Chủ đề triết học chủ nghĩa duy vật nhân bản phoiobac và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học mác - Pdf 14


1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ ĐỀ:
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và
vai trò của nó đối với sự ra đời của triết
học Mác.

Học viên thực hiện: Trương Văn Sáng
Nhóm: 09
Lớp: Đêm 3 – QTKD
Khóa: 22
Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa

cũ, cả phép biện chứng của Hêghen. Mác viết: "Phương pháp biện chứng của tôi không
những khác phương pháp của Hêghen về cơ bản mà còn đối lập hẳn với phương pháp
ấy nữa". Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi phép siêu hình, Mác đã làm cho chủ nghĩa
duy vật trở nên "hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến
chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại
nhất của tư tưởng khoa học".
Mục đích của bài tiểu luận này nhằm tìm hiểu về chủ nghĩa duy vật nhân bản
Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác.
Tài liệu nghiên cứu dựa trên các bài giảng của TS Bùi Văn Mưa và một số tài liệu
trên sách, báo chí và trên Internet.
3II. LỊCH SỬ RA ĐỜI CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC
2.1 GIỚI THIỆU VỀ PHOIƠBẮC:
Phoiơbắc (1804 - 1872) - là đại diện vĩ đại cuối cùng của triết học cổ điển Đức.
Người có công lao to lớn đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, phục hồi và
phát triển chủ nghĩa duy vật trong thời kỳ chuẩn bị cách mạng tư sản Đức (1848).
Phoiơbắc là nhà triết học duy vật vì ông khẳng định vật chất là tính thứ nhất; tư duy
là tính thứ hai. Song là nhà duy vật nhân bản, ông coi con người là sản phẩm cao nhất
của giới tự nhiên, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất con người, vì
thế đây là đối tượng duy nhất, phổ biến và cao nhất của triết học. Chủ nghĩa duy vật
nhân bản của Phoiơbắc là đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh chống lại việc giải thích
duy tâm, nhị nguyên luận, thậm chí cả chủ nghĩa duy tâm tầm thường về vấn đề con
người. Song, nguyên l ý nhân bản của Phoiơbắc không triệt để, vì ông hiểu con người
chỉ là những cá nhân trừu tượng, là thực thể thuần túy tự nhiên - sinh vật. Ông không
thấy được mặt xã hội của con người trong hoạt động biến đổi thực hiện thực.

trí, có ý chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung
động cảm xúc… Đó là con người tồn tại bằng xương, bằng thịt, đang sống, đang làm
việc, đang nhận thức như mỗi chúng ta, chứ không phải con người trong ý tưởng – con
người trừu tượng. Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một năng lực sáng tạo kỳ
vĩ, năng lực này bắt nguồn từ trong cá tính cá nhân của mỗi con người chứ không xuất
phát từ Thượng đế.
Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những
người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con
người mà là hạnh phúc được tìm kiếm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng
đồng. Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một tình yêu mênh mông dành cho con
người, tình yêu cũng tuôn trào từ bản tính cộng đồng của con người chứ không phải bắt
nguồn từ Thượng đế.
Bản tính vừa cá nhân vừa cộng đồng của con người, theo Phoiơbắc, là cơ sở của
tính ích kỷ hợp lý – thống nhất tính ích kỷ cá nhân với tính ích kỷ cộng đồng xã hội.
Tính ích kỷ hợp lý đòi hỏi các quyền lợi riêng tư của mỗi cá nhân con người phải phù
hợp hài hòa với quyền lợi chung của xã hội. Phoiơbắc cho rằng tình yêu giữa con người

5

với nhau vừa là phương tiện vừa là mục đích của sự hòa hợp xã hội, và hơn thế nữa, nó
còn là động lực tiến bộ xã hội, bởi vì nó là sự thể hiện rõ nhất bản chất người trong mỗi
con người. Phoiơbắc cho rằng : Chúng ta sẽ không thể là con người nếu không biết yêu,
và một đứa trẻ chỉ trở thành người lớn khi nó biết yêu; tình yêu phụ nữ là tình yêu phổ
quát, ai không yêu phụ nữ người đó không yêu con người. Tuy nhiên, trong biển trời
mênh mông của tình yêu thì, tình yêu của người đàn ông dành cho người đàn bà là tình
yêu đích thực. Đối với Phoiơbắc con người và tình yêu chỉ là một, chúng không thể tách
rời nhau.
Xác định vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của triết học Phoiơbắc trở thành đại
biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật nhân bản. Đây là mặt tiến bộ so với các nhà trước
học trước ông. Tuy nhiên ông đã không thấy được phương diện xã hội của con người.

