TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI TRIẾT HỌC MÁC
Học viên thực hiện
STT – Nhóm
Lớp – Khóa
Giảng viên phụ trách
:
:
:
:
Mai Thị Huỳnh Mai.
35 – Nhóm 04.
Ngày 4 – K22.
TS. Bùi Văn Mưa.
TP.HCM, tháng 12/2012.
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học được ra đời cùng với các hệ thống lý luận ban đầu của con người từ khoảng thế kỷ
VIII – VI TCN và không ngừng thay đổi, phát triển để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử khác nhau,
hướng đến giải quyết những vấn đề lịch sử được đặt ra. Vào cuối thời cận đại, khác với các nước Anh,
Pháp đã có nền tảng chủ nghĩa tư bản vững chắc, nước Đức vẫn còn là một nước phong kiến và chịu
ảnh hưởng từ các nước Anh, Pháp về nhiều mặt cùng với sự ra đời của giai cấp tư sản Đức thúc đẩy sự
hình thành và phát triển mạnh mẽ triết học cổ điển Đức trên lập trường duy tâm. Đỉnh cao của triết học
cổ điển Đức là triết học Hêghen. Hêghen xem triết học của mình là “khoa học của các khoa học” -
được xem là hệ thông triết học đồ sộ nhất và cuối cùng trong lịch sử triết học. Hêghen đã trở thành một
trong những bộ óc bách khoa toàn thư vĩ đại nhất trong lịch sử triết học. Dù mang nhiều hạn chế nhưng
triết học Hêghen đã có một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng chung của
hình thành, nhưng còn rất yếu và rời rạc nên họ chỉ cố thực hiện cách mạng tư
tưởng một cách ôn hòa chứ không mạnh mẽ, dứt khoát như Pháp. Đồng thời,
tầng lớp trí thức Đức đã được ảnh hưởng rất nhiều về tình cảm đến sự sáng tạo từ
các thành tựu văn hóa, nghệ thuật rực rỡ cũng như tinh thần của cách mạng tư
sản Pháp. Từ những tác phẩm sáng tạo ra đời của các nhà trí thức Đức bấy giờ đã
làm họ thêm tự hào về bản thân, tôn vinh cả dân tộc Đức, đề cao trí tuệ dân tộc,
nhưng họ vẫn chưa đủ sức làm cách mạng thật sự. Do được hình thành và phát
triển trong những điều kiện trên mà triết học cổ điển Đức chứa đựng nét đặc thù
riêng.
1.2. Sơ lược về triết học cổ điển Đức.
Triết học cổ điển Đức tiếp tục phát huy truyền thống duy lý phương Tây,
phát triển quan niệm coi triết học là “khoa học của các khoa học”. Triết học cổ
điển Đức phát triển nhanh và bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người với
vai trò là cơ sở lý luận. Những phát minh công nghiệp đương thời chứng tỏ tồn
tại nhiều hạn chế trong phép siêu hình máy móc của nền triết học duy vật thế kỷ
XVII-XVIII, nhưng do nổ lực khắc phục những hạn chế siêu hình này mà triết
học cổ điển Đức rơi vào chủ nghĩa duy tâm thần bí với lý luận rằng tính biện
chứng sống động chỉ là bản tính của tinh thần còn bản thân giới tự nhiên thì phi
biện chứng. Tuy vậy, một trong những thành tựu lớn nhất của triết học cổ điển
Đức là đã kế thừa, phát triển và xây dựng phép biện chứng như một học thuyết
triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển của thế giới từ các tư tưởng
biện chứng chất phát quý báo trong di sản triết học nhân loại, mà người hoàn
thiện nó chính là Phrieđrích Hêghen (1770-1831).
