Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Giảng viên phụ trách : TS. BÙI VĂN MƯA
Học viên thực hiện : TRƯƠNG PHÚ TRÍ
Stt : 74
Nhóm : 9
Lớp : Cao học Ngày 4
Khóa : 22
TP.HCM, tháng 12/2012
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Kết luận
Tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
Đặt chân vào nền triết học cổ điển Đức giai đoạn từ thế kỷ XVII – đầu thế kỷ
XIX, chúng ta bắt gặp hàng loạt các triết gia nổi bật như Imanuen Căntơ,
G.Phichto hay Hêghen với các công trình triết học khác nhau nhằm đóng góp
xây dựng một hệ thống triết học vạn năng. Trong số đó không thể không kể đến
Phoiơbắc – một triết gia từng được xem như là một lý tưởng Đức bị ảnh hưởng
sâu sắc bởi người thầy Hêghen, đồng thời cũng là bậc tiền bối của triết học Mác.
Người đã viết chương cuối cùng hùng tráng trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và
vô thần để kết thúc bản giao hưởng “Triết học cổ điển Đức”.
Tư tưởng duy vật của Phoiơbắc có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới quan triết
sau ông tách khỏi trường phái này, trở thành người phê phán hệ thống của
Hêghen, xây dựng hệ thống triết học duy vật riêng của mình. Các tác phẩm
triết học lớn của ông là “Phê phán triết học Hê-ghen” (1839), “Bản chất của
đạo Ki- tô” (1841), “Những nguyên lý cơ bản của
triết học tương lai” (1843), “Bản chất của cơ
đốc giáo”, “Lịch sử triết học”. Trong các tác phẩm này PhoiơBắc luận chứng
cho những quan điểm duy vật của ông.
Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật nhân bản. Theo ông, con
người là đối tượng của triết học mới, và khoa học nghiên cứu bản chất của con
người là nhân bản học, nên triết học mới đó phải là triết học nhân bản, phải là
khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi ngành khoa học.
2. Chủ nghĩa duy vật nhân bản
2.1. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật nhân bản
Ở Đức cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX, triết học cổ điển Đức đã tiếp tục phát
huy truyền thống duy lí của phương Tây, khôi phục lại quan niệm coi triết học
là khoa học của mọi khoa học. Các triết gia ra sức xây dựng các hệ thống triết
học vạn năng, bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người để làm cơ sở
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
cho những hoạt động đó. Mặt tích cực là họ đã tiếp thu những tư tưởng biện
chứng quý báu trong di sản triết học truyền thống của nhân loại, phát triển
thêm và xây dựng được phép biện chứng như một học thuyết triết học về mối
liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong thế giới. Bên cạnh đó, do quan
điểm duy tâm chi phối mà nhiều triết gia của nền triết học này hiểu thực tiễn
chỉ là hoạt động sáng tạo của ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa ý thức, biến ý
thức thành một lực lượng siêu nhiên có năng lực sáng tạo kì vĩ, vì vậy, triết học
của họ mang tính duy tâm.
Sau khi Hêghen mất, những người theo học thuyết Hêghen đã phân hóa thành
hai nhóm là “Hegel trẻ” và “Hegel già”. Phái Hêghen già thì bám lấy mặt bảo
thủ của hệ thống Hêghen, bảo vệ chế độ nhà nước Phổ đã lỗi thời về mặt lịch
tồn tại, Phoiơbắc khẳng định chỉ có thể giải quyết vấn đề vật chất –tinh thần
trong nhân nhân bản học, quy các vấn đề triết học thành các vấn đề quan hệ
giữa các ngành khoa học nghiên cứu giải phẫu và sinh lý, cấu trúc và chức
năng. Chân lý, theo Phoiơbắc , không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa
duy tâm… chân lý chỉ có thể là nhân bản học, tức học thuyết về con người.
Trên là những điều kiện kịch sử và tiền đề cho sự ra đời của triết học nhân bản
Phoiơbắc. Nội dung chi tiết sẽ được giới thiệu trong phần tiếp theo.
