TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 10:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊ-GHEN VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Học viên thực hiện : VƯƠNG THỊ HỒNG LÂM
STT : 31 – Nhóm 4
Lớp : Ngày 4
Khoá : Cao Học Khoá 22
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. CHƢƠNG I : BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN 3
1.1. Sơ lƣợc xã hội Đức cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX 3
1.2. Đặc điểm triết học cổ điển Đức. 3
1.3. Tiểu sử nhà triết học Hê-ghen 4
2. CHƢƠNG II : NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN. 5
2.1. Nội dung phép biện chứng duy tâm Hê-ghen 5
2.1.1. Hiện tƣợng luận tinh thần 5
2.1.2. Khoa học logic 6
2.1.3. Triết học tự nhiên 8
2.1.4. Triết học tinh thần 9
2.2. Ý nghĩa của phép biện chứng duy tâm Hê-ghen 10
Tuy đứng trên lập trƣờng duy tâm nhƣng Hê-ghen đã xây dựng nên các hệ thống triết
học độc đáo, đề xuất đƣợc tƣ duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết về các quá
trình phát triển đó là phép biện chứng. Trong tất cả các triết gia nổi tiếng phƣơng tây, Hê-
ghen có lẽ là ngƣời khó hiểu nhất, nhƣng ông chính là ngƣời đặt nền móng cho tƣ tƣởng
biện chứng Mác và hồi sinh triết học với tƣ cách là một hệ thống về thế giới.
Tuy nhiên phép biện chứng của Hê-ghen lại nằm trong lớp vỏ duy tâm thần bí sơ
cứng giáo điều, bóp méo phép biện chứng, làm phép biện chứng không còn khoa học
cách mạng và sống động nữa. Triết học Mác ra đời đã triệt để phê phán tính chất duy tâm,
thần bí trong triết học Hê-ghen , nhƣng đồng thời cũng đánh giá cao tƣ tƣởng biện chứng
của ông. “ tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hê-ghen tuyệt
nhiên không ngăn cản Hê-ghen trở thành ngƣời đầu tiên trình bày một cách bao quát và
có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hê-ghen , phép biện
chứng bị lộn ngƣợc đầu xuống đất. Chỉ cần dựng lại là sẽ phát hiện đƣợc cái hạt nhân hợp
lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó. Bằng thiên tài của mình, Mác và Ăng-ghen đã
cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen thành phép biện chứng duy vật để
nó đóng vai trò công cụ tình thần nhận thức cái lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tƣ duy con
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 3
ngƣời. Đó là nội dung của đề tài mà mà em muốn để cập “ Phép biện chứng duy tâm
Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác”
Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử
phát triển triết học của nhân loại. Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học thuyết về
xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bƣớc ngoặt cách mạng mà Mác đã thực hiện
trong triết học.
1. CHƢƠNG I : BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN
1.1. Sơ lƣợc xã hội Đức cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX
Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, Chủ Nghĩa Tƣ Bản đƣợc thiết lập ở một số nƣớc
Tây Âu nhƣ Italia, Anh, Pháp , đem lại một nền sản xuất chƣa từng có trong lịch sử, tỏ ra
lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học. Các triết gia ra sức xây dựng
các hệ thống triết học vạn năng, bao trùm tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con ngƣời
làm cơ sở cho những hoạt động đó. Đối với Hê-ghen, triết học thật sự phải là logic học,
còn đối với Phơi-ơ-bắc, đó là nhân bản học. Tuy nhiên, do cố khắc phục những hạn chế
siêu hình và máy móc trong nền triết học duy vật thế kỷ XVII- XVIII mà triết học cổ
điển Đức lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm thần bí. Họ cho rằng, tính biện chứng sống động
chỉ là bản tính của cái tinh thần, còn cái tự nhiên thì phi biện chứng. Dù vậy họ vẫn tiếp
thu những tƣ tƣởng biện chứng quý báu trong di sản triết học cổ điển của nhân loại,
phát triển thêm và xây dựng phép biện chứng nhƣ một học thuyết triết học về mối liên
hệ phổ biến và sự phát triển xảy ra trong thế giới. Triết học cổ điển đức đề cao vai trò
của con ngƣời với tính cách là chủ thể trong mọi hoạt động cải tạo thế giới - khách thể;
và khảo sát khách thể gắn liền với hoạt động thực tiễn của chủ thể - con ngƣời. Song do
quan điểm duy tâm chi phối mà nhiều triết gia của nền triết học này hiểu thực tiễn chỉ là
hoạt động sáng táo của ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa ý thức, biến ý thức thành lực
lƣợng siêu nhiên có năng lực sáng tạo kỳ vĩ. Vì vậy triết học của họ mang tính duy tâm
thần bí. Triết học cổ điển đức là cơ sở thế giới quan, là nền tảng ý thức hệ của giai cấp
tƣ sản đức cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, vốn yếu về kinh tế nhƣợc về chính trị,
nhƣng có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, sống trong một xã hội mà tàn tích
phong kiến còn quá nặng nề.
