1 Bài tập nhóm
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac và vai
trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử triết học nói chung và triết học phương Tây nói riêng, vần đề bản chất con
người là một trong những vấn đề được đặt ra rất sớm. Cùng với quá trình phát triển lâu
dài với nhiều biến động của lịch sử, tùy thuộc vào lập trường quan điểm và phương pháp
tiếp cận, các triết gia đ cĩ những cu trả lời khc nhau về vấn đề này.
Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại, triết học cổ điển Đức đã
khẳng định mình với những đặc trưng rất riêng so với những trường phái triết học khác
trong lịch sử về nhiều phương diện. Trong đó, L.Feuerbach được xem là một nhà duy vật
điển hình, đặc biệt với quan niệm về bản chất con người của ông, đã tạo ra một dấu ấn
riêng của thời đại, đồng thời đã trở thành một trong những tiền đề lý luận quan trọng đối
với sự hình thành của triết học Mác – đó là chủ nghĩa duy vật nhân bản.
Với những điều phân tích trên, nghiên cứu triết học của L.Feuerbach về bản chất con
người là một việc làm cần thiết, góp phần vào quá trình tiếp cận việc nghiên cứu chuyên
sâu vấn đề bản chất con người trong triết học Mác – Lênin sau này, đặc biệt là tinh thần
nhân văn hay tính nhân bản, lấy con người làm trung tâm của nghiên cứu triết học.
Những quan điểm của Feuerbach nó có ảnh hưởng đến sự ra đời của triết học Mác và đối
Cuối thế kỉ XIX ở nước Đức lúc này hình thành ra các Đảng. Đảng bảo thủ đại
diện cho quyền lợi của địa vị quý tộc địa chủ vùng đông phổ.một bộ phận của Đảng bảo
thủ tách ra thành Đảng đế quốc hay Đảng bảo thủ tự do, đại diện cho lợi ích của đại địa
chủ, tổ chức nhà thờ thành lập Đảng, “trung tâm cơ đốc giáo” các Đảng trên đều đứng
trên lập trường của giai cấp bóc lột, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
Cuối thế kỉ XIX giai cấp công nhân Đức bị bốc lột năng nề, đồng lương thấp, điều
kiện lao động khắc khổ, phong trào đấu tranh đòi cải thiện đời sống phát triển mạnh,
nhưng mang lại ít hiệu quả.
Năm 1875, phái Aidơ Năc và phái Lat Xan đã họp đại hội ở thành phố Gôta thành
lập ra một chính Đảng thống nhất lấy tên là Đảng thống nhất lấy tên “Đảng công nhân xã
4
hội dân chủ Đức” đưa ra cương lĩnh Gôta, những cương lĩnh nó thể hiện tính chất cơ hội
chủ nghĩa bị phê phán.
Phong trào công nhân và đảng của gia cấp công nhân Bix Mac đại diện cho sự cấu
kết của hai tập đoàn tư bản và Gioongke tấn công mạnh và người lãnh đạo Đảng tuyên bố
giải tán Đảng, năm 1890 Đảng xã hội dân chủ lại ra hoạt động công khai, nhiều cuộc biểu
tình nổ ra và họ thông qua cương lĩnh mới tiến bộ hơn cương lĩnh Gota.
Đầu thế kỉ XX, phong trào công nhân Đức đạt tới đỉnh cao mới. Nhiều cuộc bãi
công nổ ra và số lượng người tham gia tăng. Những tin tức của cuộc Cách mạng Nga
01/1905 lan truyền nhanh sang Đức, làn sóng đấu tranh ở nước Đức lại bùng lên mạnh
mẽ.
3) Xã hội:
Nhà nước đế quốc Đức được thành lập sau khi cuộc đấu tranh thống nhất thắng lợi.
Vua là người đứng đầu nhà nước. Nhà vua có quyền rất lớn như thống lĩnh quân độ, bổ
nhiệm và cách chức chức thủ tướng, ký ước, ngoại dao, tuyên chiến…vua có quyền triệu
tập, giải tán và hoãn các phiên họp của hội đồng liên bang và quốc hội…
Vai trò của quý tộc Giooke (quý tộc tư sản hóa)còn rất lớn, thế lực kinh tế của quý
tộc khá mạnh, nhất là miền đông phổ. Hầu hết đất đai ở trong tay họ, sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản làm cho nông thôn phân hóa sâu sắc, phần lớn nông dân nghèo túng hay phá
Năm 1830 Feuerbach xuất bản tác phẩm đầu tiên "Quan điểm về cái chết và bất tử".