2.2. Những tư tưởng của chủ nghĩa duy vật nhân bản
2.2.1. Quan điểm về con người
Phoiơbac cho rằng không thể tách rời con người ra khỏi giới tự nhiên, vì con
người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ
sở không thể thiếu của đời sống con người. Do đó, theo Phoiơbắc, con người
vừa mang bản tính cá nhân, và con người – cá nhân cũng mang bản tính cộng
đồng, có bản chất nằm trong tình yêu.
Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt
có lý trí, có ý chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam
mê, để rung động cảm xúc… Phoiơbắc cho rằng đó là những con người bằng
xương, bằng thịt đang sống và làm việc, là chính bản thân chúng ta chứ không
phải là con người trong trí tưởng tượng. Với bản tính đó, mỗi con người tiềm
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
tàng một năng lực sáng tạo kỳ vĩ, năng lực này bắt nguồn từ trong cá tính cá
nhân của mỗi con người, chứ không phải xuất phát từ Thượng đế.
Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với
những người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc
của mỗi con người mà là hạnh phúc được tìm kiếm trong sự hòa hợp với mọi
người, trong cộng đồng. Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một tình yêu
mênh mông dành cho con người, tình yêu cũng tuôn trào từ bản tính cộng
đồng của con người chứ không phải bắt nguồn từ Thượng đế.
Phoiơbắc cho rằng tình yêu giữa con người với nhau vừa là phương tiện vừa
nhận thức của con người"
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng
con người thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa
con người để dễ dàng thống trị nó. Tôn giáo không chỉ kìm hãm mà còn tước đi ở
con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và năng lực phán xét. Ông đòi hỏi
phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo- tín ngưỡng- thượng đế, hoặc là khoa học nhân
bản- tình yêu- con người.
Thực ra "bản chất thần thánh không là cái gì khác, mà là bản chất của con người,
nhưng đã được tinh chế, khách quan hoá, tách rời với con người hiện thực bằng
xương, bằng thịt".
Tóm lại, tôn giáo là bản chất của con người đã bị tha hoá. "Thánh thần của con
người có trong tinh thần và trái tim của anh ta". (L.Phoiơbắc: tuyển tập triết học.
Matxcơva 1957. T.2. tr. 42 - 43- Tiếng Nga).
Những quan niệm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản đã chỉ ra nguồn gốc tâm lý,
tình cảm và tâm linh của con người đối với tôn giáo, đồng thời cho thấy nội dung
nhân bản trong các quan niệm thần thánh nhưng chưa đề cập đến những cơ sở
kinh tế chính trị- xã hội và văn hoá của vấn đề.
Tuy phê phán kịch liệt tôn giáo, nhưng Phoiơbắc thực tế chỉ phê phán Cơ đốc
giáo. Còn tôn giáo nói chung, theo ông, vẫn là điều cần thiết đối với đời sống con
người. Cho nên thay vào Cơ đốc giáo, con người "cần một tôn giáo mới", vì chỉ
có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong
cuộc đời con người. Mặc dù sự an ủi trên là giả dối nhưng chúng ta không thể
làm gì khác và phải chấp nhận sự dối trá đó. Đúng như Engel nhận xét rằng
"Phoiơbắc hoàn toàn không muốn xoá bỏ tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn
giáo. Ngay cả triết học cũng phải hoà vào tôn giáo. Thứ tôn giáo mà Phoiơbắc đề
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
cao hiểu theo nghĩa của ông là tôn giáo tình yêu, là quan hệ thân thiện giữa người
và người. Tôn giáo tình yêu của Phoiơbắc dựa trên triết học nhân bản của ông.
Ông cho rằng nó phản ánh được cái gì đó vĩnh hằng trong con người. Vì vậy, nó
phán chủ nghĩa duy tâm chủ quan Phíchtơ do sự tuyệt đối hoá cái Tôi, cho dù đó
là cái Tôi dân tộc đi chăng nữa. Lần nữa Phoiơbắc khẳng định, không có cái Tôi
trừu tượng, mà chỉ có những con người bằng xương, bằng thịt - sản phẩm hoàn
thiện tư tưởng cải cách trong lý luận về con người – vấn đề chủ đạo của thuyết
nhân bản, hay nhân loại học.
