Đề tài chủ nghĩa duy vật nhân bản phoiobac và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học mác - Pdf 14

Trường Đại Học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Viện Đào tạo Sau đại học

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHƠIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA
NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Học viên thực hiện: Nguyễn Trọng Nhân
(Học viên học ghép: Đêm 6, QTKD, K20)
Nhóm: 09
Lớp: Đêm 3 – QTKD
Khóa: 22
Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa TP.HCM, tháng 12/2012
LỜI MỞ ĐẦU

Ludwig Andreas Feuerbach, triết gia người Đức, một trong những nhà lý luận

1.Tiểu sử Feuerbach:
- Ludwig Feuerbach (1804-1872) - đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển
Đức, nhà cải cách kiên cường của nền triết học Đức - nhà duy vật và khai sáng.
- L.Feuerbach sinh trưởng trong một gia đình trí thức có tên tuổi. Năm 1823
với mục đích nghiên cứu tôn giáo, Feuerbach vào học tại khoa thần học của trường
đại học Heidelberg, nhưng sau một năm lại rời khoa thần học và chuyển đến Berlin,
nơi Hegel đang giảng triết học. Chẳng mấy chốc Feuerbach trở thành người học trò
nghiêm túc của Hegel.
- Năm 1841 Feuerbach cho ra mắt tác phẩm chính “Bản chất đạo Cơ đốc”, ấn
tượng mà nó đem lại thật to lớn. Những năm tiếp theo ông viết “Luận cương khởi
đầu về cái cách triết học” (1842), “Các luận điểm triết học cơ bản của tương
lai”(1843), Feuerbach đứng bên lề của diễn biến cách mạng 1848, tỏ ra là người thu
động về chính trị, mặc dù hoan nghênh tinh thần dân chủ tư sản của cuộc cách mạng
đó. Thời kỳ cách mạng Feuerbach viết và công bố một vài tác phẩm nhưng chẳng
mấy
ai chú ý.

- Ông mất năm 1872, tức là sau công xã Paris(1871) thất bại.
2.Chủ nghĩa duy tâm của Heghen & những ảnh hưởng đối với FeuerBach.
Phép biện chứng duy tâm của Hêghen là một trong những hình thức cơ bản,
là đỉnh cao trong sự phát triển của phép biện chứng trước Mác, phản ánh hoàn cảnh
lịch sử đặc biệt, đầy mâu thuẫn của xã hội Đức và tính chất hai mặt của giai cấp tư
sản Đức trước cách mạng tư sản. Quan điểm phát triển là tư tưởng cơ bản, xuyên
suốt triết học của Hêghen. Hêghen đã coi sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại dưới
những tên gọi như: “ý niệm tuyệt đối”, “lý tính thế giới”, “tinh thần thế giới” là bản
nguyên của mọi hiện tượng trong giới tự nhiên và xã hội. Sự đồng nhất giữa tư duy
và tồn tại theo Hêghen không phải là sự đồng nhất tuyệt đối, siêu hình, mà là sự
đồng nhất bao hàm sự khác biệt. Chính mâu thuẫn giữa đồng nhất và khác biệt đã

3


đấu tranh chống lại việc giải thích duy tâm, nhị nguyên luận, thậm chí cả chủ nghĩa
duy tâm tầm thường về vấn đề con người. Song, nguyên lý nhân bản học của
Feuerbach không triệt để, vì ông hiểu con người chỉ là những cá nhân trừu tượng, là
thực thể thuần túy tự nhiên - sinh vật. Ông không thấy được mặt xã hội của con
người trong hoạt động biến đổi hiện thực.

5

CHƯƠNG II
NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN FEUERBACH
1. Quan điểm về con người
a. Mối quan hệ của con người với tự nhiên
- Feuerbach cho rằng, con người không phải là sản phẩm của thượng đế như
các nhà thần học quan niệm, nó cũng không phải là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối
như Hêgen nói, mà là sản phẩm của giới tự nhiên, ông viết: "Giới tự nhiên là ánh
sáng, điện từ, từ tính, không khí, nước, lửa, đất, động vật, thực vật, là con người, bởi
vì con người là một thực thể hoạt động thiếu tự chủ và vô thức". Như vậy, sự phát
sinh và tồn tại của con người cũng giống như sự phát sinh và tồn tại của của các hiện
tượng tự nhiên khác, chỉ có điều khác là: con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất
của giới tự nhiên, là một sinh vật bậc cao, có tính vượt trội so với các loài động vật
khác ở đời sống tinh thần của nó.
Toàn bộ mối quan hệ giữa giới tự nhiên và con người phản ánh mối quan hệ
giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, phản ánh tiến trình tiến hoá của sự sống, theo
nghĩa thế giới vô cơ là tiền đề, là cơ sở nền tảng của mọi sự sống nói chung, của đời
sống con người nói riêng.
b. Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại
- Feuerbach cho rằng, con người là một sinh vật có hình thể vật lý -sinh lý ở
trong không gian và thời gian, nhờ vậy nó có năng lực quan sát và suy nghĩ vượt trội
so với các loài sinh vật khác. Bản chất con người là một cái gì đó thống nhất toàn

