Bài tập cá nhân triết học chủ nghĩa duy vật nhân bản phoiobac và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học mác - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC Đề tài
TRIẾT HỌC DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

Giảng viên hướng dẫn: TS. BÙI VĂN MƯA
Học viên thực hiện: NGUYỄN ĐỨC THÁI
Lớp: Đêm 3
Khóa: 22

TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
khai sinh và phát triển thành công đến ngày hôn nay.
Qua thời gian, loài người đã trải qua một quá trình phát triển dài về mọi
mặt như xã hội, văn hóa, khoa học… và triết học cũng không nằm ngoài quy luật
phát triển không ngừng đó. Triết học Mác ra đời là sự kế thừa và phát huy mạnh
mẽ của nền triết học cổ điển Đức mà đại diện tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc.
Với phép biện chứng duy tâm của Hêghen, nhiều sai lầm đã được biểu hiện rõ
nét qua quan điểm duy tâm thần bí của nhà triết học này mà Mác và Ăngghen đã
từng phê phán. Còn ở một sự phát triển cao hơn, và tập trung vào con người
Phoiơbắc đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản, điều này được C.Mác
đánh giá rất cao, và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành triết học M ác về mặt tư
tưởng.
Qua bài tiểu luận này, tôi xin được phân tích về vai trò của triết học nhân
bản Phoiơbắc với sự ra đời của triết học Mác. Điều này thể hiện khi thứ nhất
chũng ta sẽ tìm hiểu về triết học nhân bản của Phoiơbắc, thứ hai chúng ta sẽ tìm
hiểu xem Mác đã đánh giá như thế nào về triết học nhân bản và cuối cùng tìm ra
cầu nối nào dẫn đến vai trò của triết học nhân bản đối với sự ra đời của triết học
M ác.
GVHD: TS.Bùi Văn MưaHọc viên: Nguyễn Đức Thái Trang 3

Chương I: CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC
1.1 Phoiơbắc là ai?
Lutvích Phoiơbắc (1804-1872), ông là đại diện cuối cùng cho nền triết học
cổ điển Đức. Năm 1823 với mục đích nghiên cứu tôn giáo, Phoiơbắc vào học tại
khoa thần học của trường đại học Heidelberg, sau đó năm 1824 ông chuyển đến

duy tâm ấy cũng là một quá trình. Ông viết: “Hêghen đã chuyển những định
nghĩa, mà những định nghĩa này trong chính bản thân mình chẳng có chút gì
hiện thực cả,thành một cái gì đó độc lập. Sự việc cũng lại như thế với tồn tại ở
phần mở đầu của “Khoa học lôgíc”. Có thể hiểu tồn tại theo cách nào khác như
tồn tại không hiện thực, tồn tại không có thật? Vậy thì khái niệm tồn tại là
gì trong sự khác biệt với khái niệm tồn tại hiện tồn, hiện thực, thật sự? Dĩ nhiên,
đó chính là hư vô ”. Vấn đề là ở chỗ, với Phoiơbắc, tồn tại thống nhất với cái
mang sự tồn tại, không thể có khả năng cái này tách biệt khỏi cái kia. Kết cục, cả
hai đường hướng của chủ nghĩa duy tâm Đức - Sêlinh và Hêghen đều cùng phạm
một sai lầm: không thừa nhận tồn tại và không biết đến tồn tại thực sự. Vượt ra
khỏi những cái bóng của cả Sêlinh lẫn Hêghen, Phoiơbắc đã xây dựng một chủ
nghĩa duy vật mới – chủ nghĩa duy vật nhân bản.
Trong Những trích đoạn đặc trưng cho tiểu sử triết học của tôi, Phoiơbắc
tuyên bố rằng, “Phương pháp của tôi nằm ở chỗ (…) đưa tất cả những cái siêu tự
nhiên về với tự nhiên nhờ có con người và đưa tất cả những cái siêu nhân về với
con người nhờ có tự nhiên, nhưng thường xuyên chỉ dựa vào những sự kiện lịch
sử, kinh nghiệm, trực quan và những ví dụ”. Trecnưsepxki cũng đã từng trình
bày phương pháp duy vật nhất nguyên của mình một cách tương tự như vậy khi
cho rằng, nguyên tắc nhân bản chính là việc nhìn nhận con người như một thực
thể thống nhất, chỉ có một bản tính chứ không phải phân chia cuộc sống con
người thành hai nửa thuộc về những bản tính khác nhau. Theo sự giải thích của
Phoiơbắc, con người là một sinh vật có hình thể, vật chất, ở trong không gian và
thời gian và chỉ như vậy, nó mới có năng lực quan sát và suy nghĩ.
Trong chương mở đầu cuốn Bản chất đạo Thiên Chúa giáo – tác phẩm chủ
yếu của Phoiơbắc, ông đã bàn về bản chất chung của con người. Trước những
câu hỏi: bản chất con người là gì? Đâu là những dấu hiệu người thực sự trong
mỗi con người?… Phoiơbắc đã trả lời rằng, đó chính là lý trí, ý chí và trái tim.
Ông khẳng định: “Con người hoàn thiện có sức mạnh của tư duy, sức mạnh của
ý chí và sức mạnh của tình cảm. Sức mạnh của tư duy là ánh sáng của sự nhận
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

chí, tư duy và cảm xúc không chỉ là những năng lực cơ bản của con người, mà
còn là những sức mạnh bị chế định bởi chính bản chất của con người, là mục tiêu
và phương tiện tồn tại của con người: “Chúng là những thành tố cơ bản luận
chứng cho bản chất của con người Đó là những sức mạnh sống động, quyết
GVHD: TS.Bùi Văn MưaHọc viên: Nguyễn Đức Thái Trang 6