Cùng với Hêghen, triết học Phoiơbắc là tiền đề lý luận của triết học Mác
Tư tưởng duy vật của Phoiơbắc có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới quan triết
học của Mác và Ăngghen lúc bấy giờ và “là khâu trung gian” giữa triết học của
Hêghen và triết học của hai ông. Các quan điểm của Phoiơbắc về con người, tôn
giáo rất được sự ủng hộ của Mác, mặc dù không phải là tuyệt đối. Sử dụng tính
duy vật khả tri và nhân bản trong triết học Phoiơbắc, Mác đã khởi nguồn tư
tưởng triết học của mình.
3.2. Hạn chế
Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, còn nhiều
quan niệm siêu hình phiến diện trong lý giải đối tượng triết học, trong phân tích
bản chất con người,…Đặc biệt, trong việc xác định nguồn gốc, động lực phát
triển và phương tiện cải tạo xã hội, quan điểm của Phoiơbắc còn đầy tính duy
tâm. Thái độ đối với tôn giáo của ông cũng không nhất quán. Tất cả chúng được
thể hiện như sau:
Phủ nhận phép biện chứng
Phương án cải cách của Phoiơbắc không tránh khỏi những ảo tưởng, do chịu sự
tác động của thời đại mình. Trong triết học tự nhiên, sự cải cách của Phoiơbắc
chỉ thể hiện được một nửa. Trước hết, trong khi phê phán triết học tư biện, duy
tâm của Hêgen, Phoiơbắc đã không biết kế thừa hạt nhân hợp lý của triết học
Hêghen là phép biện chứng.
Đề cao con người nhưng quan niệm con người của ông rất hời hợt
Cách tiếp cận giá trị luận về con người của Phoiơbắc là cần thiết, nhưng chưa
đủ cơ sở đề lý giải bản chất thực sự của con người. Phoiơbắc lấy con người làm
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Khi xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan- đỉnh cao của nền triết
học cổ điển Đức, Hêghen đã trình bày đầy đủ và chặt chẽ hệ thống các tư
tưởng biện chứng theo tinh thần duy tâm. Bằng thiên tài của mình, C.Mác và
Ăngghen đã cải tạo triệt để phép biện chứng duy vật để nó đóng vai trò công
cụ tinh thần nhận thức các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, Phoiơbắc tìm hiểu các vấn đề về con người
và xây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản. Ông coi con người, với tư cách là
thực thể của giới tự nhiên, là đối tượng nghiên cứu của triết học. Ông đối lập
chủ nghĩa duy vật nhân bản của mình với triết học duy tâm biện chứng của
Hêghen trên cả hai bình diện là bản thể luận và nhận thức luận, đồng thời đòi
vứt bỏ chủ nghĩa duy tâm và cả phép biện chứng của Hêghen… C.Mác và
Ăngghen đã đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời
cũng phê phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông. Chính C.Mác và
Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu
và hạn chế của triết học Phoiơbắc, và dựa trên hệ thống triết học này để xây
dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình.
Sự ra đời của triết học Mác còn xuất phát từ những giá trị mà nhân loại đạt
được trong lĩnh vực kinh tế chính trị học Anh (đại biểu là A.Xmít và Đ.
Ricardo), chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh (đại biểu là Xanh
Ximông, S.Phurie, R.Ooen). Nhờ những giá trị tư tưởng trong các lĩnh vực này
mà C.Mác và Ăngghen thấy rõ nền tảng vật chất của sự phát triển lịch sử xã
hội, sáng tạo nên quan điểm duy vật về lịch sử và dự báo về chủ nghĩa xã hội
hiện thực trong tương lai.
5. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản đối với sự ra đời của triết học
Mác
5.1. Quan điểm của Mác- Ăngghen đối với chủ nghĩa duy vật nhân bản
Trong phần III của tác phẩm “ Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học
cổ điển Đức” được Ăngghen viết vào năm 1886 nhằm bảo vệ và phát triển chủ
cho rằng: trong thực tế mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo
đức riêng của mình và đều vi phạm đạo đức ấy. Như vậy, quan niệm về đạo
đức của Phoiơbắc vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng, vì ông hiểu con người
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
một cách trừu tượng phi lịch sử, không thấy con người là sản phẩm của xã hội,
của lịch sử và con người là chủ thể của hoạt động. Điều đó biểu hiện trong
nhận xét rất chính xác của Ăngghen rằng, Phoiơbắc “bám hết sức chặt lấy giới
tự nhiên và con người; song đối với ông, cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là
những danh từ mà thôi. Ông không biết nói với chúng ta một cái gì chính xác
về tự nhiên hiện thực, cũng như về con người hiện thực”.
Trên cơ sở phê phán một cách khoa học triết học của Hêghen và triết học của
Phoiơbắc, Ăngghen đã chỉ ra cho chúng ta thực chất cuộc cách mạng trong
lịch sử triết học do Mác và Ăng-ghen thực hiện.
5.2. Đánh giá vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản đối với sự ra đời của
triết học Mác
Ăngghen đã chỉ ra sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng là kết quả của
quá trình cải tạo căn bản phép biện chứng của Hêghen và khắc phục tính
phiến diện, không triệt để của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.
Phép biện chứng duy vật đã kế thừa tất cả yếu tố tiến bộ của các hình thức
trước của nó, trong đó trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen. Nhưng phép
biện chứng của chủ nghĩa Mác hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của
Hêghen. Ăngghen viết: “Ở Hêghen, sự phát triển biện chứng biểu hiện trong
giới tự nhiên và trong lịch sử… chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của ý
niệm, một sự tự vận động diễn ra vĩnh viễn, không biết ở đâu, nhưng dù sao
cũng độc lập đối với mọi bộ óc đang tư duy của con người. Sự xuyên tạc có tính
chất tư tưởng hệ ấy là cái cần phải gạt bỏ. Chúng tôi lại xem xét một lần nữa
một cách duy vật rằng những ý niệm trong đầu óc của chúng ta, coi đó là
những phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không xem xét những sự vật hiện
thực, coi đó là những phản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của ý
của chủ nghĩa duy vật lịch sử với các quy luật tự nhiên – đối tượng nhận thức
của các khoa học tự nhiên. Trong giới tự nhiên, các quy luật diễn ra tự động,
bên ngoài ý thức của con người trái lại các quy luật xã hội diễn ra thông qua
hoạt động có ý thức của con người. Nhưng cũng giống với các quy luật tự
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
nhiên, quy luật xã hội cũng bị chi phối bởi vô số những ngẫu nhiên. Thông qua
vô số ngẫu nhiên đó, chúng ta phát hiện ra quy luật nội tại bị che giấu.
Ăngghen cũng chỉ ra đặc trưng của các quy luật xã hội. Ông cho rằng: “Con
người làm ra lịch sử của mình… bằng cách là mỗi người theo đuổi những mục
đích riêng, mong muốn một cách có ý thức, và chính kết quả chung của vô số
những ý muốn tác động theo nhiều hướng khác nhau đó và của những ảnh
hưởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới bên ngoài đã tạo nên lịch
sử”.
Tiếp theo, Ăngghen xem xét đến một vấn đề rất quan trọng của chủ nghĩa duy
vật lịch sử, đó là vấn đề động lực của lịch sử. Theo Ăngghen, chủ nghĩa duy vật
cũ không bao giờ đặt vấn đề đó ra cả vì vậy quan điểm của họ về lịch sử, “về
bản chất, là quan điểm thực dụng chủ nghĩa; nó đánh giá mọi cái theo động cơ
của hành động”. Ăngghen đã phê phán quan điểm trên và cho rằng: “Chủ
nghĩa duy vật cũ không trung thành với bản thân mình, vì nó coi những động
lực lý tưởng tác động trong lĩnh vực lịch sử là những nguyên nhân cuối cùng,
chứ không nghiên cứu xem cái gì ẩn sau những động lực đó và những động lực
của những động lực đó là những gì”.
