Đề tài: “Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với con người” pot - Pdf 12



Đề tài: “Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và vai trò của nó đối với con người”
2MỤC LỤC

Mở đầu Trang.
Chương I : Phép biện chứng và khái quát lịch sử phép biện chứng 5
1. Khái niệm phép biện chứng và siêu hình 5
2. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình 6
3. Khái quát lịch sử hình thành phép biện chứng 6
a. Phép biện chứng cổ đại 6
b. Phép biện chứng duy tâm 7
c. Phép biện chứng duy vật 9
Chương II : Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vât 11

pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể, nó xem xét thế giới
như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về
chỉnh thể đó. Và triết học có hai vấn đề cơ bản. đó là: + giữa vật chất và ý
thức cái nào có trước, cái nào có sau, và cái nào quyết định?
+ Ý thức của chúng ta có phản ánh trung thực thế giới quan hay
không?
Và nếu quan hệ giữa vật chất và ý thức, tồn tại và tư duy là vấn đề cơ bản
chi phối đối với bất cứ hệ thống triết học nào thì một vấn đề quan trọng
khác mà triết học quan tâm và muốn làm sáng tỏ là: các sự vật hiện tượng
của thế giới xung quanh tồn tại như thế nào? Chúng hoàn toàn biệt lập với
nhau hay phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau; hoàn toàn ở trong trạng thái tĩnh
ngưng đọng, “ nhất thành bất biến” hay vận động không ngừng? Lịch sử
của triết học cho thấy, mặc dù có nhiều cách trả lời khác nhau về vấn đề
này, nhưng suy cho cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là
biện chứng và siêu hình. Trong đó, qua từng thời kì phát triển của triết học
ta đã thấy được rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng nghiên cứu những quy
luật phổ biên của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài
người và của tư duy, nó cung cấp phương pháp luận khoa học cho con
người nhận thức và cải tạo thế giới, vì lợi ích của mình.
Những lý thuyết về phép biện chứng duy vật không chỉ giúp ta nắm vững
những nguyên tắc phương pháp luận của các khoa học triết học, mà còn 4
cung cấp vũ khí luận sắc bén cho giai cấp vô sản chiến thắng kẻ thù của
chủ nghĩa xã hội. Chính nhờ vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn trung
thành với những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mac-Lenin nói chung
và triết học Mac-Lenin nói riêng. để vận dụng nó vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục thực hiện kế hoạch hiện đại hoá công

+ Phép biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung nhất
của tư duy. Chúng được xây dựng trên hai quan điểm đối lập là quan điểm biện
chứng và quan điểm siêu hình.
+ Phép biện chứng : theo Anghen chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật
phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư
duy.
+ Phép siêu hình:theo Arixtôt siêu hình học là học thuyết về những nguyên tắc và
các bản nguyên tối cao , siêu kinh nghiệm của tồn tại , của nhận thức , của văn hóa
và của con người.

2. Sựđối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
a) Phương pháp siêu hình
. Phương pháp siêu hình đãđóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình
nhận thức giới tự nhiên, phương pháp đó thích ứng với trình độ sưu tập, mô tả của
khoa học tự nhiên.
+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng
ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có ranh giới tuyệt đối.
+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sự biến
đổi thìđó chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm bên
ngoài sự vật.
 Phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện
thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.
b) Phương pháp biện chứng
+ Phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau,
ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I

6
+ Phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm

Chương I

7
- Sự hình thành triết học: triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỷ thứ VI trước
công nguyên trên các cơ sở:
 Do có nhiều biến chuyển kinh tế và chính trị mà một bộ phận của tầng
lớp chủ nô cóđiều kiện chăm lo xây dựng thế giới quan của mình đểđịnh hướng
cho cuộc đấu tranh.
 Do sự phát triển kinh tế, đặc biệt do sự phát triển của lao động và tổ chức lao
động nô lệ.
 Do liên hệ mật thiết với các tri thức khoa học, cuộc đấu tranh tôn giáo,
tín ngưỡng.
 Do vị trí của Hy Lạp cổđại thuận lợi trong giao lưu kinh tế văn hoá với
các nước phương Đông.
+ Đặc điểm: Ngay từ thời bấy giờ, các nhà duy vật biện chứng cổđại đã thấy
rằng sự vật của thế giới xung quanh ta nằm trong một mớ chằng chịt vô tận
những sợi dây liên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau. Nhưng do chưa đạt
đến trình độđi sâu phân tích giới tự nhiên cho nên các nhà biện chứng cổ Hy
Lạp chúýđến sự vận động, đến sự quáđộ từ cái này sang cái khác, đến những
mối liên hệ nhiều hơn là chúýđến cái đang vận động, đang quáđộ vàđang liên hệ
với nhau.
+ Đại biểu:
- Hêraclit(520-460 TCN): nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổđại. Khác với
các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không phải nước, apeirôn, không
khí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi sự vật. “Mọi cái biến đổi
thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng
hóa thành vàng”. Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật mà còn là khởi nguyên
sinh ra chúng . Luận điểm bất hủ của Hêraclit : “Chúng ta không thể tắm hai
lần trên cùng một dòng sông” . Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng
nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau.

