Tiểu luận triết học triết học duy vật nhân bản phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học mác - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


TIỂU LUẬN
Đề tài:
“Triết học duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò
của nó đối với sự ra đời của triết học Mác”

GVHD: Ts Bùi Văn Mưa
HVTH: Võ Ngọc Sơn
Stt: 84, Nhóm 9, Đêm 3, Khóa 22Tiểu luận triết học HVTH: Võ Ngọc Sơn- 1 -

I. Giới thiệu tổng quan về đề tài:
Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển
của tư tưởng triết học của nhân loại. Nó là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa
duy vật và của phép biện chứng. Đó là kết quả của sự phát triển của triết học duy vật

xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc và dựa trên hệ thống triết học
này để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình.
Trong giới hạn cho phép của đề tài, người nghiên cứu chỉ phân tích trên khía cạnh
chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc, từ đó thấy được những điểm tích cực đã
được Mác và Awngghen phát huy cũng như những điểm hạn chế của Phoiơbắc đã được
khắc phục trong triết học Mác.
II. Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872) sinh ra trong một gia đình luật sư nổi tiếng, đã từng
tham gia phái Heghen trẻ, là nhà triết học duy vật duy nhất trong nền triết học cổ điển
Đức, bậc tiền bối của Mác. Có tác phẩm Phê phán triết học Hêghen, Bản chất của đạo
cơ đốc, Luận cương sơ bộ về cải cách triết học, Cơ sở của triết học tương lai, Bản chất
của tôn giáo… của ông đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII và làm
sinh động thế giới quan duy vật khoa học bấy giờ. Xuất phát từ quan điểm coi triết học
mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang lại cho con người một cuộc
sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối tượng nghiên
cứu của triết học. Ông cho rằng, xưa nay triết học nghiên cứu vấn đề về quan hệ giữa
tư duy và tồn tại, nhưng quan hệ này thuộc về bản chất của con người; bởi vì, chỉ có
con người đang sống, đang tồn tai mới có tư duy. Theo ông, chỉ khi nào xuất phát từ
con người thì vấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại mới được giải quyết một cách
đúng đắn và có ý nghĩa thật sự. Do con người là đối tượng của triết học mới, và khoa
hoc nghiên cứu bản chất của con ngườil à nhân bản học, nên triết học mới đó phải là
triết học nhân bản hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi
Tiểu luận triết học HVTH: Võ Ngọc Sơn- 3 -

ngành khoa học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản,
mà nội dung của nó bao gồm những quan niệm chủ yếu sau:
a. Quan niệm về giới tự nhiên và con người

- Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những
người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con
người mà là hạnh phúc được kiếm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng
đồng. Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một tình yêu mênh mông dành cho
con người, tình yêu cũng tuôn trào từ bản tính cộng đồng của con người chứ không
phải bắt nguồn từ Thượng đế.
- Bản tính vừa cá nhân, vừa cộng đồng của con người, theo Phoiơbắc, là cơ sơ của
tính ích kỷ hợp lý – thống nhất tính ích kỷ cá nhân với tính ích kỷ cộng đồng xã hội.
Tính ích kỷ hợp lý đòi hỏi các quyền lợi riêng tư của mỗi cá nhân con người phải
phù hợp hài hóa với quyền lợi chung của cộng đồng xã hội. Phoiơbắc cho rằng, tình
yêu giữa con người với nhau vừa là phương tiện vừa là mục đích của sự hòa hợp xã
hội, và hơn thế nữa, nó còn là động lưc tiến bộ xã hội, bởi vì nó là sự thể hiện rõ
nhất bản chất con người trong mỗi con ngưới. Phoiơbắc quan niệm rằng: Chúng ta
sẽ không thể là con người nếu không biết yêu; và một đứa trẻ chỉ trở thành người
lớn khi nó biết yêu; tình yêu phụ nữ là tình yêu phổ quát, ai không yêu phụ nữ
người đó không yêu con người. Tuy nhiên, trong “biển trời” mênh mông của tình
yêu thì, tình yêu của người đàn ông dành cho người đàn bà là tình yêu đích thực.
Đối với Phoiơbắc, con người và tình yêu chỉ là một, chúng không thể tách rời nhau.
Phoiơbắc coi bản chất con người là tổng thể các nhu cầu, khả năng, khát vọng, ham
muốn,… Bản chất đó chỉ thật sự sống động khi mỗi cá nhân con người được sống
trong sự thỏa mãn nhu cầu tự nhiên và sự chan hòa với nhau trong cộng đồng xã
hội. Theo Phoiơbắc, con người thật sự luôn hành động một cách tự do theo tình cảm
đam mê, theo nhu cầu lợi ích, theo tình yêu khát vọng… của mình. Nhưng cái tự do
đó không tách ra khỏi sự bó buộc, không nằm ngoài mối quan hệ với các sự vật tự
nhiên hay cộng đồng nhân loại. Trong hạnh phúc có cả tự do và tất yếu. Vươn đến
Tiểu luận triết học HVTH: Võ Ngọc Sơn- 5 -