Hêghen cũng có công lao đặt ra vấn đề này, song, theo Ăngghen – Hêghen lại
không tìm động lực đó ở trong bản thân lịch sử mà lại “du nhập những động
lực đó ngoài, từ hệ tư tưởng triết học, vào trong lịch sử”.
Đối lập với quan điểm của chủ nghĩa duy vật cũ và chủ nghĩa duy tâm của
Hêghen, Ăngghen cho rằng để xác định động lực thực tế cuối cùng của lịch sử
thì không thể nghiên cứu những động cơ của các cá nhân, mà phải nghiên cứu
“những động cơ của những người đã lay chuyển những quần chúng đông đảo,
tế, là yếu tố quyết định”.
Nếu như nhà nước và công pháp là do các quan hệ kinh tế quyết định thì tư
pháp cũng thế, vì tư pháp, theo Ăngghen, về bản chất, chỉ xác nhận những
quan hệ kinh tế hiện có và “những quy tắc của pháp luật tư bản chỉ là sự biểu
Trương Phú Trí
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
hiện – dưới một hình thức pháp lý – của những điều kiện sinh hoạt kinh tế của
xã hội”.
Về vấn đề chính trị và hệ tư tưởng chính trị cũng vậy, nhưng dường như trong
thực tế ý thức về mối liên hệ giữa chính trị và hệ chính trị với cơ sở kinh tế bị
mờ dần đi và thậm chí có thể hoàn toàn biến mất. Còn trong hệ tư tưởng cao
hơn, xa hơn cơ sở kinh tế như triết học và tôn giáo, thì do những khâu trung
gian mà mối liên hệ đó bị lãng quên. Song dù sao, theo Ăngghen, “mối quan hệ
đó vẫn tồn tại” và những tư tưởng triết học từ thế kỷ XV trở đi qua triết học
Pháp, triết học Anh và đến triết học của Hêghen đều phản ánh sự phát triển
của giai cấp tư sản.
Về tôn giáo, Ăng-ghen cho rằng tôn giáo là hình thái ý thức xã hội xa đời sống
vật chất hơn cả và hình như nó xa lạ với đời sống vật chất. Nhưng thực ra xét
đến cùng, tôn giáo cũng như các hình thái ý thức xã hội khác đều gắn liền với
những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người. Để làm rõ luận điểm ấy,
Ăngghen chỉ ra sự phát triển của tôn giáo có nguồn gốc ban đầu nguyên thuỷ
của nó “từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thuỷ của con người về bản
chất của chính họ và về giới tự nhiên bên ngoài xung quanh họ”. Khi xem xét
tôn giáo phát triển từ tôn giáo dân tộc thành tôn giáo thế giới, đạo Cơ đốc
phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang xã hội phong kiến, sự ra đời của giai
cấp tư sản gắn liền với cải cách tôn giáo, đạo Tin lành ra đời đối lập với đạo
Thiên chúa phong kiến, Ăngghen đi đến kết luận: “Tôn giáo, một khi đã hình
thành, luôn luôn chứa đựng một chất liệu truyền thống, cũng như trong tất cả
các lĩnh vực tư tưởng, truyền thống là một lực lượng bảo thủ lớn. Song những
sự biến đổi xảy ra trong chất liệu đó, đều nảy sinh ra từ những quan hệ giai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. TS Bùi Văn Mưa, Triết học (phần I) “Đại cương về lịch sử Triết học” -
Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành Triết
học, 2011.
[2]. K. Marx và F. Engels toàn tập. Tập 3 (1845-1847) – NXB Chính trị quốc
gia, 1995- Feuerbach sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật.
[3]. GS, PTS Nguyễn Trọng Chuẩn- Quan niệm của Hêghen về bản chất của
triết học- Tạp chí triết học.
[4]. Nguyễn Huy Hoàng- Quan điểm của Phoiơbắc về văn hóa và con người-
Bài tạp chí triết học từ năm 2006 trở về trước.
[5]. Nguyễn Hoài Sanh- Lutvich Phoiơbắc bàn về tôn giáo- Nghiên cứu tôn
giáo số 3-2000.
[6]. Friedrich Engels – Lutvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ
điển Đức.
[7]. www.vientriethoc.com.vn