của trí tuệ, hoạt động của con người.
- + Đại biểu:
Cantơ:
+ Nét nổi bật trong triết học của Cantơ làđã trình bày những quan niệm biện
chứng của mình về giới tự nhiên. Triết học Cantơ là triết học nhị nguyên. Một
mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các “ vật tự nó” ở bên ngoài con
người. Nhưng mặt khác thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại chỉ là
“ các hiện tượng”… phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức do lý tính tạo ra.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I

9
+ Tính duy tâm trong triết học Cantơ còn thể hiện ở chỗông coi không
gian, thời gian, tính nhân quả cũng như các quy luật của giới tự nhiên không
phải là những cái thuộc bản thân giới tự nhiên, mà là sản phẩm của lý trí tiên
nghiệm, có trước kinh nghiệm.
- Hênghen: Triết học của HênGhen đầy mâu thuẫn Ông đã có công trong việc
phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên,
lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình. Đồng thời trong khuôn khổ của hệ
thống triết học duy tâm của mình, Hênghen không chỉ trình bày các phạm trù như
chất, lượng, phủđịnh, mâu thuẫn…mà còn nói đến cả các quy luật như “ lượng
đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “ phủđịnh của phủđịnh”, và quy luật mâu
thuẫn. Tóm lại, hệ thống triết học của Hênghen là một hệ thống duy tâm, mà thực
chất của nó “làở chỗ lấy cái tâm lý làm điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới
tự nhiên” ( Lênin ). Tuy nhiên, phép biện chứng của Hênghen đã mâu thuẫn với
hệ thống triết học duy tâm của ông và trở thành một trong những nguồn gốc lý
luận của triết học Macxit
c ) Phép biện chứng duy vật
+ Hoàn cảnh:
Điều kiện kinh tế xã hội: Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư

- Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại. Mác và
Anghen đã sáng tạo lên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để,.
- Triết học Mác đã khắc phục được sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và biện
chứng trong các tư tưởng triết học của các giai đoạn trước.
- Sự ra đời của triết học Mác đã làm cho vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí
của triết học trong hệ thống tri thức khoa học được nâng cao.
- Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh
tự giải phóng mình, tạo nên bước chuyển về chất của phong trào từ trình độ tự phát
lên trình độ tự giác.
- Triết học Mác là thế giới quan của khoa học và phương pháp luận chung, cần thiết
cho sự phát triển của tất cả các môn khoa học.
+ Đại biểu:
- Mác vàĂnghen : chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử do
Mác vàĂnghen sáng lập là thành tựu vĩđại nhất của tư tưởng khoa học.
+Triết học Mác trở thành thế giới quan khoa học để tiếp tục phát triển
khoa học và cải tạo thực tiễn . C.Mác đã phê phán phép biện chứng duy tâm của
Heghen một cách sâu sắc. Mác cho rằng sai lầm chủ yếu của Hêghen làở chỗông
quan niệm mâu thuẫn của hiện tượng như sự thống nhất trong bản chất, trong tư
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I

11
tưởng, trong khi bản chất của mâu thuẫn này tất nhiên là một cái gìđó sâu sắc
hơn , cụ thể là mâu thuẫn bản chất. Mác vàĂnghen đã cải tạo một cách duy vật
phép biện chứng duy tâm của Hêghen .Hai ông không chỉ thoả mãn với việc cải
tạo duy vật phép biện chứng duy tâm màđồng thời cũng tiến hành cải tạo một
cách biện chứng chủ nghiã duy vật siêu hình trước đó . Mác vàĂnghen đã liên
kết đã gắn bó, không tách rời chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng.
Phép duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với đời sống con người
Chương II

