Trang 1 / 17
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC &VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA
ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Học viên thực hiện: HỒ THỊ ĐOAN TRANG
STT: 70 Nhóm:8
Lớp: Ngày 4 Khóa: 22
MSHV: 7701221238
Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa
TP.HCM, tháng 12/2012.
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 2 / 17
LỜI MỞ ĐẦU
Nhắc đến Triết học thì có thể nói ngay đến Triết học Mác- Lênin với Chủ
nghĩa duy vật hiện đại. Song mỗi một tư tưởng, một vấn đề thành công luôn cần
có một quá trình phát triển lâu dài và những giai đoạn chuyển giao để hoàn thiện
chúng. Thì giai đoạn chuyển giao để đi tới thành công của Triết học Mác như
ngày nay là Triết học cổ điển Đức.Tuy nó chỉlà một giai đoạn lịch sử tương đối
ngắn song đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học. Nó đã từng
bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học duy vật thế kỷ XVII,
XVIII. Và người đã viết chương cuối cùng hùng tráng trên cơ sở của chủ nghĩa
duy vật và vô thần để kết thúc bản giao hưởng “Triết học cổ điển Đức” – Bậc
thầy vĩ đại mà C Mac và Ăngghen công nhận – Không ai khác chính là
PHOIƠBẮC.
tương lai" (l843); "Bản chất của cơ đốc giáo", "lịch sử triết học". Trong các tác
phẩm này Phoiơbắc luận chứng cho những quan điểm duy vật của ông.
1.2. Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc:
1.2.1. Tổng quan:
Vấn đề con người đã phát sinh và tồn tại từ khi triết học mới hình thành,
nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện hệ thống triết học của I.Cantơ, các
quan niệm về con người mới được trình bày dưới dạng một học thuyết triết học
với tên gọi nhân học (anthropology). Tiếp thu những giá trị tư tưởng của I.Cantơ
và dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, Phoiơbắc có tham
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 4 / 17
vọng thiết lập một nền triết học mới – triết học về chính con người - nghiên cứu
các vấn đề về con người để làm sáng tỏ bản chất con người đang tồn tại và giải
quyết vấn đề về mối quan hệ giữa “giới tự nhiên và con người”, giữa “tư duy và
tồn tại” và tạo cho con người một cuộc sống thật sự hạnh phúc trên trần gian.
Coi con người là đối tượng nghiên cứu của triết học và do khoa học
nghiên cứu về bản chất của con người là nhân bản học nên triết học mới đó – triết
học trong tương lai phải là Triết học duy vật nhân bản.
1.2.2. Những quan điểm của Phoiơbắc:
1.2.2.1. Con người thống nhất với giới tự nhiên:
Chân lý, theo Phoiơbắc, không phải là Chủ nghĩa duy vật hay duy tâm
mà chân lý chỉ có thể là nhân bản học, tức là học thuyết về con người.
Vậy con người là gì? Phoiơbắc cho rằng đó là những con người bằng
xương, bằng thịt đang sống và làm việc, là chính bản thân chúng ta chứ không
phải là con người trong trí tưởng tượng. Hơn tất cả các sự vật hiện tượng khác
trong giới tự nhiên, con người là một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy,
có ham muốn, có hoài bão, khát vọng, là một bộ phận của tự nhiên mà xét theo
bản chất là có tình thương yêu.
Con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên; giới tự nhiên là
– chủ thể (sujective), tư duy – thuộc tính (prelicate). Tư duy xuất phát từ tồn tại,
chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy…, cơ sở của tồn tại nằm ngay trong
tồn tại, tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý, trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý…
bản chất của tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên .
1.2.2.3. Tình yêu:
Tình yêu vừa là phương tiện vừa là mục đích của sự hòa hợp xã hội, là
động lực tiến bộ xã hội; con người và tình yêu chỉ là một. Bản chất của con
người là tình yêu và Ông cho rằng: “Chúng ta sẽ không thể là con người nếu
không biết yêu; đứa trẻ chỉ trở thành người lớn khi nó biết yêu; tình yêu phụ nữ
là tình yêu phổ quát, ai không yêu phụ nữ người đó không yêu con người”, “Tình
yêu của đàn ông dành cho đàn bà là tình yêu đích thực”.