Một lần nữa chủ đề tình yêu lại được nêu ra. Feuerbach nói về tình yêu thiên đường và
tình yêu trần tục, tình yêu thần thánh và tình yêu con người.Ông khẳng định: con người
yêu con người cần phải yêu, yêu là hiến dâng. Đề cập đến sự bất tử, Feuerbach cho rằng
chỉ cần những hành vi vĩ đại của lý tính con người mới bất tử, nhưng nhìn chung ông bác
bỏ tư tưởng phổ biến về sự bất tử của linh hồn. Sách của Feuerbach bị tịch thu, còn vị phó
giáo sư bị thì mất việc. Cũng từ năm ấy Feuerbach bắt đầu cuộc sống đơn độc, thậm chí
ẩn dật ở vùng quê, công bố những tác phẩm đánh dấu cách nhìn khác đối với triết học
Hegel.
Năm 1836 Feuerbach cưới vợ, trong suốt 25 năm hầu như không rời khỏi ngôi nhà nhỏ
của mình, mặc dù năm 1848 trúng cử đại biểu quốc hội vùng Frankfurt. Năm 1839
Feuerbach đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm. Trong tác phẩm “Góp phần phê
phán triết học Hegel", Feuerbach giải quyết vấn đề cơ bản của triết học theo hướng duy
vật và xem xét giới tự nhiên, tồn tại, vật chất, như thực tại sinh ra lý tính tư duy. Vượt qua
khỏi giới hạn triết học Hegel và Schelling, Feuerbach viết:"Thực tại của tồn tại cảm tính
đơn nhất là chân lý". Thuật ngữ "chân lý” trong lối diễn đạt này có nghĩa là “thực tiễn",
6
“tính có trước”. Ở chỗ khác Feuerbach nói thêm: "Chân lý, thực tiễn, tính cảm giác đồng
nhất với nhau. Chỉ bản chất cảm tính mới là bản chất chân lý thực tiễn”.
Năm 1841 Feuerbach cho ra mắt tác phẩm chính “Bản chất đạo Cơ đốc”, ấn tượng mà
nó đem lại thật to lớn. Những năm tiếp theo ông viết “Luận cương khởi đầu về cải cách
triết học” (1842), “Các luận điểm triết học cơ bản của tương lai" (1843).
Ông mất năm 1872, tức là sau công xã Paris (1871) thất bại.
2) Triết học nhân bản của Feuerbach:
Trước khi tìm hiểu nội dung của triết học nhân bản của Feuerbach chúng ta sẽ tìm hiểu sơ
về 1 số đặc trưng về chủ nghĩa duy vật của ông:
a. Công lao lịch sử to lớn của Feuerbach ở chỗ, Feuerbach khôi phục, và phát triển
truyền thống duy vật thế kỷ XVIII trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm và thần bí thắng
thế ở Đức. Khác với các bậc tiền bối của triết học cổ điển Đức, Feuerbach là nhà duy vật
tượng nằm bên ngoài mối liên hệ lịch sử - xã hội nhất định, với sự phân hóa xã hội và
cuộc đấu tranh hiện thực vì tiến bộ xã hội.
h. Triết học tự nhiên của Feuerbach là chủ nghĩa duy vật nhất nguyên.