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Imanuen Cantơ
(1724-1804), ông là một trong những nhà triết học vĩ đại của nhân loại, người đã
đặt cơ sở lý luận ban đầu cho nền triết học cổ điển Đức và cũng là tiền đề cho lý
luận của triết học mácxít. Sau này, Giôhan Gốtliếp Phíchtơ (1762-1814) đã kế
tục sự nghiệp của Cantơ, khi chuyển sang lập trường duy tâm khách quan, ông
coi cái tôi tuyệt đối không phải là một cá nhân tuyệt đối mà chỉ là tồn tại thuần
túy hay ý thức thuần túy, tức cái tuyệt đối. Phrieđrích Vinhem Giôdép Senlinh
một triết học mới và qua đó, Hêghen đã thoát ra khỏi sự rành buộc từ tư tưởng
của Senlinh, đánh dấu sự kết thúc quá trình hình thành thế giới quan triết học của
Hêghen thời kỳ đầu, đồng thời cũng cho thấy sự bất đồng nhất định giữa Hêghen
và Senlinh trong việc lý giải các vấn đề triết học. Nhiều tác phẩm có giá trị lần
lượt được xuất bản sau đó như Bách khoa toàn thư các khoa học triết học trình
bày chi tiết toàn bộ nội dung hệ thống triết học mới của Hêghen(gồm 3 quyển:
khoa học Lôgích (1812-1816), triết học tự nhiên và triết học tinh thần(1817-
1830)) cùng nhiều tác phẩm về lịch sử tôn giáo, lịch sử triết học, thẩm mỹ học…
đánh dấu sự phát triển vượt bậc so với những tư tưởng trước đó.
2.2. Phép biện chứng duy tâm trong hệ thống triết học của Hêghen.
Thế giới quan của toàn bộ hệ thông triết học đồ sộ của Hêghen là thế giới
quan duy tâm và phép biện chứng lại chính là linh hồn sống động xuyên suốt của
nó. Toàn bộ triết học Hêghen xoay quanh phạm trù ý niệm tuyệt đối và sự tự vận
động của ý niệm tuyệt đối, phép biện chứng ở Hêghen là sự tự phát triển của ý
niệm, giải quyết những mâu thuẫn bên trong nó, trải qua phát triển, thông qua các
khái niệm, rồi lại trở về với nó với một sự phong phú hơn (lôgích học). Do có sự
vận động và chuyển hoá, nên ý niệm tuyệt đối trở thành cái khác nó (tha hoá),
đối lập nó, tức là giới tự nhiên (triết học tự nhiên). Ý niệm tuyệt đối tiếp tục vận
động về với bản thân mình trong đời sống có ý thức của cá nhân và xã hội loài
người, sự hoàn thành sự vận động của nó đạt tới đỉnh cao nhất trong hệ thống
triết học Hêghen (triết học tinh thần). Ông là người đầu tiên nhìn nhận toàn bộ
giới tự nhiên, xã hội và tư duy là một quá trình phát triển thống nhất, nhưng theo
tinh thần duy tâm - sự phát triển của ý niệm là nền tảng cho sự phát triển của tự
nhiên và con người, vì vậy, phép biện chứng Hêghen là phép biện chứng duy tâm
tuyệt đối. Hệ thống triết học của ông chứa đựng nhiều mâu thuẫn bên trong,
phạm trù “ý niệm tuyệt đối” mơ hồ, thần bí lại mang trong nó hạt nhân khoa học
cách mạng – phép biện chứng tư duy, “những kết cấu gượng gạo ấy chỉ là cái
khung, cái giàn cho công trình của ông mà thôi. Nếu người ta đừng phí công
dừng lại ở những kết cấu ấy mà đi sâu hơn nữa vào trong tòa nhà đồ sộ, người ta
sẽ thấy trong ấy có vô số những vật quý giá đến nay vẫn còn giữ được toàn bộ
thế cái cũ đồng thời thừa kế những yếu tố tích cực của cái cũ. Quá trình phát triển
của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản đề - hợp đề”,
trong đó giữa các yếu tố đều có mối liên hệ hữu cơ, chuyển hoá lẫn nhau. Đó
cũng là quá trình phát sinh, giải quyết mâu thuẫn giữa vật chất và tinh thần, giữa
khách thể và chủ thể…trong ý niệm tuyệt đối. Phương pháp biện chứng – nguyên
lý phát triển và quy luật phủ định của phủ định – yếu tố khoa học cách mạng
trong triết học Hêghen lại bị bao phủ bởi yếu tố duy tâm thần bí, sự phát triển
biện chứng trong giới tự nhiên và lịch sử - mối liên hệ nhân quả của sự vận động
từ thấp đến cao với những bước thụt lùi tạm thời – “chỉ là sự sao chép lại sự tự
vận động của ý niệm, một sự tự vận động diễn ra vĩnh viễn, không biết ở đâu, …
độc lập đối với mọi bộ óc đang tư duy của con người. Sự xuyên tạc mang tính
chất tư tưởng ấy là cái cần gạt bỏ” (Ăngghen).