Tôn giáo cũng là một tình yêu. Do vậy, thay thế cho thứ tôn giáo tôn sùng
một vị thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một thứ tôn giáo mới phù hợp với tình
yêu của con người. Ông cho rằng cần phải biến tình yêu thương giữa con người
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 6 / 17
thành mối quan hệ chi phối mọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội.
Ông khuyên mọi người rằng : “Hãy yêu nhau đi, hãy ôm lấy nhau mà hôn đi”.
1.2.2.4. Tôn giáo:
Tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất con người.
Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin, và an ủi. Bản chất của thần học, do
vậy, chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú
và thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề xã hội.
Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc là xoá bỏ sự tách rời giữa tinh
thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tao ra. Ông đấu tranh
chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt là quan
niệm về Thượng đế. Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng
Thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế.
Ông nói: "Tư tưởng và dụng ý của con người như thế nào thì chúa của con người
sử khỏi chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật còn mang tính máy móc, có đặc
trưng siêu hình, có nghĩa là không biện chứng. Và chủ nghĩa duy vật đó không
triệt để, duy tâm trong cách hiểu về các hiện tượng xã hội:
Đánh giá thấp vai trò của ý thức do thiếu quan điểm thực tiễn:
Phoiơbắc tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không thấy được thực
tiễn như là hoạt động vật chất cảm tính, có tính năng động của con người. Do đó
ông đã coi thường hoạt động thực tiễn, xem thực tiễn là cái gì có tính chất "con
buôn bẩn thỉu". Chỉ có hoạt động lý luận mới là quan trọng, mới là hoạt động
đích thực của con người.
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 8 / 17
Do chịu ảnh hưởng của quan điểm siêu hình và do thiếu quan điểm thực
tiễn nên Ông coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ động của chủ thể tiếp
nhận hình ảnh của khách thể; coi thực tiễn mang tính thấp hèn, cần được loại ra
khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ thống triết học; không hiểu hoạt động khoa
học cũng là hoạt động thực tiễn; không thấy được vai trò to lớn của thực tiễn đối
trong quá trình hoàn thiện nhân cách chủ nghĩa, thúc đẩy phát triển sản xuất nói
riêng, xã hội nói chung.Và do không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa đời
sống vật chất và đời sống tinh thần, nên ông không thể lý giải được một cách duy
vật quá trình bộ óc của con người sản sinh ra ý thức và tư duy như thế nào.
Nếu như chủ nghĩa duy tâm cường điệu vai trò của ý thức, tư tưởng đến
mức coi ý sinh ra vật chất thì trái lại, chủ nghĩa duy vật trước Mác lại hạ thấp
hoặc phủ nhận vai trò của ý thức, không thấy được sự tác động vô cùng quan
trọng của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Xem xét Con người một cách trừu tượng:
Quan niệm về con người rất trừu tượng, phi lịch sử (giai cấp, dân tộc); chỉ
quan tâm đến mặt tự nhiên siêu hình mà không chú ý mặt xã hội và điều kiện
chính trị xã hội của con người; xem xét con người với tư cách một cá nhân thuần
tuý, biệt lập, tách khỏi cơ sở tồn tại hiện thực của nó – phương thức sản xuất.
Tôn giáo cũng là một tình yêu, là mối quan hệ thương yêu giữa người với
người; mối quan hệ này, cho đến nay, vẫn đi tìm chân lý của nó ở sự phản ánh
huyền ảo của hiện thực - ở sự trung gian của một ông thần hay nhiều ông thần,
tức là những hình ảnh huyền ảo của các thuộc tính của con người - nhưng ngày
nay đã tìm thấy chân lý ấy, một cách trực tiếp không cần có trung gian, trong tình
thương yêu giữa “Tôi” và “Anh”. Và chính vì thế mà theo Phoiơbắc thì cuối cùng
tình yêu nam nữ là một trong những hình thức cao nhất, nếu không phải là hình
thức cao nhất, của việc thực hành tôn giáo mới của ông.
Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp
thì chủ nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân
đạo trừu tượng, duy tâm.
1.3.2.3. Kiên quyết duy vật trong tự nhiên:
Khi Ông đòi hỏi triết học mới - triết học nhân bản - phải gắn liền với tự
nhiên thì đồng thời đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên mà
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 10 / 17
không chú ý đến mặt xã hội và điều kiện kinh tế xã hội để xem xét mọi hiện
tượng thuộc về con người và xã hội.
1.3.3. Nguyên nhân của hạn chế:
Ăng-ghen đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên: “Đó là lỗi
tại những điều kiện thảm hại ở Đức hồi đó, những điều kiện đã khiến cho những
ghế giáo sư triết học đều do bọn chiết trung chủ nghĩa chuyên giết rệp chiếm đoạt
hết, còn Phoiơbắc, người vượt tất cả những bọn đó một trời một vực, lại buộc
phải nông dân hoá và rầu rĩ trong một làng nhỏ. Nếu như Phoiơbắc vẫn không
tiếp thu được quan điểm lịch sử về tự nhiên… và đã trút bỏ được tất cả cái gì là
phiến diện trong chủ nghĩa duy vật Pháp, thì đó không phải là lỗi tại ông”.
Chính trong điều kiện xã hội và điều kiện sống như thế, nên chủ nghĩa duy
vật của Ông là không biện chứng và về xã hội cũng không thoát khỏi chủ nghĩa
duy tâm cổ truyền. Ăngghen đã trích lời của Phoiơbắc như sau: “Đi lùi lại đằng
1.5. Vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác:
1.5.1. Đánh giá của C Mác và Ănghen:
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 12 / 17
Ăng-ghen chỉ ra rằng: triết học Mác có tiền đề lý luận là triết học của
Hêghen và triết học của Phoiơbắc, trong đó chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là
khâu trung gian giữa triết học của Hêghen và triết học Mác. Do kế thừa những
giá trị triết học trước đó và do khái quát thực tiễn xã hội và nhận thức khoa hoc,
triết học Mác là hình thức phát triển cao của lịch sử triết học.
Khi chỉ ra vai trò to lớn đó của Phoiơbắc trong cuộc đấu tranh chống lại
chủ nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật, Ăng-ghen cũng
khẳng định rằng Phoiơbắc chưa vượt khỏi những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa
duy vật thế kỷ XVIII.
Ăngghen đã đánh giá cao vai trò của Phoiơbắctrong cuộc đấu tranh chống
lại chủ nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật. Ăngghen coi tác
phẩm “Bản chất đạo Cơ đốc” có tác dụng giải phóng và đưa một cách không úp
mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua.
Trong quan hệ với triết học của Hêghen, Ăng-ghen cho rằng, Phoiơbắc có
công lao phê phán chủ nghĩa Hêghen, song thiếu sót lớn của Phoiơbắc trong vấn
đề này là không biết kế thừa hạt nhân hợp lý của triết học Hêghen là phép biện
chứng. “Phoiơbắc đã đập tan hệ thống Hêghen và chỉ đơn giản gạt nó ra một bên
thôi. Song chỉ tuyên bố một triết học nào đó là sai lầm thì chưa có nghĩa là thắng
được nó”. Ăng-ghen cũng đòi hỏi “phải tiêu diệt hình thức của nó bằng phê bình,
nhưng cứu lấy nội dung mới mà nó đã đạt được”.
Sau khi phê phán những hạn chế trong triết học Phoiơbắc, Mác và
Ăngghen đã phát biểu một cách tổng quát quan niệm duy vật lịch sử của mình:
“Triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây chúng ta từ dưới.”
Tuy nhiên hai Ông hoàn toàn không phủ nhận công lao mà Phoiơbắc đã
cống hiến cho Chủ nghĩa duy vật. Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật nhân bản
trị nhất định”
Hai Ông cũng chỉ ra rằng, lịch sử không phải là sự thay thế lẫn nhau của
các hình thức tôn giáo, mà là sự thay thế của các hình thái kinh tế – xã hội và
động lực của lịch sử chính là đấu tranh giai cấp.