2.1 Về cải cách triết học của L. Feuerbach:
Trong số các nhà triết học cổ điển Đức, L.Feuerbach là một chân dung đặc biệt. Triết
học của ông được gọi là chủ nghĩa duy vật nhân bản, vì ở đó có sự kết hợp giữa chủ nghĩa
duy vật và thuyết nhân bản, là học thuyết lấy con người làm nền tảng, đối tượng nghiên
cứu chủ yếu. Trong Cương lĩnh cải cách của mình Feuerbach nhấn mạnh: Thông qua con
người đưa tất cả những gì siêu nhiên về với tự nhiên, và thông qua tự nhiên đưa tất cả
những gì siêu nhân về với con người. Như vậy, khác với Kant và Hegel, Feuerbach loại
bỏ Thượng đế ra khỏi đối tượng nghiên cứu, chỉ còn lại tự nhiên và con người – bộ phận
ưu tú, hoàn thiện nhất của nó. Với tinh thần cải cách đó, Feuerbach từng bước khôi phục
truyền thống triết học tự nhiên của chủ nghĩa duy vật thế kỷ trước. Feuerbach phê phán
những cơ sở của chủ nghĩa duy tâm Hegel, xem đó là thứ triết học tư biện, học thuyết của
tư duy thuần túy (tác phẩm “Góp phần phê phán triết học Hegel”, năm 1839). Dưới ảnh
hưởng của Đại cách mạng Pháp, Feuerbach đề cao khát vọng tự do và dân chủ, mô hình
xã hội công dân và nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, ông không tham gia vào những
chuyển biến chính trị đang diễn ra tại Đức. Từ sau 1841, Feuerbach bắt đầu cuộc sống ẩn
dật tại một vùng quê hẻo lánh.
Feuerbach gọi triết học của mính là thuyết nhân bản, và lập luận như sau: nếu chúng
ta xem vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa tồn tại và tư duy, thì cần phải
8
bắt đầu từ con người, vì chỉ con người mới biết tư duy. Trong khi tư duy về thế giới, con
người cũng đồng thời tư duy về chính bản thân mình. Nhờ có con người mà những gì kỳ vĩ
nhất của tự nhiên được bộc lộ ra.
2.2 Triết học nhân bản và quan điểm về con người của L.Feuerbach:
Quan niệm về con người đã phát sinh và tồn tại từ khi triết học mới hình thành, nhưng
phải đợi đến cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện hệ thống triết học phê phán của nhà triết học
cổ điển Đức, I.Kant (1724- 1804) thì các quan niệm đó mới được hệ thống hóa và trình
việc cải cách triết học và ông thực sự đã làm như vậy trong 2 tác phẩm: Những luận điểm
dự thảo cho cuộc cải cách triết học (1842), Những luận đề cơ bản của triết học tương lai
(1843). Trong các tác phẩm đó ông đã khai mở một hướng đi mới cho các nhà triết học
hậu thế, đó là truy tìm bí mật của triết học ngay trong giới tự nhiên và con người: “Hãy
quan sát giới tự nhiên và con người, bạn sẽ thấy trong đó những bí mật của triết học”.
“Quan điểm của tôi chỉ có thể biểu đạt trong hai từ: Giới tự nhiên và con người”.
Từ việc quan sát hình thể bên ngoài của con người cho đến mọi hoạt động lao động
sản xuất cũng như hoạt động tinh thần của nó, Feuerbach cho rằng, con người là một sinh
vật có hình thể vật lý - sinh lý ở trong không gian và thời gian, nhờ vậy nó có năng lực
quan sát và suy nghĩ vượt trội so với các loài sinh vật khác. Bản chất con người là một cái
gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư duy). Sự
thống nhất toàn vẹn này đảm bảo cho con người có thể tồn tại và phát triển như một sinh
vật cao nhất, hoàn thiện nhất trong mọi sinh vật hiện có.
Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa nhị nguyên
trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy, Feuerbach đã thừa nhận một
cách dứt khoát rằng quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là tồn tại - chủ thể, tư duy -
thuộc tính. Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy… Cơ sở
của tồn tại nằm ngay trong tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý trí tuệ, là sự tất yếu và
chân lý Bản chất của tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên.