biệt khi con người so sánh hành động của mình với hành động của tự nhiên. Con người
không thể tạo nên cây cỏ, không làm nên bão tố và thời tiết, không thể làm sáng loé như
chớp, gào thét như sấm tất cả những hiện tượng tự nhiên này vượt trội sức mạnh của
con người, làm cho con người cảm thấy bất lực. Chính vì vậy, thực thể tạo nên các hiện
tượng đó đối với con người là một thực thể siêu nhân - thực thể có tính thần thánh".
QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI:
Phoiơbắc cố gắng xây dựng quan điểm xã hội học nhân đạo trên cơ sở đạo đức học.
Ở đây Phoiơbắc chịu ảnh hưởng của phong trào ánh sáng (Montesquieu, Voltaire ) và
chủ nghĩa duy vật pháp thế kỷ XVIII. Từ khẩu hiệu tự do - bình đẳng - bắc ái Phoiơbắc
đã nêu lên tuyên ngôn nổi tiếng: “hãy thống nhất mọi người trên tinh thần nhân bản!)
Con người bình đẳng như chính thiên nhiên tạo ra. Vấn đề này trong triết học cận
đại đề cập nhiều, nhưng đến Phoiơbắc mang thêm nhiều nét đặc trưng, thể hiện tâm
trạng của tầng lớp tiến bộ trong giai cấp tư sản Đức. Nếu con người bình đẳng với nhau
theo bản chất tự nhiên của mình, thì mọi đặc quyền đặc lợi đẳng cấp trên đều trái với tự
nhiên, do đó cần phải loại trừ.
Con người do thiên nhiên tạo ra để sống và hưởng thụ chứ không phải để đau khổ.
Quan niệm như vậy có lẽ còn thua các nhà duy vật Pháp. Cả Diderot lẫn Hollbach đều
đòi quyền tự do hoạt động kinh tế như quyền tự do của con người trong xã hội công
dân. Phoiơbắc hầu như không quan tâm đến cơ cấu kinh tế - xã hội hiện thực mà ở đó

7

một giai cấp này thống trị một giai cấp khác, không nhìn thấy mối liên hệ giữa áp bức
và bóc lột với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong khi xem xét con
người như một thực thể tự nhiên, Phoiơbắc cố gắng vạch ra những điều kiện tồn tại tự
nhiên của con người trong phạm vi xã hội tư sản, ảnh hưởng của nó tới hoạt động sáng
tạo của nhân cách cá thể. Ông tỏ ra hài lòng với trật tự xã hội tư sản, nơi mà theo ông,
con người đạt tới hạnh phúc một cách dễ dàng, nói cách khác, con người có thể yên tâm
với địa vị hiện tại. “Tất cả các sự vật, ngoài trừ những trường hợp phản tự nhiên - vui
lòng ở nơi mà chúng có, và vui lòng trở thành cái mà nó có”. Đó là sự biện hộ cho xã

thực tại không là gì khác ngoài giới tự nhiên, và điều này chỉ biết được nhờ sự cảm
nhận thông qua sự tác động của các hiện tượng khác từ bên ngoài. Điều này không có
nghĩa là triết học phải hy sinh cho những khoa học chuyên biệt cụ thể như toán, lý, hóa,
sinh, tâm lý, sinh lý học. Bên cạnh đó Phoiơbắc còn đưa ra nhiều nét độc đáo trong chủ
nghĩa vô thần trong tư tưởng triết học của mình Phoiơbắc đều viết về tôn giáo, và khi
viết về mảng này thì ông nghiên cứu phán xét tôn giáo là cơ sở, điều kiện tất yếu để
khám phá bản tính của con người và ngược lại. Nghiên cứu một cách căn bản lịch sử
hình thành và phát triển của tôn giáo đã cho Phoiơbắc cơ sở lý luận vững vàng để khẳng
định rằng: Chủ nghĩa phiếm thần và tôn giáo đa thần phản ánh sự lệ thuộc của con
người vào giới tự nhiên cũng như nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên, từ đó mà phát
sinh ra biểu tượng về thần sông, thần núi như đã miêu tả trong thần thoại Hy Lạp.
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc là đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh
chống lại việc giải thích duy tâm, nhị nguyên luận, thậm chí cả chủ nghĩa duy tâm tầm
thường về vấn đề con người.
3.2HẠN CHẾ:
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc còn không triệt để, vì ông hiểu con
người chỉ là những cá nhân trừu tượng, là thực thể thuần túy tự nhiên - sinh vật. Ông
không thấy được mặt xã hội của con người trong hoạt động biến đổi hiện thực.
Trong quan hệ đối với triết học của Hêghen, Ông có thái độ phủ định sạch trơn,
không thấy được thành tựu quý giá của Hêghen là phép biện chứng đã kế thừa và phát
triển. Ông hiểu tính quy luật, tính tất yếu, tính nhân quả một cách siêu hình. Cho nên
chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông còn mang nặng tính sieeuhinhf. Trong lý luận nhận