Trên tinh thần như vậy, ông phê phán các quan điểm cho rằng, tôn giáo là hiện
tượng có tính ngẫu nhiên hoặc có tính bẩm sinh.
Theo Feuerbach, tình cảm tôn giáo cũng như các ý niệm và biểu tượng của nó
luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử xã hội loài người. Tử lập trường của chủ
nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng, trong con người luôn có những ham muốn, nhu
cầu, khát vọng và thái độ ích kỷ. Feuerbach viết "Tôn giáo là sự phản ánh thời thơ
ấu của nhân loại hay trong tôn giáo con người là đứa trẻ. Đứa trẻ không thể thực
hiện ý muốn của mình bằng sức mạnh của nó, phải nhờ đến một tồn tại mà nó cảm

7

thấy lệ thuộc tôn giáo có nguồn gốc xuất hiện, có chỗ đứng chân chính, có ý nghĩa
trong thời thơ ấu của nhân loại".
2.Quan điểm về tự nhiên
Đời sống của người nguyên thuỷ hàng ngày bắt phải tiếp xúc với muôn vàn
sự vật, hiện thể tượng đa dạng của giới tự nhiên như mặt trăng, mặt trời, sấm sét,
bão lụt, giông tố, sông sâu, biển rộng, núi non hiểm trở, rừng rậm, cây cao và lẽ đó
nhiên là con người phải lệ thuộc vào chúng để tồn tại. Từ đó làm phát sinh tâm lý
hay tình cảm trong con người đối với giới tự nhiên: "Điều mục đầu tiên của tôi trong
Bản chất của tôn giáo có thể nói một cách vắn tắt là: cơ sở của tôn giáo là tình cảm
về sự lệ thuộc của con người. Trong ý nghĩa đầu tiên, giới tự nhiên chính là đối
tượng của tình cảm lệ thuộc này. Vì vậy, giới tự nhiên nói chung là khách thể đầu
tiên của tôn giáo".
3.Quan điểm về xã hội
Con người bình đẳng như chính thiên nhiên tạo ra. Vấn đề này trong triết học
cận đại đề cập nhiều, nhưng đến Feuerbach mang thêm nhiều nét đặc trưng, thể hiện
tâm trạng của tầng lớp tiến bộ trong giai cấp tư sản Đức. Nếu con người bình đẳng
với nhau theo bản chất tự nhiên của mình, thì mọi đặc quyền đặc lợi đẳng cấp trên
đều trái với tự nhiên, do đó cần phải loại trừ.
4.Quan điểm về tôn giáo
9

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN

Triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kant, kết thúc bằng Feuerbach. Tuy chỉ tồn
tại trên diễn đàn tư tưởng hơn một thế kỷ, song triết học cổ điển Đức đã có nhiều
đóng góp cho lịch sử triết học nhân loại và gây nên một tiếng vang lớn về phương
diện chính trị - xã hội - giáo dục.
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Feuerbach phản ánh tiếng nói tri ân của thời
đại khai sáng, đang bước sang phần kết của nó - đó là một giai đoạn lịch sử mà con
người vươn lên đòi quyền sống của mình, đòi lại tất cả những gì mình bị chế độ
phong kiến chuyên chế và giáo hội tước đoạt trước đó. Dưới ảnh hưởng của nhiều
trường phái sinh lý học đương thời, Feuerbach đã tiếp cận con người như một thực
thể sinh học, theo ông con người có đầy đủ mọi khát vọng tự nhiên như ăn, uống,
sinh hoạt giới tính, biểu hiện tâm tư tình cảm, ước muốn, những nhu cầu tự nhiên
đó của con người là cơ sở sinh học tạo nên đời sống hiện thực vốn có của nó.
Cũng chính nhờ chủ nghĩa duy vật của Feuerbach đã giúp Mác và Ăngghen
đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ. Mác và Ăngghen
đã cải tạo chủ nghĩa duy vật của Feuerbach phát triển lên một hình thức mới cao
11

MỤC LỤC L
ời mở đầu

Vài nét sơ v


Ch
ủ nghĩa duy vật của Feuerbach
………………………

3

Chương II
: N
ội dung chính của Chủ nghĩa duy vật nhân bản Feuerbach
…… 1.

Quan đi
ểm về con ng
ư
ời
………………………………………………

5

a. M
ối quan hệ giữa con ng
ư
ời với tự nhi
ên

6

2.

Quan đi
ểm về tự nhi
ên
……… ………………………………………

7

3.

Quan đi
ểm về x
ã h
ội
…………………………………………………….

7

4.

Quan đi
ểm về tôn giáo
…………………
……………………………….

7


………………………………………………………….

9

Tài li

u tham kh

o
……………………………………………………………

1
0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status