1.3. Tiểu sử nhà triết học Hê-ghen
Hê-ghen (1770 – 1831) là triết gia duy tâm ngƣời Đức, một trong những triết gia
có ảnh hƣởng nhất thế kỷ XIX. Hê-ghen sinh tại Stuttgart vào ngày 27/8/1770, trong một
gia đình công chức cao cấp nhà nƣớc. Ông đƣợc giáo dục trong bầu không khí sùng đạo
Tin Lành. Cha ông cổ vũ ông trở thành một giáo sĩ, và Hê-ghen đã vào trƣờng dòng tại
đại học Tübingen – trƣờng đào tạo về thần học, năm 1788. Ở đó ông đã phát triển tình
bạn với nhà thơ Friedrich Hölderlin và nhà triết học Friedrich Wilhelm Joseph von
Schelling. Bản thân ông từng là giáo sƣ dạy trung học, sau đó là giáo sƣ giảng dạy trong
trƣờng đại học. Do chịu ảnh hƣởng của senlinh mà Hê-ghen say sƣa nghiên cứu triết học
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử. Hê-ghen coi lịch sử là
hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 6
gian. Lịch sử nhân loại có đƣợc nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể,
nhƣng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân. Sự phát triển của lịch sử luôn
mang tính kế thừa. Ý thức cá nhân là sự khái quát, sự rút ngắn về thời gian, sự tái diễn về
không gian toàn bộ chặng đƣờng mà ý thức nhân loại đã trải qua trong lịch sử. Ý thức
nhân loại là sự tái hiện toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại, nó là sản phẩm của lịch sử và
là hiện thân của ý niệm tuyệt đối.
Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối. Hê-ghen thừa nhận có 3 hình
thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học. Trong đó
triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối. Theo
ông, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng
cho toàn bộ thế giới quan và tƣ tƣởng con ngƣời. Nhƣng mỗi thời đại lại có một học
thuyết triết học của riêng mình. Học thuyết này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó, là
thời đại đó đƣợc thể hiện dƣới dạng tƣ tƣởng. Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào
đó đều là chắt lọc, kết tinh, khái quát lại toàn bộ lich sử triết học trƣớc đó, đặc biệt là tƣ
tƣởng triết học. Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau nhƣ là sự thống nhất
giữa cái tƣ duy và cái lịch sử. Vì vậy triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của
ý niệm tuyệt đối. Theo quan điểm này thì triết học Hê-ghen đƣợc chai thành ba bộ phận:
khoa học logic, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với ba giai đoạn phát triển của
ý niệm tuyệt đối là ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác
của nó (tự tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với nó.
2.1.2. Khoa học logic
Logic học là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống Hê-ghen bởi đối tƣợng của nó
là ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất, nhƣng là điểm xuất phát và nền tảng của
toàn bộ hệ thống. Thế giới quan duy tâm là cơ sở để Hê-ghen giải quyết các vấn đề trong
tồn tại ở một phƣơng diện nhất định và đƣợc đồng nhất với hƣ vô, tồn tại dẫn đến sinh
thành. Sinh thành hàm chứa trong mình mâu thuẫn giữa tồn tại và hƣ vô, khiến nó vận
động và kết quả là tồn tại chuyển thành một tồn tại khác hay là tồn tại hiện thực. Qua
trình chuyển từ tồn tại thuần túy sang sinh thành là sự thống nhất giữa chất, lƣợng trong
độ. Chất là tính quy định bên trong sự vật. Lƣợng là tính quy định bên ngoài của nó. Độ
là sự thống nhất của chất và lƣợng với nhau trong sự vật để sự vật là nó. Khi lƣợng của
sự vật thay đổi vƣợt quá độ, tức qua điểm nút thì chất này chuyển thành chất khác, tức
bƣớc nhảy xảy ra.
Học thuyết về bản chất:. Trong học thuyết này, Hê-ghen tập trung luận giải về quy
luật mâu thuẫn cụ thể là bàn về sự tự vận động phát triển của các phạm trù: đồng nhất –
khác biệt – đối lập – mâu thuẫn, bản chất – hiện tƣợng, nội dung – hình thức, khả năng –
hiện thực, nguyên nhân – kết quả. Ông vạch ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 8
đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển của sự vật (khái niệm).