đó nhất định phải xem xét nó trong các mối liên hệ xác định
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

13
- Mỗi một sự vật luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến
đổi tác động tới nó.
- Mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng khách quan tất yếu tác động
đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…
- Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thì các
mối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò
- + ý nghĩa:
Từ những nội dung trên có thể thấy: chỉ có thể nhận thức đúng và giải quyết một
cách có hiệu quả các vấn đề thực tiễn một khi thực hiện nguyên tắc toàn diện và
lịch sử cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi
 Nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề nào cũng cần phải trên nhiều
mặt, nhiều mối liên hệ khách quan của nó, tránh phiến diện, tránh siêu hình
trong giải quyết các vấn đề.
 Trong các điều kiện xác định cần đánh giáđược vị trí vài trò khác nhau
của các mặt, các mối quan hệ
Trong giải quyết vấn đề thực tiễn cũng đòi hỏi phải xác định được những
vấn đềở tầm chiến lược và sách lược hoặc cần xác định được những nhiệm vụ
trọng tâm và trọng điểm
b ) Nguyên lý về sự phát triển
+ Khái niệm:
- Phát triển là những quá trình biến đổi với 3 đặc trưng sau:
 Sự biến đổi về chất ở trình độ mới cao hơn
 Quá trình biến đổi về mặt cơ cấu tổ chức hệ thống và về cơ chế phương
thức hoạt động của hệ thống
 Là sự biến đổi diễn ra một cách toàn diện hoá.

a ) Cái riêng và cái chung
+ Khái niệm cái riêng và cái chung
- Cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình
- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không
những cóở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật,
hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
+ Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
- Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng, nhờ có cái riêng cái chung nói lên sự
tồn tại của nó nhưng sự tồn tại của cái chung chỉđược nhận biết bằng kết quảcủa
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

15
quá trình tư duy của quá trình khái quát hoá, còn sự tồn tại của cái riêng có thể
nhận biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giác quan.
- Cái riêng bao giờ cũng liên hệ với cái chung bằng cách này hay cách khác. Ví dụ
mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi con người không thể tồn tại ngoài mối
liên hệ với xã hội và tự nhiên. Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các
quy luật sinh học và quy luật xã hội
- Cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng được tách ra khỏi cái riêng vì thế cái
chung bao giờ cũng lệch lạc, phiến diện còn cái riêng là cái phong phú, đầy đủ,
toàn bộ. Nhờ những yếu tốđơn nhất, cá biệt đó chúng ta mới phân biệt được sự
khác nhau giữa những sự vật hiện tượng. Tuy vậy cái chung sâu sắc hơn cái riêng
vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệổn định, tất nhiên, lặp
lại ở nhiều cái riêng cùng loại.
- Cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện nhất
định. Sự chuyển hoá này được thực hiện thông qua mối quan hệ cái cá biệt và cái
phổ biến.
+ ý nghĩa:
- Giữa cái chung và cái đơn nhất có sự chuyển hoá lẫn nhau. Chính vì vậy

trước kết quả sản sinh ra kết quả. Nguyên cớ có trước kết quả nhưng không sản
sinh ra kết quả
Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn cho nhau. Cùng một sự vật một
hiện tượng khi đặt trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng khi đặt trong quan
hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
 Cần phân biệt sự khác nhau của quan hệ nhân quả với vòng tuần hoàn. Liên hệ
nhân quả có quan hệ sản sinh còn vòng tuần hoàn chỉ là sự lặp lại cái cũ sau một
khoảng thời gian vận động biến đổi nào đấy.
+ ý nghĩa
- Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ cơ bản và quan trọng, thường gắn liền với
đặc trưng bản chất của sự vật, hiện tượng.
- Mối liên hệ nhân quả thể hiện trong thực tế rất phức tạp vàđa dạng, cùng một sự
biến đổi xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy muốn giải quyết
một vấn đề nào đó, trước hết và sau cùng phải xét từ nguyên nhân cơ bản để có
biện pháp giải quyết đúng đắn, thích hợp.
- Một hiện tượng trong mối liên hệ này là kết quả trong mối quan hệ khác là
nguyên nhân. Cho nên, trong nhận thức cũng như hành động cần phải xem xét
hiện tượng một cách toàn diện và tích cực, chống lại những quan niệm siêu hình
áp đặt về mối quan hệ nhân quả.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