Ý thức con người là sản phẩm của lịch sử - hiện thân của ý niệm tuyệt đối,
đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần gian. Sự phát triển của lịch
sử luôn mang tính kế thừa, mỗi thời đại lịch sử là kết quả của cả một tiến trình
phát triển trước đó. Ý thức cá nhân là sự khái quát, sự rút ngắn về thời gian, sự
tái diễn về không gian toàn bộ chặng đường mà ý thức nhân loại đã trải qua trong
lịch sử. Ý thức nhân loại là sự tái hiện toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại, nó là
sản phẩm của lịch sử và là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Hoạt động của con
người càng phát triển bao nhiêu thì ý thức càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu.
Ở đây, Hêghen đã tiến dần đến quan niệm về bản chất xã hội của ý thức, vai trò
của lao động trong việc hình thành ý thức. Ông nhận thấy rằng sự phát triển của ý
thức diễn ra thông qua ý thức của nô lệ chứ không phải qua ý thức ông chủ. Mác
đã nhìn thấy tầm vóc của "Hiện tượng học tinh thần" của Hêghen ở chỗ nhà triết
học đã "tóm được bản chất của lao động", hiểu con người "như là sản phẩm của
lao động của chính mình".
Theo Hêghen, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối. Hêghen thừa
nhận có ba hình thức ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và
triết học. Trong đó triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ
nhất ý niệm tuyệt đối. Theo ông, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa
trong tư duy, từ đơn giản đến phức tạp; nguyên tắc mâu thuẫn và nguyên tắc
thống nhất tính lôgích với tính lịch sử. Phát triển là sự vận động tiến lên phía
trước nhưng nó cũng chính là sự quay về điểm khởi đầu đã được triển khai đầy
đủ. Mỗi phần trong nghiên cứu tương ứng một trong ba giai đoạn tương ứng của
tư duy thuần túy trong chính nó. Đó là học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản
chất và học thuyết về khái niệm
Trong học thuyết về tồn tại, Hêghen vạch ra tính quy định lẫn nhau giữa
lượng và chất. Những thay đổi liên tục về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi gián
đoạn về chất và ngược lại - cách thức tồn tại của sự vật (khái niệm). Tồn tại xuất
phát không phải là tồn tại hiện hữu mà là tồn tại thuần túy- không tiền đề, không
nội dung, tồn tại ở một phương diện nhất định và không là sản phẩm của bất kỳ
một sự trung gian nào- đồng nhất với hư vô thuần tuý, tồn tại dẫn đến sinh thành.
Như vậy là khái niệm "tồn tại thuần tuý"đã chứa đựng mâu thuẫn trong nó, vì nó
bao hàm hai mặt đối lập là tồn tại và hư vô và là sự thống nhất của tồn tại và hư
vô. Do có mâu thuẫn mà nó vận động và vận động đến mức nào đó thì dẫn đến
sinh thành, tức là chuyển hoá thành một thứ tồn tại khác. Quá trình chuyển từ tồn
tại thuần túy sang sinh thành là sự thống nhất giữa chất, lượng trong độ. Chất là
tính quy định bên trong, lượng là tính quy định bên ngoài sự vật. Độ là sự thống
nhất giữa chất và lượng trong sự vật để sự vật là chính nó. Khi lượng của sự vật
thay đổi vượt quá độ- điểm nút - chất này chuyển thành chất khác, tức bước nhảy
xảy ra. Ý niệm tuyệt đối khi đạt tới "độ" thì nhận được một sự quy định mới, sâu
sắc hơn và cụ thể hơn, đó là khái niệm "bản chất".
Trong học thuyết về bản chất, Hêghen bàn về sự tự vận động phát triển
của các phạm trù: đồng nhất – khác biệt – đối lập – mẫu thuẫn, bản chất – hiện
tượng, nội dung – hình thức, khả năng – hiện thực, nguyên nhân – kết quả. Qua
đó, ông đã trình bày nhiều vấn đề quan trọng của phép biện chứng, đặc biệt về
mâu thuẫn, ông coi mâu thuẫn chính là mối liên hệ qua lại, sự lệ thuộc, quy định
lẫn nhau của các mặt đối lập, vạch ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển của sự vật (khái
niệm). Ông cho rằng trong khái niệm vốn có sẵn cái khác biệt được sinh ra từ cái
là một trong những nguyên lý cơ bản trong vận động các khái niệm lôgích học.
Trừu tượng và cụ thể là hai cấp độ nhận thức, hai cấp độ phát triển khác nhau của
ý niệm tuyệt đối. Khái niệm không bất động mà nó phải trải qua các giai đoạn
khác nhau của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn trực quan cảm tính với cảm
giác, tri giác, biểu tượng và giai đoạn lý tính với khái niệm, phán đoán, suy lý.