khỏi hệ thống triết học. Bản thân ông cũng không hiểu chính hoạt động khoa học cũng
là hoạt động thực tiễn, không thấy vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận thức và
đối với đời sống xã hội.
c. Quan niệm về tôn giáo
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo không đơn giản là những ảo tưởng phi lý, hoang đường
mà còn là những mơ ước, khát vọng đời thường của con người. Sự bất lực trong nhận
thức, sự sợ hãi, đau khổ, khó khan triền mien, niềm mơ ước khát khao vươn lên trong
cuộc sống đầy đau khổ bất hạnh, đầy bế tắc buồn thương của con người đã sản sinh ra
các tôn giáo. Tôn giáo chỉ là sự tha hóa bản chất của con người. Còn Thượng đế chỉ là
tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Vì vậy, giá trị, ước
mơ, khát vọng của con người như thế nào thì Thượng đế như thế nấy. Thượng đế là
nhân cách cá nhân được thần thánh hóa. Như vậy, theo Phoiơbắc, tôn giáo là sản phẩm
tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người; Không phải Thượng đế sinh ra con
người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế.
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng
con người thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa con
người để dễ dàng thống trị nó. Tôn giáo không chỉ kìm hãm mà còn tước đi ở con
người tính năng động sáng tạo, sự tự do và năng lực độc lập phán xét. Ông đòi hỏi phải
lựa chọn: hoặc là tôn giáo – tín ngưỡng – thượng đế, hoặc là khao học nhân bản – tình
yêu – con người.
Dù Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo, nhưng càng phê
phán ông càng nhận thức được rằng nều thiếu tôn giáo con người sẽ khó sống, bởi vì
con người cần có niềm tin để an ủi mình (dù là giả tạo) trước cuộc đời đầy bất hạnh,
đau khổ. Vì vậy, ông ra sức xây dựng một thứ tôn giáo mới thay cho Cơ đốc giáo. Đó
là tôn giáo của tình yêu vĩnh cửu phổ quát giữa con người (trước hết là tình yêu nam
nữ) dựa trên tính nhân bản mà trong đó vai trò Thượng đế được giao cho chính con
Tiểu luận triết học HVTH: Võ Ngọc Sơn- 8 -

việc xác định nguồn gốc, động lực phát triển và phương hướng cải tạo xã hội, quan
điểm của Phoiơbắc còn đầy tính duy tâm. Thái độ đối với tôn giáo của ông không nhất
quán…Điều này có thể hiện như sau:
- Một là, do phủ nhận hệ thống duy tâm của triết học Heghen nên ông phủ nhận luôn
phép biện chứng; hơn nữa, ông hiểu biện chứng rất hời hợt – phép biện chứng
không phải là sự độc thoại của một nhà tư tưởng với bản thân mình mà là sự độc
thoại của một nhà tư tưởng với bản thân mình mà là sự đối thoại giữa Tôi và Anh…
- Hai là, do đứng trên quan điểm nhân đạo chung chung mà quan niệm về con người
rất trừu tượng, phi lịch sử; ông chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên – sinh học mà không
chú ý mặt xã hội và điều kiện chính trị - xã hội của con người; tuyệt đối hóa và coi
tình yêu là bản chất con người.
- Ba là, do bỏ qua hoạt động thực tiễn nên Phoiơbắc coi nhận thức là một quá trình
tĩnh lại, thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là
quá trình mang tính thực tiễn năng động, sáng tạo thế giới của con người – chủ thể
nhận thức. Phoiơbắc không chỉ không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức mà ông cũng không thấy được vai trò của thực tiến đối với sự hoàn thiện con
người, thúc đẩy sản xuất phát triển nói riêng, xã hội nói chung. Vì không thấy trong
thực tiễn động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìm nó trong tình yêu. Do không
xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội, Phoiơbắc cũng như mọi
nhà tư tưởng trước Mác đều xa vào chủ nghĩa duy tâm, quá đề cao sức mạnh tinh
thần, trước hết là giáo dục, đạo đức, pháp luật…mà không thấy được vai trò của
nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
III. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc đối với sự hình thành
triết học Mác
Kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc và phép biện chứng của Heghen, C.Mác đã
thiết lập sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng để xây dựng

không được nhận thức về mặt chủ quan”. “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người
có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận
mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân
lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình.
Tiểu luận triết học HVTH: Võ Ngọc Sơn- 10 -

Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiển là
một vấn đề kinh viện thuần túy”
Với việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
C.Mác đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể. Quan hệ
giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn
nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các tư liệu, dữ kiện, thông số
khoa học để triết học Mác khái quát. Ngay sự ra đời của triết học Mác cũng không thể
thiếu những tiền đề khoa học tự nhiên. Chính những thành tựu của khoa học tự nhiên
nửa đầu thế kỷ XIX đã làm bộc lộ những hạn chế, sự bất lực của phương pháp siêu
hình trong nhận thức thế giới; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho sự ra đời của
phương pháp biện chứng. Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, triết học Mác đóng
vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất. Thực tiễn phát triển mạnh mẽ của
các khoa học cụ thể càng làm tăng vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học
Mác. Đúng như một nhà khoa học tự nhiên ở thế kỷ XX đã nhận xét: “Các khái quát
hóa triết học cần dựa trên các kết quả khoa học. Tuy nhiên, một khi đã xuất hiện và
được truyền bá rộng rãi, chúng thường rất ảnh hưởng đến sự phát triển tiếp tục của tư
tưởng khoa học, khi chúng chỉ ra một trong rất nhiều phương hướng phát triển có thể
có”. Như vậy, sự ra đời của triết học Mác đã chấm dứt mâu thuẫn giữa triết học với các
khoa học cụ thể.
IV. Kết luận
Triết học Phoiơbắc đã khôi phục được truyền thống duy vật thế kỷ XVIII trong
Tiểu luận triết học HVTH: Võ Ngọc Sơn- 12 - PHỤ LỤC
Trang
I. Giới thiệu tổng quan về đề tài 1
II. Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc 2
a. Quan niệm về giới tự nhiên và con người 3
b. Quan niệm về nhận thức 5
c. Quan niệm về tôn giáo 6
d. Nhận xét chung về hệ thống triết học Phoiơbắc 7
III. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc đối với sự hình
thành triết học Mác 8
IV. Kết luận 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status