17
- Muốn tác động vào sự vật phải tác động vào nguyên nhân của chúng theo
những hình thức phù hợp, và biết khai thác vận dụng kết quảđãđạt được để nâng
cao nhận thức, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của sự vật. Cần phải phân biệt rõ
nguyên nhân và nguyên cớđể tác động vào đúng nguyên nhân.
c ) Tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên
- Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu

nhiên. Cho nên chỉ có thể vạch ra được cái tất nhiên bằng cách nghiên cứu rất
nhiều cái ngẫu nhiên. Bản thân cái ngẫu nhiên cũng không tồn tại một cách
thuần tuý mà bao giờ cũng là hình thức trong đóẩn giấu cái tất nhiên. Vì vậy nếu
không hiểu đúng về mối liên hệ biện chứng này, chúng ta sẽ rơi vào thuyết định
mệnh, biến hoạt động thực tiễn có mục đích của con người thành trò chơi của số
phận, của định mệnh, làm cho khoa học đi vào con đường thần bí, biến khoa học
thành công cụ của tôn giáo. Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có
thể chuyển hoá thành cái ngẫu nhiên và ngược lại, cho nên tuỳ theo yêu cầu của
hoạt động thực tiễn mà có thể tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy hoặc
ngăn trở sự chuyển hoáđó.
d ) Nội dung và hình thức
+ Khái niệm nội dung và hình thức
- Nội dung là phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá
trình tạo nên sự vật và những quá trình biến đổi diễn ra trong sự vật đó.
- Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ
thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
+ Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
- Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Nội dung bao giờ cũng có
hình thức thể hiện và hình thức bao giờ cũng chứa đựng một nội dung nhất định.
Không có nội dung và hình thức thuần tuý tách rời nhau. Một nội dung có
thểđược thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và nhiều nội dung có thểđược
thể hiện bằng một hình thức nhất định.
- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động và
phát triển của sự vật. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức nội dung
thường xuyên biến đổi còn hình thức tương đối ổn định. Sự biến đổi của nội dung
đến một trình độ nào đấy sẽ mâu thuẫn với hình thức hiện có. Để giải quyết mâu
thuẫn cần xoá bỏ hình thức cũ, thiết lập hình thức mới để mởđường cho nội dung
tiếp tục phát triển
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộở những hiện tượng khác nhau. Bản
chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo. Khi bản chất biến
mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất theo.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

20
- Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
 Mâu thuẫn giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Bản chất là cái bên
trong khó thấy và chỉđược nhận biết bằng kết quả của tư duy còn hiện tượng là
những cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.
 Bản chất tương đối ổn định còn hiện tượng thường xuyên biến đổi
 Bản chất thì sâu sắc còn hiện tượng thì phong phú. Trong tổng số hiện
tượng mà sự vật có sẽ có những hiện tượng không thuộc về bản chất, nằm ngoài
bản chất thậm chí trong một số trường hợp hiện tượng có thể phản ánh không
đúng bản chất, sai lệch bản chất.
+ ý nghĩa:
- Do hiện tượng biểu hiện bản chất dưới những dạng khác nhau thậm chí có hiện
tượng biểu hiện một cách sai lệch bản chất do tác động của những hoàn cảnh
nhất định. Vì vậy không nên đồng nhất hiện tượng với bản chất. Muốn nhận
thức về sự vật đúng đắn, khoa học không nên xem xét ở một vài hiện tượng
riêng lẻ, phiến diện mà phải phân tích một cách tổng thể các hiện tượng để
không mắc phải những kết luận sai lầm, chủ quan, tuỳ tiện.
f ) Khả năng và hiện thực
+ Khái niệm khả năng và hiện thực
- Hiện thực là phạm trù chỉ những cái đang tồn tại trên thực tế.
- Khả năng là phạm trù chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trên thực tế, nhưng sẽ
xuất hiện, sẽ tồn tại thực sự khi có các điều kiện tương ứng.
+ Đặc điểm:
- Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách

học. Chất không chỉ được tạo nên từ các nhân tố cấu thành sự vật mà còn được tạo
nên từ cách sắp xếp nhân tố ấy.
Lượng: mỗi sự vật được tạo nên bởi một số lượng các yếu tố xác định, tồn tại với
một quy mô xác định đồng thời sự vận động và phát triển của nó cũng diễn ra với
những tốc độ, với những chu kỳ nhịp điệu biến đổi nhất định. Tất cả những phương
diện đóđược gọi chung là lượng của sự vật.
Độ: là khoảng giới hạn mà trong đó những biến đổi về lượng chưa dẫn tới những
biến đổi căn bản về chất.
Điểm nút: là giới hạn mà tại đó những biến đổi về lượng trực tiếp dẫn đến những
biến đổi về chất.
Bước nhảy: là quá trình biến đổi về chất tại điểm nút. Trong thực tế có nhiều hình
thức bước nhảy khác nhau.
 Bước nhảy cục bộ và bước nhảy toàn bộ:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

22
Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt những
yếu tố riêng lẻ của sự vật, là tiền đề cho bước nhảy toàn bộ.
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt các
yếu tố cấu thành sự vật, nó hoàn thiện cho bước nhảy cục bộ.
 Bước nhảy lớn và bước nhảy nhỏ:
Bước nhảy lớn là bước nhảy làm thay đổi thuộc tính căn bản của sự vật
Bước nhảy nhỏ là bước nhảy làm thay đổi thuộc tính không cơ bản của sự
vật.
+ Nội dung quy luật:
Tổng quát: Chất và lượng là những phương diện cùng tồn tại trong bất kỳ một sự vật
nào. Chúng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau. Vì vậy những biến đổi về lượng bao
hàm những biến đổi về chất và ngược lại.
Ở đây có hai trường hợp xảy ra:

Mặt đối lập: dùng để chỉ tất cả những gì có tính chất có hướng vận động trái ngược
nhau, khuynh hướng phủđịnh nhau, bài trừ nhau
- Thống nhất là khái niệm dùng để chỉ sự quy định lẫn nhau, là tiền đề tồn tại của
nhau giữa các mặt đối lập.
- Đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối
lập. Ví dụđấu tranh giai cấp
+ Nội dung quy luật
- Mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình trong tự nhiên xã hội cũng như nhận thức,
tư duy luôn luôn bao hàm những mâu thuẫn của nó. Sở dĩ như vậy vì tính chất đối lập
là phổ biến khách quan. Mặt khác căn cứ vào mối liên hệ phổ biến tất cả luôn luôn
trong tính quy định nhau.
Vai trò của mâu thuẫn:
-Mọi quá trình vận động và phát triển trong tự nhiên xã hội cũng như trong tư duy
luôn có nguồn gốc động lực cơ bản nhất, xuất phát từ mâu thuẫn khách quan vốn có
của nó. Vì suy đến cùng nguyên nhân của mọi biến đổi, mọi sự phát triển chính từ
những sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Mà trong đó tương tác của mặt đối lập là
nguồn gốc cơ bản nhất, động lực cơ bản nhất.
- Mỗi sự vật có nhiều mâu thuẫn khác nhau. Theo Lênin: “ sự vật là tổng số mâu
thuẫn” và các loại mâu thuẫn đó giữ vị trí vai trò khác nhau với tư cách làđộng lực,
nguồn gốc của sự phát triển.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối còn sự thống nhất giữa các mặt đối lập có
tính tương đối tạm thời.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II

24
+ ý nghĩa
- Vì mâu thuẫn là khách quan phổ biến do vậy đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn phải tôn trọng mâu thuẫn vốn có của sự vật.
- Vì mâu thuẫn là nguồn gốc động lực của sự phát triển do vậy trong công tác thực

Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn, để thực hiện các quá trình phát triển
nhất định phải thực hiện phủđịnh biện chứng chứ không phải phủđịnh siêu hình.
Trong đó có hai nguyên tắc cơ bản:
 Trong nhận thức cần phải nghiên cứu và phát hiện nhu cầu phát triển
khách quan của sự vật. Trong thực tiễn phải tạo được điều kiện thích hợp để
thực hiện nhu cầu ấy.
 Trong nhận thức phát hiện được yếu tố cần có sự kế thừa. Và trong thực
tiễn phải tạo ra những cơ chế, cách thức để thực hiện sự kế thừa nội dung cũ
nhưng tái tạo nội dung cũ thành nội dung mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status