Do khái niệm luôn biến đổi, mà phán đoán dựa trên khái niệm ngày càng sâu sắc
hơn và suy lý được xây dựng trên phán đoán ngày càng sáng tạo, năng động hơn.
Khoa học lôgích thể hiện quá trình tự thân vận động phát triển của ý niệm
tuyệt đối trong chính nó và cho nó. Triết học tự nhiên và triết học tinh thần mô tả
quá trình tự hiện thực hoá của ý niệm tuyệt đối. Lôgích học Hêghen là lôgích
biện chứng, dưới hình thức duy tâm ông đã trình bày các quy luật và các cặp
phạm trù cơ bản của phép biện chứng một cách đầy đủ, minh bạch và rõ ràng
nhất. Tư duy là nền tảng khởi nguyên của mọi cái đang tồn tại, Hêghen coi lôgích
học là học thuyết về bản chất của mọi sự vật, thông qua phép biện chứng của ý
niệm đoán được phép biện chứng của sự vật. Học thuyết của ông về biện chứng
của tư duy, về mối liên hệ và vận động của các khái niệm đã gián tiếp vạch ra nội
dung và tính quy luật của quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật không lệ
thuộc vào nhận thức tư duy của con người. Nhưng nguồn gốc đích thực của phép
biện chứng ấy chính là biện chứng hiện thực khách quan của các sự vật, các quá
trình trong tự nhiên và xã hội. Vận động trở về cái khởi đầu cũng là tiến lên phía
trước là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống Hêghen. Luận điểm
này không chỉ nói lên bản chất duy tâm mà còn vạch rõ linh hồn biện chứng của
toàn bộ triết học Hêghen. Ở đây cũng bộc lộ nhiều mâu thuẫn trong hệ thống triết
học của ông. “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là tuyệt
đối, là thiêng liêng cả” (Ăngghen), và trong tư duy biện chứng của Hêghen, ông
thừa nhận tính phổ biến và khách quan của mâu thuẫn nội tại dẫn đến sự phát
triển không ngừng của ý niệm tuyệt đối. Nhưng ông lại kết luận rằng triết học
của mình là điểm tận cùng trong sự phát triển của ý niệm tuyệt đối, đó là hệ
thống triết học hoàn mỹ, không có mâu thuẫn - chân lý tuyệt đối không còn phát
triển thêm được, kết luận này mang tính tư biện và giáo điều, trái với phương
Hêghen lại có những lập luận tư biện và bất chất khoa học, mâu thuẫn với tinh
thần biện chứng trong đó, ông bác bỏ hết những gì không dung hợp được với ý
niệm tuyệt đối. Tuy triết học tự nhiên Hêghen cũng có một vài tư tưởng quý giá
nhưng nó được xem là khâu yếu nhất trong hệ thống của ông bởi vì: một là, khoa
học tự nhiên đã sớm thoát khỏi quan niệm quy tâm thần bí hơn bất cứ lĩnh vực
nhận thức nào khác; hai là, Hêghen đã không tổng kết, lĩnh hội những thành tựu
khoa học tự nhiên đương thời, “Quan điểm duy tâm và siêu hình về tự nhiên nói
chung, sự phủ nhận tư tưởng phát triển đã khiến triết học tự nhiên của Hêghen
trở nên lạc hậu hơn nhiều so với Cantơ thời kỳ tiền phê phán” (Ăngghen, “Chống
Đuyring”. 1957.Tr.11-12). Toàn bộ triết học tự nhiên duy tâm của Hêghen đưa
đến một cấu trúc phi lý về giới tự nhiên, lấy ý niệm thay thế cho sự nghiên cứu
khoa học về cơ sở vận động và phát triển của thế giới đó, mâu thuẫn với những
thành tựu phát triển khoa học tự nhiên. Theo quan điểm của ông, trong giới tự
nhiên, tinh thần không thể đạt sự toàn vẹn thống nhất, đặc điểm của hiện tượng
tự nhiên là thụ động và hữu hạn cho nên muốn đạt đến sự toàn vẹn của nó, tinh
thần phải trở lại lĩnh vực của nó nhưng trở lại mà càng phong phú thêm do sự lưu
lại ở những lĩnh vực tồn tại khác. Để phù hợp với hệ thống triết học của mình,
ông chuyển sang vấn đề triết học tinh thần.
2.2.4.Phép biện chứng trong Triết học tinh thần.