Khi nghiên cứu quá trình vận động, phát triển của khái niệm, ông khẳng định rằng mâu
thuẫn là cái vốn có bên trong bản thân các khái niệm, nhờ mâu thuẫn mà những khái
niệm biểu hiện đƣợc đặc điểm của chúng và phát triển đƣợc. Theo logic của Hê-ghen thì
lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữa những sự quy định khác nhau. Trong sự đồng nhất
ấy dần dần xuất hiện sự khác biệt, lúc đầu là khác biệt nhỏ, do tích lũy dần dẫn đến khác
biệt cơ bản (đối lập), từ đây mâu thuẫn hình thành và phát triển dẫn đến chuyển hóa.
Học thuyết khái niệm: Hê-ghen khảo sát sự tự vận động biện chứng của khái niệm.
Có thể gọi học thuyết khái niệm là logic chủ quan. Cụ thể học thuyết này bàn về sự vận
động và phát triển của ý niệm tuyệt đối thông qua hình thức tồn tại chủ quan của nó nhƣ
khái niệm – phán đoán – suy luận, bàn về thực tiễn, về chân lý hay ý niệm – sự thống
nhất giữa khái niệm và thực tiễn. Hê-ghen vạch ra con đƣờng phát triển của khái niệm
theo xu hƣớng phủ định của phủ định, nghĩa là khái niệm phát triển theo đƣờng xoắn ốc.
Ông đã cố minh chứng cho quy luật phủ định của phủ định; khái niệm của chủ quan tự
với chính mình. Triết học tinh thần bao gồm học thuyết về tinh thần chủ quan, học thuyết
về tinh thần khách quan và học thuyết về tinh thần tuyệt đối.
Tinh thần chủ quan: Thể hiện sự tồn tại của mình trƣớc hết trong linh hồn con
ngƣời ( nhân loại học), sau đó, nó thể hiện trong ý thức (hiện tƣợng học) để phân biệt với
cơ thể; và sau cùng, nó thể hiện trong tri thức ( tâm lý học) – cái tinh thần bắt thế giới bên
ngoài phuc tùng nó.
Tinh thần khách quan: là sự phủ định biện chứng tinh thần chủ quan. Theo Hê-
ghen, trong quá trình phát triển của mình, tinh thần khách quan trải qua 3 giai đoạn. Đầu
tiên là pháp quyền trừu tƣợng, nó thể hiện tính tự do của ý niệm tuyệt đối trong pháp
quyền; nó lấy tự do ý chí làm nền tảng, lấy ý niệm pháp quyền và việc thực hiện pháp
quyền làm đối tƣợng. Khi cá nhân pháp lý trở thành chủ thể đạo đức thì tinh thần khách
quan tự phát triển vào lĩnh vực đạo đức. Đạo đức là pháp quyền của hành vi, nó lấy sự
hòa hợp hành vi của các chủ thể làm cơ sở. Tinh thần khách quan hoàn thành quá trình tự
phát triển trong phong hóa (phẩm hạnh). Phong hóa là sự thể hiện bản tính tự do của ý
niệm tuyệt đối, nó là sự thống nhất giữa chủ thể, khách thể và điều thiện tự mình.
Tinh thần tuyệt đối: là sự thống nhất tinh thần chủ quan và khách quan. Tinh thần
khách quan và tinh thần chủ quan phát triển trong cá nhân, nhà nƣớc, xã hội và nhân loại,
do đó, khi xét về phƣơng diện hình thức phát triển thì chúng là hữu hạn. Ngƣợc lại, tinh
thần không có một mục đích và hành động nào khác ngoài việc tự hoàn thiện bản chất
của mình, làm cho mình trở thành đối tƣợng của mình, tinh thần đó tự do vô hạn hay là
tinh thần tuyệt đối (chính là ý niệm tuyệt đối). Theo Hê-ghen, nghệ thuật, tôn giáo, triết
học là các phƣơng thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để tự khám phá ra chính mình, để rủ
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 10
bỏ mọi dấu vết vật chất bám vào mình nới trần gian mà quay về với mình, quay về với
cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy đủ của nó. Trong đó, triết học là quá trình tự nhận
thức đầy đủ và trọn vẹn nhất của ý niệm tuyệt đối trong các hình thức thể hiện là gia
đình, xã hội công dân và nhà nƣớc, trong đó nhà nƣớc là hình thức cao nhất.
