Tiểu luận: Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác - Pdf 14


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


TRIẾT HỌC
Đề bài:

Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac
và vai trò của nó đối với sự ra đời của
triết học Mác.
HVTH: Đỗ Thanh Sơn
STT: 83
Nhóm: 9
Lớp: QTKD Đê m 3
Khóa: 22

Pháp).
Feuerbach là đại diện vĩ đại cuối cùng của triết học cổ điển Đức.
Người có công lao to lớn đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, phục hồi và
phát triển chủ nghĩa duy vật trong thời kỳ chuẩn bị cách mạng tư sản Đức (1848).
Feuerbach khẳng định vật chất là tính thứ nhất, tư duy là tính thứ hai, do đó ông là
nhà triết học đứng trên quan điểm duy vật. Ông coi con người là sản phẩm cao nhất của
giới tự nhiên, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất con người, vì thế
đây là đối tượng duy nhất, phổ biến và cao nhất của triết học.
Không chỉ là đại biểu tiêu biểu của nền triết học cổ điển Đức mà Feuerbach đã đem lại
cho
triết
học địa vị vốn có và sứ mệnh cao cả của nó trong đời sống tinh thần nhân loại
nói riêng và có vai trò to lớn đối sự ra đời của triết học Marx. Chính vì lẽ đó, phạm vi
củabài tiểu luận sẽ xoay quanh vấn đề “ Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac và vai
tròcủa nó đối với sự ra đời của triết học Mác.”
Bài tiểu luận được chia làm 3 phần chính:
 Phần 1: Lịch sử ra đời chủ nghĩa duy vật nhân bản Feuerbach
 Phần 2: Nội dung chính của Chủ nghĩa duy vật nhân bản Feuerbach
 Phần 3: Vai trò chủ nghĩa duy vật nhân bản của Feuerbach đối với sự ra đời của
triết học Mác.
Tài liệu nghiên cứu dựa trên Giáo trình Triết học
(1)
(dùng cho học viên cao học và nghên
cứu sinh, không thuộc chuyên ngành triết học); Các bài giảng của TS Bùi Văn Mưa; Triết
học phần I &II
(2)
(dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên
ngành triết học). Một số tài liệu trên báo chí và trên Internet…
Trong phạm vi trình độ kiến thức hạn hẹp, bài viết chưa thể đi sâu và chưa có cái nhìn
khái quát về vai trò to lớn của chủ nghĩa duy vật nhân bản Feuerbach với sự ra đời của

mạng đó. Thời kỳ cách mạng Feuerbach viết và công bố một vài tác phẩm nhưng chẳng
mấy ai chú ý. Giai cấp tư sản quay lưng lại với nhà tư tưởng vĩ đại, vì học không thích
thú gì cái tình yêu nhân loại quá lớn của ông, còn các lực lượng khác nhận thấy ở đó có
những biểu hiện của chủ nghĩa không tưởng chính trị.
3

1.2. Sơ lược về lịch sử & triết học cổ điển Đức.
Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt. Nước Đức vào
cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình
với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về
kinh tế và chính trị. Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn. Lúc này
vương triều Phổ Phriđrich Vin Hem vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ,
cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Cả đất nước bao trùm bầu
không khí bất bình của đông đảo quần chúng.

Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng nhưng hình thức của nó
cực kỳ “rối rắm”, bảo thủ. Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhất trong triết học của Cantơ và
Hêghen.
Đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là một thực thể hoạt
động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học. Con người là chủ thể đồng
thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình; tư duy và ý thức của của con
người chỉ có thể phát triển trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới.
Tiếp thu tư tưởng biện chứng trong triết học cổ đại, triết học Đức xây dựng phép biện
chứng trở thành phương pháp luận triết học độc lập với phương pháp tư duy siêu hình
trong lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Giả thuyết hình thành vũ trụ
của Cantơ; việc phát hiện ra những quy luật và phạm trù của Hêghen đã làm cho phép
biện chứng trở thành một khoa học thực sự mang ý nghĩa cách mạng trong triết học. Đây
là một đặc điểm nổi bật của triết học cổ điển Đức.
Với cách nhìn bao quát, biện chứng, nhiều nhà triết học Đức có tham vọng xây dựng

cảm nhận thế giới trong tính toàn vẹn và tính tổng thể của nó.
Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại: Feuerbach đã thừa nhận một cách dứt khoát rằng
quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là tồn tại - chủ thể, tư duy - thuộc tính. Tư duy
xuất phát từ tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy… cơ sở của tồn tại nằm
ngay trong tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý trí tuệ là sự tất yếu và chân lý bản
chất của tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên. Theo
Feuerbach, chúng ta cần đến từ đâu đến, bộ óc từ đâu đến, cơ quan cơ thể từ đâu đến, thì
5

tinh thần cũng đến từ đấy ngay cả hoạt động tinh thần cũng là việc làm của cơ thể, của
đầu óc con người, hoạt động đó khác với các hoạt động khác ở chỗ, nó là hoạt động của
đầu óc. Feuerbach nhận thấy rằng, mỗi con người cụ thể bằng xương bằng thịt đang sống
và hoạt động là những bằng chứng sinh động về sự thống nhất giữa thể xác và tinh thần,
giữa phương diện vật lý và phương diện tâm lý. Sự thống nhất này phản ánh sự thống
nhất giữa cấu trúc và chức năng, giữa giải phẫu học và sinh lý học. Và cũng từ đó ông dễ
dàng rút ra một kết luận triết học duy vật rằng, tư duy, ý thức của con người không là cái
gì khác như là thuộc tính vốn có của một dạng vật chất có tổ chức cao - bộ óc con người.
Mối quan hệ giữa người và người: Feuerbach cũng hé mở một ý tưởng cho rằng,
trong quá trình sống, con người có thể giao tiếp với những người khác, vôi cộng đồng xã
hội. Do tiếp xúc với xã hội mà "từ một tồn tại thuần tuý vật lý, con người trở thành một
tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tự nhiên, tồn tại đó chỉ quan
tâm đến bản thân mình". theo Feuerbach, khi nói về con người, nhất thiết phải giả định
rằng, có những người khác và chỉ có trong mối quan hệ đó thì con người mới là con
người với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Từ việc công nhận con người như là sản phẩm của
văn hoá, của lịch sử, Feuerbach đi đến quan điểm cho rằng, tính ích kỷ không chỉ mang
tính cá nhân mà nó còn mang tính xã hội. "Không chỉ có một tính ích kỷ đơn độc hay là
tính ích kỷ cá nhân - Feuerbach viết - mà còn có một tính ích kỷ xã hội, một tính ích kỷ
của gia đình, của tập thể, của cộng đồng, một tính ích kỷ yêu nước. Tất nhiên, tính ích kỷ
là nguyên nhân của mọi điều ác, nhưng cũng là nguyên nhân của mọi điều thiện, bởi vì
không cái gì khác ngoài tính ích kỷ đã tạo nên sự chiếm hữu ruộng đất, nên thương

có của nó. Theo ông phải tìm nguyên nhân của thế giới tự nhiên ở chính trong thế giới tự
nhiên, sự sống và con người cũng là kết quả tiến hóa hết sức lâu dài của chính giới tự
nhiên.
Ông cũng có quan điểm duy vật về không gian và thời gian. Theo ông không có vật
chất ngoài không gian và thời gian, không gian và thời gian chỉ là những hình thức tồn tại
của vật chất. 7

2.3. Quan điểm về tôn giáo
Feuerbach là người phê phán tôn giáo kịch liệt, ông đã cố gắng chỉ ra nguồn gốc nhận
thức luận của tôn giáo.Ông đã vận dụng khái niệm “tha hóa” để phân tích tôn giáo. Ông
cho rằng không có tình cảm tôn giáo bẩm sinh, chính tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của
con người, tôn giáo là một phương thức thỏa mãn nhu cầu hư vô của con người. Chính
con người đã sáng tạo ra thượng đế. Thượng đế chỉ là con người “tha hóa” với những
phẩm chất tốt đẹp nhất. "Không phải Thượng đế đã sáng tạo nên con người theo hình
đáng của mình như đã miêu tả trong Kinh thánh, mà chính con người đã sáng tạo nên
Thượng đế theo hình dáng của mình mọi Thượng đế đều là tồn tại được sáng tạo nên
bằng tư tưởng tượng. Con người u sầu, ốm yếu phản ánh tâm trạng của mình trong hình
ảnh một Thượng đế tương tư, con người vui vẻ thì ngược lại, họ miêu tả Thượng đế với
bộ mặt tươi tỉnh, sáng ngời. Tính đa dạng của con người quy định tính đa dạng của
Thượng đế". Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn rằng, Feuerbach đã truy tìm bản chất
của tôn giáo trong bản chất của con người, ông viết. "Bản chất thần thánh không là cái gì
khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột rửa, được giải phóng khỏi
những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý hiện thực, được khách
quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ. Bởi vậy, mọi sự xác đinh về
bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác định bản chất con người. Dựa trên
những khảo cứu lịch sử hiện thực của nhân loại, Feuerbach thấy rằng trong thực tế
thường diễn ra sự thù địch giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, sự thù địch giữa người