Tuy nhấn mạnh tính cá thể của con người, song Feuerbach cũng hé mở một ý tưởng
cho rằng, trong quá trình sống, con người có thể giao tiếp với những người khác, với cộng
đồng xã hội. Do tiếp xúc với xã hội mà "từ một tồn tại thuần tuý vật lý, con người trở
thành một tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tự nhiên, tồn tại đó
chỉ quan tâm đến bản thân mình"
Vấn đề quan trọng hơn là bản chất đích thực của con người, tức là những yếu tố quy
định sự tồn tại của nó với tư cách là một sinh thể có tính loài hay nói theo cách của Mác là
tính xã hội của con người. Bởi vì "khi con người sinh ra từ giới tự nhiên, nó mới chỉ là
một sinh vật tự nhiên đơn thuần chứ không phải là người Con người là sản phẩm của văn
hoá và của lịch sử". Như vậy, theo Feuerbach, khi nói về con người, nhất thiết phải giả
định rằng, có những người khác và chỉ có trong mối quan hệ đó thì con người mới là con
khoa học để đi đến kết luận: "Không phải Thượng đế đã sáng tạo nên con người theo hình
dáng của mình như đã miêu tả trong Kinh thánh, mà chính con người đã sáng tạo nên
Thượng đế theo hình dáng của mình Chính sức mạnh của tư tưởng đã hướng vào những
tính chất cơ bản của con người. Con người u sầu, ốm yếu phản ánh tâm trạng của mình
trong hình ảnh một Thượng đế tương tư, con người vui vẻ thì ngược lại, họ miêu tả
Thượng đế với bộ mặt tươi tỉnh, sáng ngời. Tính đa dạng của con người quy định tính đa
dạng của Thượng đế". Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn rằng, Feuerbach đã truy
tìm bản chất của tôn giáo trong bản chất của con người.
11
Quan điểm về cải cách tôn giáo được Feuerbach trình bày khá rõ trong đoạn kết của
Tập bài giảng về bản chất của tôn giáo: "Thưa các bạn, bằng những lời này, tôi kết thúc
các bài giảng của mình, tôi mong muốn rằng sẽ đạt được nhiệm vụ đã đặt ra trong các bài
giảng này, mà chính là: Từ bạn của thượng đế, trở thành bạn của con người, từ những tín
đồ trở thành người duy lý, từ những người luôn cầu nguyện Thượng đế rủ lòng thương trở
thành người lao động, từ những nghiên cứu sinh ở thế giới bên kia trở thành những người
nghiên cứu viên ở thế giới trần gian, từ những tín đồ Kitô giáo theo sự thừa nhận, theo ý
thức của chính họ, “là nửa súc vật, nửa thiên thần" trở thành những con người hoàn thiện.
Những lời trên cũng có thể được coi như bức thông điệp hoà bình của ông gửi đến các thế
hệ mai sau với ngụ ý rằng, con người trước hết phải thương yêu nhau thực sự ở chốn trần
gian, bởi đây mới là những tình yêu chân chính theo đúng nghĩa của từ này.
Quan niệm về con người trong triết học Feuerbach như đã trình bày ở trên theo đánh
giá của A.G.Spirkin: "Chính là điểm xuất phát cho những lập luận của Mác về con người
và bản chất con người". Bởi vì, bằng những quan niệm đó, người khai mở con đường cho
chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và
chỉ nghĩa duy tâm khách quan của Hêgen, "đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở
lại ngôi vua", ông đã khẳng định một cách dứt khoát rằng "tự nhiên tồn tại độc lập đối với
mọi triết học. Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta, bản thân chúng ta cũng là một sản
phẩm của tự nhiên đã sinh trưởng”. Marx và Engels luôn đánh giá cao triết học của
Feuerbach nói chung, chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông nói riêng.
xét các mối quan hệ giữa người và người dựa trên cảm tình đối với nhau, như tình yêu
nam nữ, tình bạn, lòng thương xót, tinh thần tự hy sinh Feuerbach cho rằng, những quan
hệ ấy chỉ có giá trị đầy đủ, khi người ta đem lại cho chúng một sự tôn phong tối cao bằng
cái tên là tôn giáo". Do dựa trên một quan niệm duy tâm sai lầm như vậy, nên "học thuyết
của Feuerbach về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được
gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà
không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả. Và đối với thế giới hiện thực, nó
cũng bất lực như cái mệnh lệnh tuyệt đối của Kant vậy". Sự bất lực đó của nhà triết học
trước thực trạng xã hội Đức đương thời đã làm cho ông "không tìm thấy con đường thoát
khỏi vương quốc của sự trừu tượng, mà bản thân ông ghét cay ghét đắng để đi tới hiện
thực sinh động. Ông bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con người, song đối với ông,
tất cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh từ mà thôi. Ông không biết nói với
chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực, cũng như về con người hiện thực".
Nhưng lịch sử phát triển của nhận thức loài người có tính logic của nó, những gì mà
Feuerbach chưa thực hiện đã được Mác triển khai và hoàn thiện trong các tác phẩm của mình.
