GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 11:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa
Lớp: Cao học đêm 3-khóa 22
Nhóm: 09
HVTH: Huỳnh Trọng Tài
MSHV: 7701220980 TP.HCM, ngày 13 tháng 12 năm 2012 GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 2
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Khái niệm triết học cổ điển Đức để chỉ sự phát triển triết học của nước Đức cuối thế
kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX có ảnh hưởng lớn đối với triết học hiện đại.Trong thời kỳ
này, triết học cổ điển Đức đã sản sinh ra nhiều nhà triết học nổi tiếng. Đặt nền móng đầu
tiên là Cantơ, còn nói đến phép biện chứng là nói đến Hêghen, không thể thiếu đó là chủ
nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc và sau này đỉnh cao là triết học Mác của C.Mác.
Trong triết học cổ điển Đức, nhắc đến Phoiơbắc là nhắc đến một trong những nhà
duy vật, vô thần lớn nhất trong lịch sử triết học cận đại. Đóng góp của triết học Phơiơbắc
là đã đưa chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua. Ông đã giải thích tất cả đặc điểm và tính chất
của con người bằng nguồn gốc tự nhiên của chúng, coi con người là sản phẩm cao nhất
của giới tự nhiên và việc nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người với tự nhiên của ông
nhằm chống lại quan điểm duy tâm trước đó. Quan điểm mới này thế giới quan duy vật
nhân bản đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Mác, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học
Mác, mặc dù Mác vẫn có những ý kiến bảo lưu có tính chất phê phán.
Để hiểu rõ hơn về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc và vai trò của nó tác
động đến chủ nghĩa Mác sau này, đó cũng là lý do em thực hiện đề tài “Chủ nghĩa duy
vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác” GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 4 CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA
DUY VẬT NHÂN BẢN LÚTVÍCH PHOIƠBẮC
1. Sơ lược tiểu sử Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872) sinh ra trong một gia đình luật sư nổi tiếng. Gia đình
ông muốn ông trở thành một luật sư nhưng khi học đại học Phoiơbắc lại học triết học. Do
ông học giỏi nên được giữ lại trường, trở thành phó giáo sư rồi giáo sư. Phoiơbắc đã phát
Phoiơbắc cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên vì con người là
sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ sở không thể thiếu của
đời sống con người. Con người dựa vào giới tự nhiên để được thỏa mọi nhu cầu cần thiết
như ăn, mặc, ở, sinh đẻ…Còn những cái đó đã ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, đam mê,
khát vọng , suy nghĩ, hiểu biết đến mỗi con người. Con người vừa mang bản tính cá nhân
và cũng mang bản tính cộng đồng, có bản chất nằm trong tình yêu.
Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý
trí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung động cảm
xúc. Đó là con người tồn tại bằng xương thịt, đang sống, làm việc, đang yêu, đang nhận
thức như mỗi chúng ta chứ không phải con người trong ý tưởng, con người trừu tượng.
Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một năng lực sáng tạo kỳ vĩ, năng lực này bắt
nguồn từ cá tính cá nhân chứ không phải xuất phát từ Thượng đế.
Do mang bản tính cộng đồng mà mỗi cá nhân bị ràng buộc với những người khác.
Hạnh phúc mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người mà là hạnh phúc
được kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi ngượi trong cộng đồng.
2.2. Quan niệm về nhận thức
Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận thức được và
nhận thức ngày càng đầy đủ thể giới, Phoiơbắc cho rằng giới tự nhiên và con người không
phải lý tính lôgích trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức. Chủ thể của
nhận thức cũng không phải là lý tính lôgich trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại
trong thực tế, có cảm giác và lý trí. Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận,
còn tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý. Chân lý là sự phù hợp
giữa tư tưởng trong chủ thể với đối tượng được tư tưởng khách thể. Nhờ có năng lực của
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 6
cảm giác và lý trí mà con người có khả năng nhận thức đầy đủ giới tự nhiên. Đối với ông,
thực tiễn là hoạt động bản năng mang tính thấp hèn, do đó nó cần được loại bỏ ra khỏi
nhận thức, trục xuất khỏi hệ thống triết học. Ông cũng không hiểu chính hoạt động khoa
Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiến diện, trong
lý giải đổi tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu
thực tiễn và xác định vai trò của nó trong nhận thức và cuộc sống…Đặc biệt, trong xác
định nguồn gốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội, quan điểm của ông còn
đầy tính duy tâm. Thái độ đối với tôn giáo của ông không nhất quán. Điều này thể hiện
như sau:
Do phủ nhận hệ thống duy tâm của triết học Hêghen nên ông phủ nhận luôn phép
biện chứng, ông hiểu rất hời hợt.
Hạn chế là đã tuyệt đối hóa tình yên, coi tình yêu là bản chất con người mà
không chú ý mặt lịch sử-xã hội, không thấy điều kiện chính trị -xã hội mà con người sống
trong đó. Quan niệm con người của ông rất trừu tượng bởi vì nó không mang tính lịch sử,
tính giai cấp, tính dân tộc.
Ông cũng không hiểu chính hoạt động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn,
không thấy vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận thức, sự hoàn thiện con người và
thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, đối với đời sống xã hội nói chung. Không thấy
được vai trò của nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 8
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 9
hội có các giai cấp đối kháng, sự tha hóa con người, mà thậm chí còn làm cho những mâu
thuẫn ấy ngày càng trở nên trầm trọng và không thể kiểm soát.
Thứ hai, sự vận động của xã hội dựa trên các quy luật thị trường tư bản chủ nghĩa
trong khi đơn giản hóa quan hệ xã hội đã đồng thời bộc lộ mặt trái của nó: sự cằn cỗi dần
những phong tục, thói quen và sinh hoạt văn hóa truyền thống, xu hướng thực dụng hóa
ngay cả quan hệ gia đình, huyết thống, sự sòng phẳng đến tàn nhẫn các thang bậc đánh
giá khả năng của cá nhân…
Thứ ba, chủ nghĩa tư bản, theo Mác chẳng những không thể khắc phục mâu thuẩn
giữa tính chất xã hội của nền sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất,
mà còn đẩy mâu thuẩn đó ngày càng gây gắt, không thể dung hòa trong điều kiện kinh tế
thị trường vận hành theo quy luật cạnh tranh tự do.
2.2. Các tiền đề
Tiền đề lý luận của triết học Mác
Tiền đề sâu xa của triết học Mác là toàn bộ tinh hoa tinh thần của nhân loại, mà chủ
yếu là tinh hoa phương Tây được tích lũy trong các học thuyết triết học từ hơn hai ngàn
năm qua, bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại. Triết học Mác là một vòng khâu trong chuỗi các vòng
khâu nối tiếp nhau qua các thời đại, với sự mở rộng không ngừng tri thức triết học trong
mối liên hệ với hoạt động thực tiễn, với khoa học và trình độ nhận thức chung.
Tiền đề trực tiếp của sự ra đời triết học Mác là triết học cổ điển Đức mà cụ thể là
phép biện chứng Hêghen và chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc. Cuộc hành trình tư
tưởng của Mác bắt đầu từ phép biện chứng Hêghen và từ cuối năm 1842 chuyển dần sang
chủ nghĩa duy vật. Hai tác phẩm tác động tích cực đến sự chuyển tiếp này là “Bản chất
Kito giáo”- xb 1841 và “Luận cương sơ bộ về cải cách triết học”-xb 1842 của Phoiơbắc.
Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc là A. Xmit
và Đ. Ricacđô không những làm nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế mà còn là
nhân tố không thể thiếu được trong sự hình thành và phát triển triết học Mác
Tiền đề khoa học tự nhiên
đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Mác như thế nào, mặc dù Mác vẫn có những ý kiến bảo lưu
có tính chất phê phán”. Triết học Phoiơbắc là cầu nối để Mác và Ăngghen xây dựng triết
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 11
học mới chủ nghĩa duy vật biện chứng trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
thống nhất với nhau một cách cơ học giữa chủ nghĩa duy vật của triết học Phoiơbắc với
phép biện chứng Hêghen. Để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã cải tạo cả
chủ nghĩa duy vật cũ, cả phép biện chứng của Hêghen. Mác viết: "Phương pháp biện
chứng của tôi không những khác phương pháp của Hêghen về cơ bản mà còn đối lập hẳn
với phương pháp ấy nữa" Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi phép siêu hình, Mác đã làm
cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự
nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người.
Hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật (chủ nghĩa duy vật biện chứng) và phép
biện chứng (phép biện chứng duy vật) đã gắn liền với tên tuổi Mác, là sự phát triển mới
về chất của lịch sử triết học nói chung, của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng nói
riêng. Với tính cách là những bộ phận hợp thành hệ thống lý luận của triết học Mác, chủ
nghĩa duy vật và phép biện chứng đều có sự biến đổi về chất so với nguồn gốc của chúng
và chủ nghĩa duy vật biện chứng này đã khắc phục được những hạn chế lịch sử của các
bậc tiền bối trước.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 12 CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC
Tất cả các tư tưởng triết học trước Mác đều không giải quyết đầy đủ, đúng đắn và
khoa học về vấn đề con người. Sự ra đời của triết học Mác-Lênin đã tạo ra bước ngoặt
trong tư tưởng của loài người:
Con người là một thực thể sinh vật-xã hội: là thực thể của sinh vật vì con người
cho dù phát triển đến đâu cũng là động vật. Ăngghen khẳng định: “Bản chất cái sự kiện là
con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn
toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật”. Nhưng khác với động vật vì con
người còn là một thực thể xã hội, các hoạt động xã hội trước hết và quan trọng nhất là
hoạt động lao động sản xuất đã tách con người khỏi trạng thái thuần túy là loài vật. Mặt
sinh học và xã hội này thống nhất với nhau, là hai mặt của một chỉnh thể tồn tại trong con
người, tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
Con người là chủ thể của lịch sử: lịch sử trước hết là lịch sử của con người.
Con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử, bản chất con người
không phải trừu tượng, thần bí mà được thể hiện thông qua chính sự tồn tại của con người
trong XH và bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ XH. Chúng có vị trí, vai trò
khác nhau nhưng chúng không tách rời nhau, mà tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn
nhau.
2. Vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Điều kiện lịch sử hình thành con người Việt Nam. Từ sự tác động của môi trường
địa lý, điều kiện tự nhiên đã tạo nên tư duy, văn hóa người Việt Nam, chịu ảnh hưởng
nhiều nên văn hóa: phật giáo (Ấn Độ), nho giáo (Trung Quốc)…Người VN luôn phải đối
chọi với các thế lực tự nhiên và ngoại xâm, điều này đã tạo nhiều tính cách tốt đẹp như
cần cù, chịu khó… nhưng cũng tạo ra những mặt hạn chế như tư tưởng cục bộ địa phương
chủ nghĩa, thiếu tinh thần tự giác, tùy tiện, ít ý thức cộng đồng, không thích tư duy trừu
tượng nhưng lại thích tư duy huyền bí, tâm lý cầu an, thường thấy lợi ích trước mắt mà bỏ
qua lợi ích lâu dài, hạ thấp nhu cầu cá nhân mà quên rằng đây là động lực phát triển xã
hội…
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 14
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Huỳnh Trọng Tài Trang 15
KẾT LUẬN
Phoiơbắc gọi triết học của mình là triết học duy vật nhân bản vì ông ta khẳng định
triết học của ông xuất phát từ con người, con người là trung tâm của triết học. Mặc dù
xuất phát từ nền tảng thế giới quan duy vật cho rằng con người là sự phản chiếu nhận thức
về vũ trụ, là sản phẩm của tự nhiên nhưng con người của ông chỉ được xem xét về mặt
sinh học trong tính cá thể vì vậy con người đó chỉ là bộ phận thụ động trong mối quan hệ
với giới tự nhiên. Phoiơbắccho rằng con người tồn tại vượt ra ngoài các quan hệ xã hội,
con người theo ông là con người phi giai cấp, phi dân tộc, phi lịch sử. Chứng tỏ ông đã
rơi vào duy tâm, siêu hình khi nhận thức về con người và lịch sử.
Về tôn giáo ông cho rằng chỉ là sự tha hóa bản chất của con người. Còn thượng đế
chỉ là tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người mong muốn có. Ông phê
phán tôn giáo là vậy, đặc biệt là Cơ đốc giáo nhưng ông lại rơi vào duy tâm khi càng phê
phán tôn giáo ông càng nhận thức nếu thiếu tôn giáo, con người sẽ khó sống, con người
cần có niềm tin an ủi trước cuộc đời nhiều bất hạnh.Vì vậy ông khai sinh ra một tôn giáo
mới đó là tôn giáo tình yêu, nhấn mạnh bản chất yêu thương, mà ở đó mọi người được tôn
trọng, họ thay nhau làm thượng đế của nhau, ở đó mọi người có chung một bản chất là
cần yêu và được yêu.
Do hiểu rất hời hợt nên ông phủ nhận luôn phép biện chứng của Hêghen. Ông cũng
không hiểu chính hoạt động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn, không thấy vai trò của
thực tiễn đối với hoạt động nhận thức, không thấy được vai trò của nền sản xuất vật chất
đối với sự tồn tại và phát triển xã hội.Dù triết học của Phoiơbắc còn nhiều hạn chế, nhưng không thể phủ nhận những
đóng góp to lớn của ông trong triết học cổ điển Đức, ông đưa chủ nghĩa duy vật trở lại
ngôi vua thể hiện được nguyện vọng của giai cấp tư sản Đức muốn thoát khỏi những hà