chung” mà ở đó có sự thống nhất về dân chủ và công bằng.
9

3. Vai trò chủ nghĩa duy vật nhân bản của Feuerbach đối với sự ra đời của triết học
Mác.
3.1. Hạn chế của Feuerbach.
Tuy Feuerbach có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng còn thô sơ và siêu hình. Bởi
lẽ, vật chất theo ông mới chỉ là những gì cảm giác được. Hay là khi đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm nói chung, chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói riêng, ông đã không thấy
được “hạt nhân hợp lý” trong triết học của Hêghen và đã phủ định một cách tuyệt đối,
như “hất chậu nước tắm và cả đứa trẻ trong đó”.
Vê mặt nhận thức luận, mặc dù có những tư tưởng tiến bộ, nhưng quan điểm của ông
cũng còn nhiều hạn chế:
- Ông còn thiếu quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử, quan điểm thực tiễn về
nhận thức. Về cơ bản theo ông, nhận thức là quá trình diễn ra chỉ một lần là xong.
- Ông chưa hiểu mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính.
- Chủ thể nhận thức trong quan niệm của ông chỉ là những con người chung chung,
đứng ngoài các quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể.
- Đặc biệt là ông chưa hiểu được bản chất của thực tiễn, ông mới hiểu thực tiễn là
những hoạt động buôn bán nhỏ.

Feuerbach trong việc ra đởi của triết học Mác.
Dưới quan điểm của ông về con người là đưa tất cả những yếu tổ siêu nhiên về với tự
nhiên thông qua con người đã tạo ra tiền đề cho triết học Mác khi nghiên cứu về con
người tự nhiên và con người xã hội. Feuerbach đã có công làm cho chủ nghĩa duy vật
đồng nhất với chủ nghĩa nhân đạo.
Tư tưởng về thẩm mỹ của con người của Feuerbach cũng đã ảnh hưởng đến tư tưởng
thẩm của Mác. Theo bản chất tộc loại của mình, con người tự do không chỉ ở trong tư
duy, khát vọng, mong muốn, mà cả ở trong cảm xúc. Nhờ vậy, con người có khả năng
giữ được một vị thế thuần tuý tinh thần, độc lập với các lợi ích cụ thể hàng ngày trong
mối quan hệ với các hiện tượng của thế giới vật thể.
Cũng chính nhờ chủ nghĩa duy vật của Feuerbach đã giúp Mác và Ăngghen đoạn tuyệt
với chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ. Mác và Ăngghen đã cải tạo chủ
nghĩa duy vật của Feuerbach phát triển lên một hình thức mới cao nhất đó là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Feuerbach đã có công làm cho chủ
nghĩa duy vật đồng nhất với chủ nghĩa nhân đạo.

11

KẾT
LUẬN
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Feuerbach là một thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển
Đức. Công lao to lớn của Feuerbach ở chỗ, ông không chỉ đấu tranh chống chủ nghĩa
duy tâm mà còn đáu tranh chống lại những người duy vật tầm thường. Ông đã có quan
niệm đúng đắn là, không thể quy các hiện tượng tâm lý về các quá trình lý – hoá; công
nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới. Ông đã kịch liệt phê phán những
người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết. Trong sự phát triển lý luận
nhận thức duy vât, Feuerbach đã biết dựa vào thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu về


13
Mục lục
LỜI MỞ
Đ Ầ U
1
1. Lị ch sử ra đời chủ nghĩa duy vật nhân bản Feuerbach 2
1.1 Giới thiệu về Feuerbach 2
1.2. Sơ lược về lịch sử & triết học cổ điển Đức. 3
2. Nội dung chính của Chủ nghĩa duy vật nhân bản 4
2.1.Quan điểm về con người 4
2.2. Quan điểm về giới tự nhiên 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status