III) Vài nhận xét về mối liên hệ giữa triết học nhân bản của Feuerbach đến con người
trong xã hội ngày nay :
Từ lập trường của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng, trong con người luôn có
những ham muốn, nhu cầu, khát vọng và thái độ ích kỷ. Những nhu cầu sinh học và trạng
thái tâm sinh lý này có thể được đáp ứng hoặc có thể không được đáp ứng, từ đó gây nên
13
trong con người hai xu hướng trạng thái tâm lý: hoặc sợ hãi, bất lực, nỗi buồn chán, đau
khổ (nếu con người gặp những điều bất hạnh) hoặc sự ngưỡng mộ, kính phục, lòng biết
ơn (nếu con người gặp những thuận lợi).
Ở đây không phải tôi muốn nói đến việc kêu gọi mọi người có nên từ bỏ tôn giáo hay
không nhưng đó là những gì tôi muốn chia sẻ, bày tỏ quan điểm của mình về con người có
tôn giáo dựa trên những gì mà mình biết được qua triết học nhân bản của Feuerbach.
Như feuerbach đã cho rằng trong con người luôn có những ham muốn, nhu cầu, khát
vọng và thái độ ích kỷ. Những nhu cầu sinh học và trạng thái tâm sinh lý này có thể được
đồng, một tính ích kỷ yêu nước.
Thật vậy, trong xã hội ngày nay dường như tính ích kỷ nó đã ăn sâu vào trong mỗi con
người. Nói con người không ích kỷ là sẽ không đúng mà tùy thuộc vào tính ích kỷ đó
được họ thể hiện như thế nào ra bên ngoài thôi. Xã hội ngày nay con người trở nên vô
cảm phần lớn là do tính ích kỷ trong mỗi con người đang trỗi dậy, nhưng tùy vào thời
điểm, tùy vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà tính ích kỷ có thể phát huy được lợi ích
của nó. Chẳng hạn như vào thời điểm nước ta còn bị đàn áp bởi các thế lực đế quốc đàn
áp nhân dân ta, muốn chiếm đất nước ta. Nếu như không có lòng yêu nước (mà theo tôi
lòng yêu nước ở đây chính là tính ích kỷ của dân tộc, muốn giữ gìn dân tộc độc lập không
thể nào giao đất nước của mình cho bọn xâm lược đó) thì có lẽ chúng ta cũng sẽ không có
cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay. Tuy nhiên trong thời gian gần đây cũng chính tính
ích kỷ này mà dẫn đến sự bất ổn trong khu vực cũng như tạo sự cản trở trong mối quan hệ
giữa các nước. Đó chính là việc Trung Quốc tìm mọi cách để thống trị khu vực biển đông.
Chính cái sự ích kỷ dân tộc nhỏ nhen đó đã làm cho mối quan hệ giữa các nước trở nên
xấu đi. Do đó cái tính ích kỷ trong con người khi chúng ta xem xét nó cần phải đặt nó
trong một hoàn cảnh, một điều kiện cụ thể từ đó mới thấy được bản chất thực sự của nó
như thế nào từ đó ta mới có thể đánh giá được nó.
Do đó, tìm hiểu triết học nhân bản của L.Feuerbach - những luận điểm cơ bản của ông,
góp phần hiểu sâu sắc hơn quan niệm về con người của triết học Mac – một học thuyết về
bản chất con người được xây dựng trên nền tảng duy vật lịch sử. Quán triệt quan điểm
này sẽ tạo nên cơ sở lý luận cho hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực quản lý và giáo dục
con người, cải tạo con người từ những mối quan hệ mang tính xã hội.
15
16
Lời mở đầu 1
I. Sơ lược về xã hội Đức cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 2
1. Kinh tế 2
2. Chính trị 2
3. Xã hội 3
II. Feuerbach và triết học nhân bản 4
1. Sơ lược về triết gia Feuerbach 4
2. Triết học nhân bản của Feuerbach 5
2.1 Về cải cách triết học của L.Feuerbach 6
2.2 Triết học nhân bản và quan điểm về con người của L.Feuerbach 7
III. Vài nhận xét về mối liên hệ giữa triết học nhân bản của Feuerbach đến
con người trong xã hội ngày nay 11
Kết luận 14 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO