cha đẻ của tất cả, là ông hoàng của tất cả”.
Trải qua hơn một ngàn năm đêm dài trung cổ, nền triết học thời kỳ này
chủ yếu là triết học linh viện tập trung vào cái chung và cái riêng. Sang đến triết
học Tây Âu thời phục hưng và cận đại cùng với những thành tựu về khoa học tự
nhiên thì sự đấu tranh giữa triết học duy tâm và triết học duy vật cũng diễn ra
hết sức gay gắt. Nhưng các quan đIểm thời kỳ này vẫn rơi nhiều vào siêu hình,
máy móc. Tới triết học cổ điển Đức mới thực sự bao hàm những tư tưởng triết
học tiến bộ. Cách mạng và khoa học. Triết học cổ diển Đức đã đạt được trình độ
khái quát và tư duy trừu tượng rất cao với những hệ thống kết cấu chặt chẽ, thể
hiện một trình độ tư duy tài biện thâm cao vượt xa tính trực quan, siêu hình của
nền triết học Anh - Pháp ở thế kỷ XVII - XVIII, do vậy các tư tưởng triết học về
mâu thuẫn đã có những bước tiến đáng kể Đại biểu đặc trưng của triết học cổ
điển Đức là Hêghen.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.
Mỗi sự vật hiện tượng đang tồn tại đều là một thể thống nhất được cấu
thành bởi các mặt đối lập, các thuộc tính, các khuynh hướng phát triển ngược
chiều nhau, đối lập nhau…
* Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Khái niệm mặt đối lập trong quy luật mâu thuẫn là sự khái quát các mặt,
các khuynh hướng, các thuộc tính trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên
sự vật, hiện tượng. Mỗi mâu thuẫn phải có hai mặt đối lập. Nhưng không phải
hai mặt đối lập bất kỳ của một mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Chỉ
những mặt đối lập nào nằm trong một chỉnh thể có quan hệ khăng khít với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫm là một chỉnh thể,
nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn. Chỉ những sự khác nhau nào cùng tồn tại
trong cùng một sự vật có liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau,
tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập đó mới hình
thành bước đầu của một mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát
5
triển đến xung đột gay gắt, nó biến thành độc lập. Sự vật cũ mất đi, sự vật mới
hình thành. Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập
cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới
lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn được giải quyết, sự
vật mới xuất hiện. Cứ như thế đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến
đổi không ngừng từ thấp đến cao. Chính vì vậy Lênin khẳng định: “Sự phát
triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập”.
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập, Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với
ý nghĩa là chính nó - nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta
nhận biết được sự vật, sự vật tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân
sự thống nhất chỉ là tạm thời. Đấu tranh của các mặt đối lập mới là tuyệt đối.
Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả
trong trạng thái ổn định, cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất”. Lênin
viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt
đối lập là có điều kiên, tạm thời, thoáng qua trong tương đối. Sự đấu tranh của
các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận
động tuyệt đối”.
* Chuyển hóa của các mặt đối lập.
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn tới sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá,
bài trừ, phủ định lẫn nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập
thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội chuyển hoá của các mặt đối
lập diễn ra nhất thiết phải thông qua hoạt động có ý thức của con người.
Như đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình
độ phát triển nhất của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát
triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa đã phát triển tới trình độ khá cao và phồn thịnh ở các nước tư bản phát
triển.
7
Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng.
Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó
do chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất chi phối. Cùng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng
bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm bất công
và bất ổn của xã hội, đào sâu thên hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo.
Chính vì thế mà, như C.Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu
phải được thay thế bởi một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn,
nhân đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản, mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều
chỉnh và tự thích nghi, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa
tư bản không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được
chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại
đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hoá để chuyển sang
một giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hoá. Đây là tất yếu khách
quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn
phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ
chức kinh tế muốn sớm khắc phục khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh
chóng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh
hiện đại hơn chủ nghĩa tư bản. Nhưng có lẽ, do nôn nóng, làm trái quy luật,
không năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cục đã không
thành công. Liên Xô khắc phục sự nóng vội bằn cách đưa ra thực hiện “chính
sách kinh tế mới” (NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển
kinh tế hàng hoá, chấp nhận ở mức độ nhất định cơ chế thị trường Muốn thế,
với thực tế ở Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng cộng sản
Việt Nam (tháng 12 năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước
nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội
đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa
9
xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ
quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hành hoá
và thị trường. Phê phán triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và khẳng
định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội VI là một mốc đánh dấu
bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng cộng sản Việt Nam về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
* Bản chất và những đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không
phải kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải kinh tế
bao cấp quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp và cũng chưa hoàn toàn là
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ,bởi vì Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, vừa có vừa chưa có các yếu tố của chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự
tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực
của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy sức sản xuất, xã hội hoá lao động, cả
tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải,
góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân: đồng thời phải có
những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường.
Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở
quán triệt lý luận Mác - Lênin nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng
vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không
phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là
sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong
thời đại hiện nay. Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật
phát triển của thời đại và sự khái quát đúc rút kinh nghiệm phát triển kinh tế thị
trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc
và Việt Nam, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng
11
bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một kiểu
kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường.
2.2. Những mâu thuẫn tồn tại trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam
*Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, mâu thuẫn giữa hai lực lượng này
và những biểu hiện của nó xét trên phương diện triết học Mác-Lênin, theo đó lực
lượng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật,
lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất là
yếu tố động, luôn thay đổi. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ
nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Để mở đường cho lực lượng sản xuất
phát triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ băng quan hệ sản xuất mới phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chính quan hệ sản
xuất tự phát triển để để phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đó là quy luật kinh tế chung
cho sự phát triển của xã hội.
và sở hữu tập thể. Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi
hoàn cảnh lịch sử khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội
chủ nghĩa. Sau khi giành được chính quyền giai cấp công nhân đứng trước hai
hình thức sở hữu tư nhân khác nhau: sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và sở hữu
tư nhân của những người sản xuất nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân phải
có thái độ giải quyết khác nhau. Đối vơí hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa bằng cách tước đoạt hoặc chuộc lại để đưa thẳng lên sở hữu toàn dân, còn
đối với hình thức sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ thì không thể
dùng những biện pháp như trên, mà pỉai kiên trì giáo dục, thuyết phục tổ chức
13
họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng việc hợp tác hoá hai
hình thức. Sở hữu đó là đặc thù tiến lên chủ nghĩa cộng sản của giai cấp công và
nông dân tập thể.
Các hình thức sở hữu trước đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh
tế thị trường ở Việt Nam.
Hơn 10 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá
các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo toàn dân thực hiện.
Thực tiễn đã cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đương nhiên phải bao
gồm nhiều hình thức sở hữu, chứ không phải chỉ bao gồm hai hình thức sở hữu
là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể như quan niệm trước đây.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm
nhiều hình thức sở hữu như: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước,
sở hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này, khái quát lại
chỉ có hai hình thức sở hữu đó là: công hữu và tư hữu, còn các hình thức sở hữu
khác chỉ là hình thức trung gian, quá độ hoặc hỗn hợp. Ở đây mỗi hình thức sở
hữu lại có nhiều hình thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau. Chúng được
hình thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất và năng lực quản lý.
Trong thời kỳ bao cấp trước đây, không chỉ có nước ta mà còn ở các nước
khác trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thường đông nhất sở hữu nhà
nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy mà trong một thời gian khá dài,
người ta thường bỏ qua sở hữu nhà nước chỉ quan tâm đặc biệt tới sở hữu toàn
dân với chế độ công hữu dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Và cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết với khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng
ta ra sức quốc doanh hoá nền kinh tế với niền tin cho rằng chỉ có như vậy mới có
chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàn dân không
trở thành sở hữu của một chủ thể cụ thể nào cả.
Trong xã hội mà nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều
kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà
15
nước xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên
trong của sở hữu nhà nước ở nước ta có lẽ chủ yếu thể hiện ở quyền sở hữu đó, ở
khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp nhà nước.
Về sở hữu tập thể:
Ở nước ta trước đây, sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức hợp tác
xã (gồm cả hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả
giá trị và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính.
Vì vậy, với hình thức sở hữu này, quyền mua bán hoặcchuyển nhượng tư liệu
sản xuất, trong thực tế sản xuất và lưu thông hàng hoá ở nước ta đã diễn ra hêt
sức phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường rất hạn chế, song đôi khi lại
có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định, sự nhập nhằng giữa quyền sở hữu
nhà nước và sở hữu tư nhân trá hình cũng là hiện tượng phổ biến. Để thoát khỏi
tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay cần phải xác
định rõ quyền mua bán và chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể
sản xuất kinh doanh. Chỉ có như vậy, sở hữư tập thể mới có thể trở thành hình
thức sở hữu có hiệu quả.
Chúng ta biết, hợp tác xã không phải là hình thức riêng có đặc trưng cho
chủ nghĩa xã hội, nhưng nó là một hình thức sỏ hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ
hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa
phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Do nảy sinh và phát triển
trong một điều kiện lịch sử nhất định, kinh tế thị trường phản ánh đầy đủ trình
độ văn minh và phát triển là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế,
thúc đảy xã hội phát triển. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết
đIểm của nó như cạnh tranh lạnh lùng, tính tự phát mù quáng dẫn đến sự phá
sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ.
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng đổi mới ở nước ta
hiện nay, không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị
trường. Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển,
của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp nền kinh tế nước ta đã tụt hậu rất xa so
với khu vực và thế giới. Trong tình hình đó thì kinh tế thị trường là nhân tố rất
17
quan trọng đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảngvà phát triển phục
hồi sản xuất, đẩy mạnh tốc độ phát triển, bắt kịp bước bước tiến của thời đại.
Trên cơ sở đó đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao,
những nhu cầu sinh hoạt vật chất cơ bản hàng ngày được đáp ứng đầy đủ và
nhanh chóng. Con người không thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu thiếu ăn, thiếu
mặc, thiếu các điều kiện chăm sóc sức khoẻ hiện đại. Con người không thể có trí
tuệ minh mẫn, phát triển các điều kiện vật chất tiến hành các hoạt động học tập,
nghiên cứu khoa học không được đáp ứng. Việc xây dựng, củng cố hoàn thiện
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
cũng đồng nghĩa với việc tạo ra điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến
lược xây dựng con người cho thế kỷ XXI.
Trong năm qua, kinh tế thị trương ở nước ta đã được nhân dân hưởng ứng
rộng rãi và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm
năng sáng tạo, làm cho nền kinh tế sống động hơn. Đây là những kết quả rất
đáng mừng, đáng được phát huy. Nó thể hiện sự phát hiện và vận dụng đúng đắn
các quy luật khách quan của xã hội. Quá trình biện chứng đi lên chủ nghĩa xã
hội từ khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.
mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người được giải
quýêt bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, bằng sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta xác định: "Sản xuất hàng hoá không đối lập
với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn
tại khách quan, cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã
hội đã được xây dựng". Như vậy, Đảng ta đã vạch rõ sự thống nhất giữa kinh tế
thị trường và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc áp dụng cơ chế thị
trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm vĩ mô của Nhà nước, đồng
thời phải xác nhận đầy đủ quyền tự chủ của các đơn vị sản xuất khinh doanh.