Trong triết học tinh thần, Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn
cuối cùng trên con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục
sự tha hóa, quay về lại chính mình. Triết học tinh thần bao gồm học thuyết về
tinh thần chủ quan, học thuyết về tinh thần khách quan và học thuyết về tinh thần
tuyệt đối. Tinh thần chủ quan thể hiện sự tồn tại của mình trước hết trong linh
hồn con người (nhân loại học), sau thể hiện trong ý thức (hiện tượng học) phân
biệt với cơ thể, cuối cùng nó thể hiện trong tri thức (tâm lý học) – cái tinh thần
bắt thế giới bên ngoài phục tùng nó. Tinh thần khách quan là sự phủ định biện
chứng tinh thần chủ quan, thể hiện tính tự do của ý niệm tuyệt đối trước hết trong
pháp quyền; nó lấy tự do ý chí làm nền tảng, lấy ý niệm pháp quyền và việc thực
hiện pháp quyền làm đối tượng. Khi cá nhân pháp lý trở thành chủ thể đạo đức
Đức tồn tại muôn đời và là nhà nước lý tưởng để các nước khác hướng tới, dân
tộc Đức là bậc thầy của các dân tộc phương Tây. Hêghen chủ trương thoả hiệp
với hiện thực chứ không nên thực hiện cách mạng, không nên can thiệp vào sự tự
phát triển của tinh thần tuyệt đối vì nó là thiên mệnh, điều này đã đi ngược với
lập luận phủ định biện chứng- sự đầu tranh giữa các mặt đối lập mà ông đã đưa
ra. Tinh thần tuyệt đối là sự thống nhất của tinh thần chủ quan và tinh thần khách
quan, thể hiện đầu tiên trong nghệ thuật, thông qua việc đề cao cái đẹp tinh thần
– hình cảnh cảm tính của ý niệm tuyệt đối; sau đó, nó thể hiện trong tôn giáo,
thông qua việc thống nhất niềm tin với lý tinh – biểu tượng của ý niệm tuyệt đối;
và cuối cùng, nó hoàn thiện chính mình trong hệ thống khái niệm trừu tượng triết
học. Sự sáng tạo nghệ thuật vừa mang tính chủ quan của con người vừa mang nội
dung khách quan nhất định. Nghệ thuật phải hướng đến con người theo những
nguyên tắc của chủ nghĩa nhân đạo. Cống hiến của Hêghen ở đây là việc ông đặt
vấn đề về sự cần thiết phải xem xét nghệ thuật trong mối liên hệ hữu cơ của nó
với các lĩnh vực hoạt động khác của con người như kinh tế, chính trị, đạo đức và
các vấn đề lịch sử của thời đại, trong đó nghệ thuật là một bộ phận, một hình
thức thể hiện tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại đồng thời đem lại một cái
nhìn biện chứng về tiến trình phát triển của nghệ thuật thế giới. Theo Hêghen,
nghệ thuật, tôn giáo, triết học là các phương thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để
khám phá ra chính mình, để rủ bỏ mọi dấu vết vật chất bám vào mình nơi trần
gian và quay về với chính mình- cái khởi đầu- trong tính toàn vẹn của nó, trong
đó, triết học là quá trình tự nhận thức đầy đủ và trọn vẹn nhất của ý niệm tuyệt
đối. Hêghen cho rằng, triết học của ông – học thuyết về tinh thần tuyệt đối – là sự
tổng hợp toàn bộ giá trị của mọi học thuyết có giá trị trước đó, thuộc mọi lĩnh
vực nghiên cứu hoạt động tinh thần của con người, là “khoa học của mọi khoa
học”, khoa học cuối cùng của lịch sử. Trong triết học Hêghen, ý niệm tuyệt đối
đã hoàn thành quá trình nhận thức của mình, đã khám phá ra chính mình và quay
trở về với mình trong học thuyết về tinh thần tuyệt đối. Tinh thần tuyệt đối là kết
quả tối cao, toàn diện và triệt để của toàn bộ lịch sử thế giới. Quan niệm đậm
chất duy tâm thần bí khiến ông đưa ra kết luận một cách siêu hình mâu thuẫn với
sự phát triển xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Tóm lại, phép biện chứng là linh hồn sống động của triết học Hêghen, do
bị giam hãm trong thế giới quan duy tâm thần bí, phép biện chứng duy tâm
Hêghen có mặt bảo thủ, mâu thuẫn nhưng “Tính chất bảo thủ của phương pháp
nhận thức đó là tương đối, còn tính chất cách mạng của nó là tuyệt đối - đó là
điều tuyệt đối duy nhất được triết học biện chứng thừa nhận… Đó là kết luận tất
yếu của phương pháp của ông, nhưng bản thân ông lại không bao giờ rút ra được
một cách rõ ràng như vậy… tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống
Hêghen bao trùm mọi lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và
phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người
ta vẫn còn ngạc nhiên. Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của sự
phát triển xuyên suốt lĩnh vực ấy. Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài
sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu
của ông tạo thành thời đại” (Ăngghen). Với một hệ thống triết học tương đối
hoàn chỉnh, tri thức bách khoa, kiến thức uyên bác và thiên tài của mình, Hêghen
trở thành một trong những nhà triết học vĩ đại của nền triết học nhân loại. Với
phép biện chứng tư duy, triết học Hêghen trở thành cội nguồn của triết học Mác.