định và thống trị, đó là những sức mạnh thần thánh, tuyệt đối mà con người
không thể nào phản kháng được”. Việc nhìn nhận bản chất con người trong sự
thống nhất biện chứng của ý chí, tư duy và cảm xúc đã cho phép Phoiơbắc đi sâu
nghiên cứu, phân tích chi tiết từng năng lực người riêng biệt với tư cách là
những thành tố cơ bản của văn hoá qua lý luận nhận thức, đạo đức học và mỹ
học của ông.
Phoiơbắc không chỉ tuyên bố, mà còn vận dụng nguyên lý nhân bản vào
học thuyết luân lý của mình. Ông cho rằng, sự khát khao hạnh phúc nằm trong
cơ sở hành động của con người.
Việc chứng minh luân lý cần phải được xây dựng trong sự mong muốn
thoả mãn những nhu cầu của con người đã giúp Phoiơbắc thoát khỏi chủ nghĩa
ích kỷ, thô tục. Theo ông, luân lý chân chính không có nghĩa là sự hạnh phúc và
sung sướng xa cách, biệt lập và không phụ thuộc vào những người khác. Nhưng,
làm thế nào để đạt tới sự hài hoà các quyền lợi và nhu cầu của mọi người, làm
thế nào để tạo sự hài hoà giữa bổn phận và hạnh phúc thì Phoiơbắc vẫn chưa trả
lời được rõ ràng. Tình yêu - đó là phương thuốc vạn năng, kỳ diệu mà Phoiơbắc
hy vọng có thể giải quyết mọi khó khăn trong đời sống hiện thực của con người
và ông kêu gọi mọi người hãy yêu nhau đi, hãy yêu tất cả mọi người không phân
biệt giới tính và danh vọng. Phoiơbắc đã mở cửa để cho tình yêu cùng với cái
thiện đi vào những suy ngẫm của ông về văn hoá và con người. Tình yêu đã trở
thành một thước đo độc đáo trong trường văn hoá.


Chương 2: QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ TRIẾT HỌC NHÂN BẢN
CỦA PHOIƠBẮC
Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay
kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là sự vật, hiện thực, cái cảm giác
được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực
quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con
người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan. Thành thử
mặt năng động đuợc chủ nghĩa duy tâm phát triển, đối lập với chủ nghĩa
duy vật, nhưng chỉ phát triển một cách trừu tượng, vì chủ nghĩa duy tâm dĩ
nhiên là không hiểu hoạt động hiện thực, cảm giác được, đúng như là hoạt
động hiện thực, cảm giác được. Phoiơbắc muốn xem xét những khách thể
cảm giác được, thực sự khác biệt với những khách thể của tư tưởng, nhưng
ông không xem xét bản thân hoạt động của con người, như là hoạt
GVHD: TS.Bùi Văn MưaHọc viên: Nguyễn Đức Thái Trang 8

động khách quan. Bởi thế, trong "Bản chất đạo Cơ Đốc", ông chỉ coi hoạt
động lý luận là hoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn thì chỉ
được ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu
của nó mà thôi. Vì vậy, ông không hiểu được ý nghĩa của hoạt động "cách
mạng", của hoạt động "thực tiễn - phê phán".
Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con
người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một cách hợp lý khi coi đó
là thực tiễn cách mạng.
Phoiơbắc không hài lòng với tư duy trừu tượng, đã nhờ đến trực
quan của cảm giác; nhưng ông không coi tính cảm giác là hoạt động thực
tiễn của cảm giác con người.

Chương 3: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC NHÂN BẢN VỚI SỰ
RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Các Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết học
Hêghen và nghiên cứu triết học Phoiơbắc. Qua đó, hai ông đã nhận thấy: Tuy
học thuyết triết học của Hêghen mang quan điểm của chủ nghĩa duy tâm nhưng
chứa đựng cái “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng. Còn học thuyết triết học
Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại thấm
nhuần quan điểm duy vật. Các M ác và Ph.Ăngghen đã kế thừa “hạt nhân hợp lý”
của Hêghen và cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xây dựng nên lí luận mới của
phép biện chứng. Hai ông đã kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục
tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng nên lí luận mới
của chủ nghĩa duy vật. Từ đó tạo ra cơ sở để hai ông xây dựng nên học thuyết
triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất một
cách hữu cơ. Chúng ta có thể thấy rằng triết học nhân bản tồn tại một va trò
trung gian có vai trò xóa bỏ quan niệm duy tâm cũ và hình thành quan điểm duy
vật mới, tạo những lý luận cơ bản nhất cho chủ nghĩa duy vật biện chững của
M ác.
Hoàn toàn có thể nhận ra rằng, chính Phoiơbắc đã giúp M ác thoát khỏi
triết học duy tâm huyền bí của Hêghen để đến với chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa vô thần. Chúng ta có thể hình dung Phoiơbắc là một chiếc cầu tuyệt vời về
lý luận.
GVHD: TS.Bùi Văn MưaHọc viên: Nguyễn Đức Thái Trang 10

Quan niệm về con người rất trừu tượng, phi lịch sử (giai cấp, dân tộc); chỉ
quan tâm đến mặt tự nhiên siêu hình mà không chú ý mặt xã hội & điều kiện
chính trị xã hội của con người; tuyệt đối hóa tình yêu & coi tình yêu là bản chất
của con người là những điểm yếu rất hiện hình của triết học nhân bản nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status