Bài tiểu luận Phép biện chứng duy vật, ý nghĩa của nó trong nhận thức và thực tiễn pot - Pdf 11

Đề bài:
Phép biện chứng duy vật, ý nghĩa của nó trong nhận thức và thực tiễn. Liên hệ
công tác của bản thân
Mở bài
Nhận thức, tư duy con người có quan hệ như thế nào với thế giới xung quanh?
Con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực hay không? Mà khi con
người nhận thức được thế giới xung quanh thì việc áp dụng các hiểu biết đó vào thực
tiễn như thế nào? Đây là một trong hai vấn đề cơ bản của triết học.
Trong triết học Mac-Lenin, phép biện chứng duy vật được coi là phương pháp
chung nhất của mọi hoạt động thực tiễn, giúp con người nhận thức được thế giới.
Vậy phép biện chứng là gì và nó có ý nghĩa như thế nào đối với nhận thức và
hoạt động thực tiễn của con người? Chúng ta sẽ xem xét các vấn đề trên để hiểu rõ về
phép biện chứng và vận dụng vào công tác của bản thân
I. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
a) Phép biện chứng
* Sự đối lập giữa hai quan điểm biện chứng và siêu hình trong việc nhận
thức thế giới và cải tạo thế giới:
Tiêu chí so sánh Quan điểm siêu hình Quan điểm biện chứng
Xem xét sự vật như
thế nào?
Mọi sự vật hiện tượng tồn
tại cô lập, tách rời, không có
mối quan hệ.
Mọi sự vật hiện tượng tồn tại
trong mối quan hệ tác động
qua lại lẫn nhau
Tại sao có vận
động?
Vận động là do tác động từ
bên ngoài, nguyên nhân bên

Giúp con người có thể đi sâu
nghiên cứu bản chất của
từng sự vật, hiện tượng riêng
lẻ trong sự đứng im tạm thời
của nó, trong một không
gian và thời gian xác định.
Phương pháp biện chứng
phản ánh hiện thực đúng
như nó tồn tại, do đó phương
pháp tư duy biện chứng trở
thành công cụ hữu hiệu giúp
con người nhận thức và cải
tạo thế giới.
Hạn chế của
phương pháp?
Chỉ có tác dụng trong một
phạm vi nhất định, không
đánh giá được bản chất của
sự vật hiện tượng vì hiện
thực không rời rạc và ngưng
đọng như phương pháp này
quan niệm.
* Khái niệm phép biện chứng:
- Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển
hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong
giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Biện chứng bao gồm:
+ Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất.
+ Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đời sống ý
thức của con người.

- Từ nửa cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi vào
nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời của phương
pháp siêu hình và phương pháp này trở thành thống trị trong tư duy triết học và
nghiên cứu khoa học vào thế kỷ XVIII.
* Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức
- Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện
ở hệ thống triết học của G.Hêghen.
3
- Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện
chứng duy tâm một cách có hệ thống. Tính duy tâm trong triết học của G.Hêghen
được biểu hiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý
niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan. Ông
cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự
nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần. Tinh thần, tư tưởng, ý niệm
tuyệt đối là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ là bản sao chép của ý niệm.
Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc
phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên
trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép
biện chứng. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng
nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của
nó”
2
2. Phép biện chứng duy vật
a) Khái niệm phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở kế
thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của G.W.Ph.Hêghen, là
phép biện chứng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ biện chứng
khách quan của tự nhiên và xã hội.
Theo Ph.Ăngghen: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ
biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”

+ Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động cơ bản của hoạt động thực tiễn có
vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội và là cơ sở cho các hoạt động
khác của thực tiễn.
+ Hoạt động chính trị xã hội: nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội
(đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hoà bình ), đây là hình
thức cao nhất của hoạt động thực tiễn.
+ Hoạt động quan sát, thực nghiệm khoa học: đây là hình thức đặc biệt của
hoạt động thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện nhân tạo để tạo ra cơ sở
nhận thức, làm biến đổi tự nhiên và xã hội.
b) Nhận thức và các trình độ của nhận thức
- Khái niệm nhận thức:
5
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới
khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức
về thế giới khách quan.
Quan điểm này xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản sau đây:
+ Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan đối lập với ý thức của
con người.
+ Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách
quan, coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người
và cải biến đi ở đó.
+ Ba là, khẳng định phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác
và sáng tạo. Quá trình đó đi từ cái chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều
- Các trình độ nhận thức:
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nhận thức là một quá trình, đó là quá trình
đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận, từ trình độ nhận
thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học,
+ Nhận thức kinh nghiệm là trình độ nhận thức hình thành từ quan sát trực tiếp
các sự vật hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hoặc qua các thí nghiệm khoa học
nhằm đưa lại những tri thức kinh nghiệm (gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và

thực tiễn đã đem lại những tài liệu cho quá trình nhận thức nắm được bản chất, các
quy luật của thế giới.
+ Thực tiễn còn làm hoàn thiện giác quan của con người, tạo ra những phương tiện
làm tăng khả năng nhận biết của các giác quan, nhờ đó nó thức đẩy nhận thức phát triển.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm tính chân lý trong quá trình phát triển
nhận thức.
Mọi sự vận động và biến đổi của nhận thức suy cho cùng không thể vượt ra
ngoài sự kiểm tra của thực tiễn. Chính thực tiễn có vai trò là tiêu chuẩn, thước đo giá
trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời nó bổ sung, điều chỉnh,
sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức.
- Tính thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức
7
Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò
quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức
phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán
triệt quan điểm thực tiễn. Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực
tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu
lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai
lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu. Nếu tuyệt đối hoá
vai trò thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa.
* Liên hệ với công tác của bản thân
Trong công tác, mỗi chúng ta phải nhìn nhận vào thực tiễn, gắn liền với thực
tiễn, mọi kế hoạch, phương án đều không được xa rời thực tiễn, có như vậy thì với
mang lại kết quả cao. Học phải đi đôi với hành, nghĩa là mang những tri thức khoa
học tiếp thu được áp dụng vào công tác phải biết vận dụng sao cho khéo léo, cho phù
hợp với hoàn cảnh thực tế, tránh tình trạng dập khuôn máy móc, duy ý chí để nhận
lấy thất bại là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên trong mỗi công việc cần phải có
lý luận dẫn đương, tránh tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn mà xem nhẹ lý luận để rồi

ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của
sự vật khách quan. Nhận thức lý tính được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản:
khái niệm, phán đoán và suy lý (suy luận).
+ Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc
tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng
hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật. Khái niệm là
cơ sở để hình thành các phán đoán trong quá trình con người tư duy về hiện thực
khách quan.
+ Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để
khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.
9
Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba loại
là phán đoán đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng là kim
loại) và phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện). Phán đoán phổ biến
là hình thức thể hiện sự bao quát rộng lớn nhất về đối tượng.
+ Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri
thức mới bằng phán đoán mới. Ví dụ, nếu liên kết phán đoán "Kim loại thì dẫn điện" với
phán đoán "Đồng là kim loại" ta rút ra được một phán đoán mới là "Đồng dẫn điện".
Tùy theo sự kết hợp các phán đoán theo trật tự nào (từ phán đoán đơn nhất qua
phán đoán đặc thù, rồi tới phán đoán phổ biến hoặc ngược lại) mà người ta có được
hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch.
Giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp hiện thực khách
quan. Nó đã phản ánh được cái chung, cái bản chất, cái tất yếu của sự vật.
- Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Nhận thức cảm tính khác nhận thức lý tính ở chỗ: nhận thức cảm tính là giai
đoạn thấp, phản ánh khách thể một cách trực tiếp, đem lại những tri thức cảm tính.
Ngược lại, nhận thức lý tính là giai đoạn cao, phản ánh khách thể một cách gián tiếp,
khái quát, đem lại những tri thức về bản chất và quy luật của khách thể.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là giai đoạn của một quá trình nhận
thức dựa trên cơ sở thực tiễn. Giữa chúng có sự tác động qua lại: nhận thức cảm tính

sống…… làm gì thì ghi vào)
b) Chân lý và vai trò của chân lý đối với thực tiễn
- Khái niệm chân lý
Chân lý là những tri thức có nội dung phù hợp với hiện thực khách quan và
được thực tiễn kiểm nghiệm.
- Các tính chất của chân lý:
+ Tính khách quan: Nội dung chân lý phản ánh là thế giới khách quan nó lại
được thực tiễn kiểm tra, chứng minh cho thấy nội dung chân lý phản ánh là đúng với
thế giới khách quan. Vì vậy chân lý mang tính khách quan.
11
+ Tính tuyệt đối: Chân lý tuyệt đối là những tri thức hoàn toàn đầy đủ toàn diện
và chính xác về thế giới khách quan.
+ Tính tương đối: Chân lý tương đối là những tri thức phản ánh đúng đắn về
thế giới khách quan nhưng chưa toàn diện, chưa bao quát hết mọi mặt của hiện thực
mà chỉ trong phạm vi, điều kiện nhất định.
Theo Lênin: nhận thức của con người có thể đạt tới chân lý tuyệt đối. Nhưng
chỉ gần tới mà thôi, từ thế hệ này sang thế hệ khác con người chỉ tiến gần tới chứ
không bao giờ đạt tới chân lý tuyệt đối.
+ Tính cụ thể của chân lý: bất kỳ chân lý nào cũng gắn với những điều kiện
lịch sử cụ thể – nếu thoát ly điều đó thì những tri thức được hình thành trong quá
trình nhận thức sẽ rơi vào sự trừu tượng thuần tuý vì thế nó không phải là tri thức
đúng đắn và không được coi là chân lý.
- Vai trò của chân lý đối với thực tiễn
+ Chân lý là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm sự thành công và
tính hiệu quả trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành công và
có hiệu quả một khi con người vận dụng được tri thức đúng đắn về thực tế khách
quan trong chính hoạt động thực tiễn của mình.
+ Mối quan hệ giữa chân lý và hoạt động thực tiễn là mối quan hệ biện chứng
trong quá trình vận động và phát triển của chân lý và thực tiễn: chân lý phát triển nhờ
thực tiễn và thực tiễn phát triển nhờ sự vận dụng đúng đắn chân lý đạt được trong

Nam. Thực tiễn chứng minh rằng, trải qua những bước khác nhau trong mọi hoàn
cảnh, phép biện chứng duy vật luôn tỏ ra là đỉnh cao của trí tuệ con người, luôn có ý
nghĩa thực tiễn hết sức to lớn. Thực tiễn cũng luôn xảy ra các vấn đề hết sức phức tạp
của từng nước, từng quốc gia, từng dân tộc và đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội…
Ngày nay, việc bảo vệ phép biện chứng duy vật dưới sự xuyên tạc của những
kẻ thù tư tưởng của nó, cũng như việc thường xuyên nghiên cứu, phát triển, hoàn
thiệm nó đều hết sức qua trọng. Muốn bảo vệ trước hết phải phân tích, muốn phát
triển phải bảo vệ bảo chất khoa học cách mạng của phép biện chứng. Thực tế khẳng
định rằng, việc đó không chỉ là vấn đề thuần túy lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa
13
thực tiễn sâu sắc hiện nay. Trong công tác của bản thân mỗi người, nếu chúng ta hiểu
rõ, hành động đúng với phép biện chứng trong nhận thức và thực tiễn thì chắc chắn sẽ
thành công bởi “lý luận không có thực tiễn là lý luận suông”, “làm việc không có lý
luận soi đường là làm việc mù quáng”.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status