Ông là ngƣời có công trong việc phê phán tƣ duy siêu hình và ông là ngƣời đầu tiên trình
bày toàn bộ giới tự nhiên lịch sử và tƣ duy dƣới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận
động, biến đổi và phát triển không ngừng. Đó cũng chính là "ý nghĩa thật sự và tính chất
cách mạng của triết học Hê-ghen". "Đối với triết học biện chứng của Hê-ghen, không có
gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả. Nó chỉ ra tính chất quá độ của một sự vật.
Đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và của sự
tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao".
Trong logic học của mình, Hê-ghen không chỉ trình bày các phạm trù nhƣ chất,
lƣợng, độ, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến cả các quy luật nhƣ "quy luật lƣợng đổi
dẫn đến chất đổi và ngƣợc lại", "phủ định của phủ định", và phần nào về quy luật mâu
thuẫn. Nhƣng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phát triển của tƣ duy, của khái niệm.
Đó là phép biện chứng duy tâm - tức là phép biện chứng về sự phát triển của các khái
niệm đƣợc ông đồng nhất với bản chất sự vật. Vì vậy, Lênin nói, muốn thấy đƣợc giá trị
đích thực của phép biện chứng của Hê-ghen, phải nghiên cứu triết học của ông trên tinh
thần duy vật - nghĩa là phải luôn luôn lật ngƣợc lại vấn đề: biện chứng của tự nhiên sản
sinh ra biện chứng tƣ duy.
Phƣơng pháp tƣ duy biện chứng của triết học Hê-ghen đƣợc Mác sau này tiếp thu
và phát triển. Theo nghĩa đó Lênin nhấn mạnh, không thể có triết học Mác nếu nhƣ
không có triết học của Hê-ghen.
3. CHƢƠNG III: VAI TRÒ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM
HÊGHEN ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC.
3.1. Những điều kiện lịch sử ra đời của triết học Mác
3.1.1. Điều kiện kinh tế-xã hội
Chủ nghĩa mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây âu. Đó cũng là thời kỳ
CNTB đã bƣớc sang giai đoạn mới nhờ tác động của cách mạng công nghiệp. Sự phát
triển của CNTB làm cho những mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay
gắt. CNTB phát triển có nghĩa là kinh tế TBCN phát triển - đây là điều kiện vật chất quan
trọng để thực hiện những lý tƣởng cao đẹp của con ngƣời, trong đó có lý tƣởng XHCN.
Thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan
minh tính thống nhất vật chất của thế giới, đồng thời chỉ ra rằng, mọi sự vật và hiện
tƣợng trong thế giới luôn nằm trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Thuyết tế bào;
thuyết tiến hoá đã chứng minh sự thống nhất về mặt kết cấu sinh học của thế giới hữu
sinh; chỉ ra rằng, sự sống và sự đa dạng phong phú của các loài sinh, động vật là kết quả
tiến hoá tự nhiên, lâu dài của chính giới tự nhiên. Những phát minh này tạo ra điều kiện,
tiền đề cho thế giới quan duy vật và phƣơng pháp biện chứng ra đời.
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 13
Nhƣ vậy triết học mác ra đời là tất yếu lịch sử, tất nhiên phải có những điều kiện chủ
quan nhƣ sự thông minh, lòng yêu thƣơng những ngƣời lao động của chính Mác và Ăng-
ghen.
3.2. Vai trò của phép biện chứng duy tâm Hê-ghen đối với sự ra đời của
triết học Mác.
Mác lấy lại của Hê-ghen phƣơng pháp biện chứng, cải biến nó từ một phƣơng
pháp biện chứng duy tâm thành phƣơng pháp biện chứng của chủ nghĩa duy vật. Sở dĩ
Mác thực hiện đƣợc một cuộc biến chất nhƣ vậy chính là vì trong biện chứng pháp của
Hê-ghen đã có một cơ sở chân lý nào đó, đấy là cái hạt nhân duy lý, tức là cái phƣơng
pháp nêu mâu thuẫn trong mọi khái niệm và suy diễn cuộc biến chuyển theo quá trình
phát triển mâu thuẫn. Hê-ghen đã vận dụng phƣơng pháp nêu mâu thuẫn đó một cách lộn
ngƣợc, chân cho lên trên, đầu để xuống dƣới; lẽ ra phải thấy rằng do mâu thuẫn nội tại
mà vật chất luôn luôn biến chuyển, và đến một trình độ nào đó mới phát sinh ra tinh thần,
thì Hê-ghen lại cho rằng nguồn gốc mâu thuẫn là hoạt động của tinh thần.
Ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng của triết học Hê-ghen chính là ở chỗ nó
đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những kết quả của tƣ tƣởng và của hành động con
ngƣời. Theo Hê-ghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụ phải nhận thức, không còn là một
tập hợp những nguyên lý giáo điều có sẵn mà ngƣời ta chỉ có việc học thuộc lòng, từ nay,
chân lý nằm trong chính ngay quá trình nhận thức, trong sự phát triển lịch sử lâu dài của
khoa học tiến từ trình độ hiểu biết thấp lên trình độ hiểu biết cao hơn, sau khi tìm ra đƣợc
Phép biện chứng cuả Hê-ghen, về thực chất, là tích cực và cách mạng, nhƣng nó
lại bị giam hãm trong hệ thống triết học duy tâm thần bí của ông. Hê-ghen đã phủ nhận
sự phát triển trong giới tự nhiên. Ông cho rằng giới tự nhiên là thụ động không vận động,
không biến đổi, không phát triển theo thời gian mà chỉ vận động trong không gian. Ông
bất chấp hay phủ nhận nhiều thành tựu của khoa học tự nhiên bấy giờ nếu chúng không
dung hợp với ý niệm tuyệt đối. Phép biện chứng của Hê-ghen cho rằng mọi cái điều nằm
trong tiến trình vận động phát triển nhƣng lại coi nhà nƣớc đức, văn minh đức là đỉnh cao
của hiện thân tinh thần tuyệt đối trên trần gian, là chuẩn mực cuối cùng mà mọi dân tộc
trên thế giới phải vƣơn tới. Hê-ghen coi, trong triết học đức - triết học Hê-ghen, ý niệm
tuyệt đối đã khám phá ra chính mình từ cái không phải là mình để quay về với mình, do
đó, tại đây, mọi sự phát triển tiếp tục điều chấm dức.
Mác đã thấy đƣợc sự méo mó suy tàn hiện thực do phép biện chứng bị lớp vỏ duy
tâm thần bí bóp méo, biến dạng. Do đó Mác yêu cầu phải cứu lấy phép biện chứng, giải
phóng phép biện chứng khỏi lớp vỏ duy tâm thần bí, trả về với tinh thần duy vật. Sự ra
đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tƣ
tƣởng triết học của nhân loại. Nó là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 15
và phép biện chứng. Đó là kết quả của sự phát triển của triết học duy vật trong cuộc đấu
tranh với chủ nghĩa duy tâm, đồng thời cũng là kết quả của sự phát triển của phép biện
chứng trong cuộc đấu tranh với phép siêu hình, trong lịch sử triết học. Tuy nhiên cần phải
khẳng định rằng tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ
điển đức, mà tiêu biểu là triết học Hê-ghen và triết học Phoi-ơ-bắc.
Khi xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan - đỉnh cao của nền triết học
cổ điển đức, Hê-ghen đã trình bày đầy đủ và chặt chẻ hệ thống các tƣ tƣởng biện chứng
theo tinh thần duy tâm. Xuất phát từ quá trình tự vận động phát triển của “ ý niệm tuyệt
đối”, Hê-ghen đã triển khai những quy luật và các phạm trù của phép biện chứng. C.Mác
và Ph.ăng-ghen đã triệt để phê phán tính chất duy tâm, thần bí trong triết học Hê-ghen,
Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng
trong lịch sử phát triển của triết học. Mác và Ăng-ghen đã giải thoát chủ nghĩa duy vật
khỏi tính hạn chế siêu hình, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn mỹ và mở
rộng học thuyết ấy từ chổ nhận thức giới tự nhiên đến chổ nhận thức xã hội loại ngƣời:
“Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tƣ tƣởng khoa học”.
HVTH: Vƣơng Thị Hồng Lâm – Lớp Ngày 4 – K22 GVHD: TS.Bùi Văn Mƣa
Phép biện chứng duy tâm Hê-ghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác Trang 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mƣa (Chủ biên), Triết học (Phần I): Đại cương về lịch sử triết học,
trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh, 2011.
2. TS. Bùi Văn Mƣa (Chủ biên), Triết học (Phần II): Các chuyên đề về triết học Mác
- Lênin, trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh, 2011.
3. TS. Nguyễn Ngọc Thu – TS. Bùi Văn Mƣa, Giáo trình đại cƣơng lịch sử triết học,
Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2003
4. Friedrich Engels, Lút – vích Phoi – ơ – bắc và sự cáo chung của Triết học cổ điển
Đức, Nhà xuất bản Sự thật, 1976
5. Bộ môn Triết học, Ban Triết học – Xã hội học, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
– Triết học Mác-Lênin (Hệ thống câu hỏi - đáp án gợi mở và hướng dẫn viết
tiểu luận)
6. Nhiều tác giả, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Triết học cổ điển Đức: Những vấn đền
nhận thức luận và đạo đức học”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2006