Bằng việc khắc phục những hạn chế và kế thừa những giá trị tư tưởng đã
tạo nên một nền Triết học mới – Triết học Mác với Chủ nghĩa duy vật hiện đại.
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 14 / 17
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU
Sau khi nghiên cứu về Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò
của nó đối với sự ra đời của Triết học Mác, nhận thấy rằng tuy quan điểm của
Ông có nhiều hạn chế như điển hình là sự ảo mộng trong tình yêu nhưng chính
cái Ông quá đề caođó lại rất cần trong xã hội hiện nay – tình yêu thương con
người, yêu thương cộng đồng trong xã hội.
Ông đã kêu gọi mọi người vươn tới hạnh phúc bằng cách trau dồi đạo đức,
hạn chế các nhu cầu của mình và ra sức thương yêu người khác. Điều này có vẻ
khó thực hiện được khi con người ngày nay sống vì mục đích của bản thân quá
nhiều, xã hội càng phát triển thì nhu cầu vật chất cũng ngày càng tăng, vì vậy họ
ra sức vun vén cho lợi ích bản thân mà ít nghĩ cho người khác. Họ không biết
rằng yêu thương người khác cũng chính là yêu thương chính bản thân mình.
Bằng việc trải rộng tình thương với những người xung quanh hay cả những
người chưa bao giờ gặp mặt thì niềm vui và hạnh phúc sẽ tự tìm đến mà không
cần phải chạy theo một lợi ích nào đó cho bản thân.
Việc Ông phê phán tôn giáo cũng không nằm ngoài mục tiêu đề cao
tình yêu thương giữa con người với con người. Thay vì dành tình yêu
thương đó cho những năng lực siêu nhiên thần thánh thì con người trước hết
phải thương yêu nhau thực sự ở ngay chốn trần gian, bởi đây mới là những tình
yêu chân chính theo đúng nghĩa của từ này.Một tình yêu không vụ lợi và dùng
tình yêu để xóa bỏ hận thù giữa người với nhau.Và thật sự điều đó đang rất
ngày càng phát triển.
KẾT LUẬN
Sau những nghiên cứu và phân tích Chủ nghĩa Duy vật nhân bản, nhận
thấy rằng một vấn đề đều có ưu và nhược điểm, điều này phụ thuộc vào mức độ
mà vấn đề đó phản ánh. Không nên “thái quá” trong một vấn đề và cần nhìn nhận
nó trong từng tình huống, từng hoàn cảnh. Không nên phủ nhận tất cả mà phải
biết chọn lọc để loại bỏ hết đi cái không hay, cái xấu, giữ lại và phát huy cái hay,
cái tốt.Vì vậy mặc dù triết học của Phoiơbắc có nhiều hạn chế, song bên cạnh đó
là những giá trị mang ý nghĩa lịch sử to lớn. Và C Mác đã biết “gạn đục khơi
trong” bằng việc khắc phục và kế thừa nâng Triết học lên một tầng cao mới với
Kiểm soát vốn trong mối tương quan với điều hành Bộ ba bất khả thi tại
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 16 / 17
Chủ nghĩa duy vật biện chứng. Do đó có thể khẳng định: Chủ nghĩa duy vật nhân
bản Phoiơbắc là một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác, đóng vai
trò quan trọng đối với nền Triết học nói chung và đối với sự ra đời của Triết học
Mác nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS Bùi Văn Mưa, Triết học (phần I,II) “Đại cương về lịch sử Triết học” -
Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên
ngành Triết học, 2011.
2. PGS.TS. Đặng Hữu Toàn, Ăngghen với tác phẩm “Lútvích Phoiơbắc và
sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, tạp chí Triết học số 4, 1995.
3. Mác và Ph.Ăng-ghen, Luận cương về Phoiơbắc, NXB Chính trị quốc gia,
2000
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học
và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Nhà xuất bản
Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.
5. Hệ tư tưởng Đức, Nhà xuất bản sự thật, 1977.
5.1TS Nguyễn Huy Hoàng, Quan điểm của L.Phoiơbắc về văn hóa
Ấn Độ và kinh nghiệm cho Việt Nam