3. VAI TRÒ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN VỚI SỰ
RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC – TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP.
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu- thời
kỳ chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới nhờ tác động của cách mạng
công nghiệp, kinh tế phát triển mạnh mẽ và những mâu thuẫn xã hội vốn có của
nó bộc lộ ngày càng gay gắt. Thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản
nảy sinh yêu cầu khách quan phải có lý luận mới, khoa học dẫn đường. Sự ra đời
của chủ nghĩa Mác là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đặt ra trên
lập trường của giai cấp vô sản cách mạng. Nguồn gốc lý luận của triết học Mác là
toàn bộ những tinh hoa lý luận của nhân loại từ cổ đại đến thời đại các ông
nhưng trực tiếp là kinh tế chính trị cổ điển Anh; chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp và triết học cổ điển Đức mà tiêu biểu là triết học Hêghen và triết học
Phoiơbắc. Bên cạnh những tiền đề lý luận, các thành tựu khoa học tự nhiên -
thành yêu cầu cấp bách của triết học thời đại đó.
Từ những nền tảng tư duy lý luận mà Hêghen đã đưa ra, kết hợp với tinh
thần duy vật, thì thực chất “những ý niệm trong đầu óc của chúng ta là những
phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không xem những sự vật hiện thực là những
phản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của ý niệm tuyệt đối…bản thân
biện chứng của ý niệm cũng chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận
động biện chứng của thế giới hiện thực; và làm như vậy, là phép biện chứng của
Hêghen đã được đặt ngược lại, hay nói đúng hơn, từ chỗ trước kia nó đứng bằng
đầu, bây giờ người ta đặt nó đứng bằng chân…mặt cách mạng của triết học
Hêghen được khôi phục lại và đồng thời được giải thoát khỏi những đồ trang sức
duy tâm chủ nghĩa, tức là những cái đã cản trở Hêghen vận dụng khía cạnh cách
mạng đó một cách quán triệt”(Ăngghen). Bên cạnh đó, Ăngghen đánh giá công
lao của Hêghen ở chỗ đã vạch ra rằng: Sự phát triển của lịch sử là hợp quy luật,
không phải tuần hoàn mà luôn luôn đi lên (tuy quan điểm này của Hêghen chưa
thật triệt để bởi ông tuyệt đối hóa giá trị ý niệm tuyệt đối) và mỗi thời đại lịch sử
đều có những đặc điểm riêng, quá trình phát triển của lịch sử có sự liên hệ, kế
thừa, giữa các giai đoạn trước và sau không tách rời.Khi cải tạo phép biện chứng
duy tâm Hêghen theo tinh thần duy vật của triết học Phoiơbắc, phép biện chứng
duy vật đã được hình thành, Mác và Ăngghen đã tạo ra sự thống nhất hữu cơ
giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng là chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Đây là bước phát triển cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen
thực hiện. Tính duy tâm thần bí trong triết học Hêghen đã bị phê phán triệt để,
trong đó, quan niệm coi triết học là “khoa học của các khoa học” cũng bị triết
học Mác đoạn tuyệt. Theo đó, quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể
là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên, tư tưởng biện chứng
của ông cũng đồng thời được đánh giá cao: “Tính thần bí của phép biện chứng đã
mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người
đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái và vận động
chung của phép biện chứng.”
1
nghĩa duy vật biện chứng, làm cho triết học Mácxít trở thành thế giới quan và
phương pháp luận thật sự khoa học trong nhận thức lẫn thực tiễn hiện nay vì sự
tiến bộ của xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Văn Mưa và cộng sự, 2011. Triết học Phần I- Đại cương về lịch sử
triết học. Đại học