Thực hiện tốt những vấn đề này sẽ phát huy được những tác động to lớn cũng
như ngăn ngừa những hạn chế, khắc phục được những tiêu cực, khiếm khuyết
của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục
vụ công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động
văn hoá giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi
19
thường các giá trị nhân văn, phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần nhân đạo,
thẩm mỹ, các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc như nội dung của Nghị
quyết Trung ương V đã nêu. Đây chính là công cụ, phương tiện quan trọng để
tác động, góp phần giải quyết các mâu thuẫn đã nêu trên.
* Mâu thuẫn giữa cơ chế cũ và cơ chế mới.
Trải qua một thời gian dài nền kinh tế được điều khiển bằng cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế hoạt động theo mênh lệnh bắt buộc… đã tạo
ra một phong cách làm việc trì trệ , thiếu trách nhiệm , sản xuất đình đốn. Chính
vì vậy, khi chuyển sang nền kinh ttế thị trường, nền kinh tế mở đã khiến nền
kinh tế gặp nhiều khó khăn.
Các hoạt động kinh tế vẫn còn mang nặng tính tập trung quan liêu bao
cấp. Các hoạt động thông qua các cơ quan trung gian nhà nước vẫn còn đầy dẫy
những thủ tục phiền hà gây tốn thời gian vô ích, cán bộ quan liêu cửa quyền dẫn
đến hạn chế sự phát triển của nền kinh tế. Hoạt động của các cơ quan nhà nước
khi chuyển sang kinh tế thị trường không bắt kịp nhịp độ sản xuất do máy móc.
kinh tế chi phối bất bình đẳng và cả chiến lược phát triển kinh tế của nước đó.
Ngày nay, trong giới nước ngoài cho rằng: “Không có mâu thuẫn”, giữa tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Nhận thức này có tính tiến bộ bởi: ở nhiều
nước trong quá trình phát triển kinh tế của mình đạt được tăng trưởng kinh tế
cao và công bằng xã hội luôn luôn được cải thiên như: Đài Loan, Hàn Quốc, hay
như ở một số nước ASEAN sau này. Mặc dù vậy, còn nhiều nước đang phát
triển “loay hoay” giải quyết tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội hoặc chưa gắn
liền phảt triển kinh tế với công bằng xã hội. Hay cái gọi là tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội lại gắn liền với khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ. Ở các
nước tư bản thực chất là biểu hiện ra bên ngoài sự mất cân đối của các mục tiêu
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội như cuộc khủng hoảng kinh tế thừa
khách quan nhất đó là hệ quả của việc tập trung quá mức tài sản, vốn liếng trong
tay một số người giữ vai trò làm “cung” cho nền kinh tế, trong khi người tiêu
dùng với quy mô thu nhập thấp hơn nhiều và với nhu cầu có khả năng thanh
toán còn hạn chế của họ - cái quyết định quy mô thực sự của thị trường đóng vai
21
trò là người thực hiện “cầu”. Mất cân bằng cung-cầu là không thể tránh khỏi và
đó là căn bệnh nan y của chủ nghĩa tư bản.
Thực tiễn khách quan khẳng định, với bề dày kinh nghiệm lãnh đạo cách
mạng hơn 70 năm, bản lĩnh chính trị vững vàng, nhân quan chính trị sâu sắc, sự
nhạy cảm trước thời cuộc, Đảng ta đã xác định hướng đi đúng đắn, tiến bộ và
cách mạng trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta trong thế
kỷ XXI và gắn liền tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Để thực hiện thành
công mục tiêu này, trước hết cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo bao chùm: kiên
định con đường phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có mục tiêu dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây vừa là mục tiêu, vừa
là phương tiện để thực hiện gắn bó keo sơn giữa giai cấp công nhân, nông dân
và lực lượng tri thức. Nói khác đi, căn cứ liên kết giai cấp, tránh phân hoá giai
cấp là nội dung cốt lõi và tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội ở
Việt Nam. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội là thực
nước phát triển hội nhập với các quốc gia phát triển trên thế giới, ổn định kinh
tế, xã hội tiến lên xã hội chủ nghĩa.
24