9

thức, Phoiơbắc đã tiếp tục truyền thống cảm giác luận duy vật, chống lại thuyết không
thể biết và lối tư biện trừu tượng. Ông không phủ nhân vai trò của tư duy trong nhân
thức, nên chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc chưa thoát khỏi tính trực quan của
chủ nghĩa duy vật trước Mác.
Những hạn chế của nguyên tắc nhân bản trong thế giới quan của Phoiơbắc còn thể

đắp về mặt chính trị cho mình". Trong khi Brunô Bauơ - người không tán thành phân
biệt người Đức gốc Do Thái theo đạo Do thái với người Đức gốc Đức theo đạo Kitô,
đòi giải phóng người Do Thái khỏi đạo Kitô, và tách rời những vấn đề tôn giáo khỏi
những vấn đề chính trị, thì C.Mác lại khẳng định sự gắn kết giữa giải phóng tôn giáo và
giải phóng chính trị. Ông đặt vấn đề xoá bỏ chế độ tư hữu, xoá bỏ chế độ người bóc lột
người cùng với tất cả những gì là sản phẩm, là tàn dư của chế độ đó, trong đó có tôn
giáo, nhằm xây dựng một nhà nước hoàn toàn thế tục.
Sự không thể khoan nhượng của Chủ Nghĩa Cộng Sản với Tôn Giáo còn được
C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục trong Hệ Tư Tưởng Đức (1845 - 1846). Bênh vực chủ
nghĩa Duy Vật của Phoiơbắc trước sự phê phán của các nhà duy tâm Đức theo phái
Hegel trẻ, các ông cho rằng, “trong tôn giáo, người ta biến thế giới kinh nghiệm của
mình thành một cái gì đó chỉ có trong tư tưởng, trong tưởng tượng đối lập với họ như
một cái gì đó xa lạ. Để giải thích điều đó, không thể lại dùng những khái niệm khác,
không thể lại dùng “tự ý thức“, hoặc những cái nhảm nhí tương tự như thế được, mà
phải xuất phát từ toàn bộ phương thức sản xuất và giao tiếp hiện đang tồn tại“.
Mác đánh giá cao Chủ Nghĩa Duy Vật của Phoiơbắc nhưng đồng thời cũng phê
phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông. Chính Mác & Ăngghen là những
người đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu và hạn chế của triết học
Phoiơbắc và dựa trên hệ thống triết học này để xây dựng thế giới quan duy vật biện
chứng của mình
Để tiếp cận đúng xã hội dân sự (hay xã hội công dân), C. Mác đòi hỏi trong Luận cương
về Phoiơbắc, phải xuất phát từ “quan điểm của chủ nghĩa duy vật mới là xã hội loài
người, hay loài người xã hội hóa” và phải vượt qua quan điểm của chủ nghĩa duy vật cũ
là xã hội “công dân”. C.Mác yêu cầu phải khắc phục quan điểm xã hội công dân tư sản
chỉ nhấn mạnh mối liên hệ của những con người thị dân, tức là những con người “độc

11

lập” thông qua cái nút lợi ích tư nhân và tính tất yếu tự nhiên vô ý thức của những cá
nhân nô lệ cho doanh nghiệp, nô lệ cho nhu cầu hám lợi của mình và của người khác.

vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học". Tuy triết học của
Phoiơbắc còn nhiều hạn chế, nhưng Mác và Ăngghen luôn đánh giá cao triết học của
Phoiơbắc nói chung, chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông nói riêng, họ tự thừa nhận
mình là môn đồ của ông, chào đón quan điểm mới đó một cách nhiệt liệt, tin và đi theo
Phoiơbắc với một tinh thần hào hứng, phấn khởi.
Đề tài này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật nhân bản của
Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác, tuy nhiên, để hiểu rõ hơn
về nguồn gốc hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng của C. Mác, chúng ta nên tiếp
tục nghiên cứu về “ Phép biện chứng duy tâm của Hêghen và vai trò của nó đối với sự
ra đời của triết học Mác”. 14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status