Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Lútvích Phoiơbắc
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai
trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Giáo viên hướng dẫn : TS. BÙI VĂN MƯA
Người thực hiện :NGUYỄN PHẠM NHẬT TRIỂN
Lớp : Cao học kinh tế – K22 – Ngày 4
Nhóm : 8
STT : 75
TP Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2012
Nguyễn Phúc Nguyên
1
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Giới thiệu chung về Lútvich Phoiơbắc và chủ nghĩa duy vật nhân
bản
1.1. Sơ lược về Lútvich Phoiơbắc
1.2. Chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.2.1. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.2.2. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.2.2.1. Quan điểm về con người
1.2.2.1.1. Mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên
1.2.2.1.2. Mối quan hệ giữa con người với con người
1.2.2.1.3. Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại
1.2.2.2. Quan điểm về nhận thức
1.2.2.3. Quan điểm về tôn giáo
và đánh giá những vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác, tác giả đã thực
hiện đề tài “Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc & vai trò của nó đối với sự ra đời
của triết học Mác”.
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 3
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Chương 1: Giới thiệu chung về Lútvich Phoiơbắc và chủ nghĩa duy vật nhân
bản
1.1. Sơ lược về Lútvich Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872), sinh ra ở Landshut, Bravaria (Đức) trong một gia
đình luật sư nổi tiếng. Từ nhỏ, Phoiơbắc đã có niềm đam mê nghiên cứu về tôn giáo,
được sự cho phép của cha, ông theo học tại Heidelberg năm 1823 để nghiên cứu về
thần học.
Tư tưởng cải cách triết học của Phoiơbắc được hình
thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành luận án tiến
sĩ và bắt đầu giảng dạy lôgic học và siêu hình học tại
Erlangen. Ông đã xuất bản ba cuốn sách giữa các năm
1833-1838, bao gồm: Lịch sử của triết học hiện đại từ
Bacon đến Spinoza (1833), Trình bày, phát triển và phê
bình triết học của Leibniz (1837), Pierre Bayle (1838) và nhờ nó mà danh tiếng ông
đã được thiết lập, ông được xem như là một học giả trẻ tài năng.
Phoiơbắc là nhà triết học duy vật duy nhất trong nền triết học cổ điển Đức, người
đã đem đến sự kết thúc đầy ý nghĩa cho toàn bộ nền triết học phương Tây cổ điển
nói chung và triết học cổ điển Đức nói riêng. Ông từng tham gia phái Hêghen trẻ,
chống lại việc tôn giáo và các khái niệm của tinh thần tuyệt đối thống trị thế giới
hiện thực, ông coi chúng là những xiềng xích trói buộc con người. Tuy nhiên, về
sau chịu ảnh hưởng của các nhà khai sáng Pháp thế kỉ XVIII, Phoiơbắc quay sang
phê phán người thầy Hêghen của mình và ngày càng ngã sang lập trường duy vật
và năm 1839 ông cho xuất bản tác phẩm “Phê phán triết học Hêghen” nhằm bác bỏ
quan điểm duy tâm của người thầy Hêghen.
Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật nhân bản. Theo ông, con
đối, mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển của tự nhiên, là
cái cao quý nhất mà giới tự nhiên có được.
Phoiơbắc cũng cho rằng ông có sứ mạng phải xây dựng một nền Triết học mới –
triết học về chính con người, nghiên cứu các vấn đề về con người để làm sáng tỏ bản
chất con người đang tồn tại và giải quyết vấn đề “quan hệ tư duy & tồn tại” là tạo
cho con người một cuộc sống thật sự hạnh phúc trên trần gian. Phoiơbắc lấy con
người làm đối tượng nghiên cứu của triết học mới và khoa học nghiên cứu về bản
chất của con người là nhân bản học nên triết học mới đó phải là triết học nhân bản
hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi ngành khoa học.
Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản.
Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc nằm ở tính thống nhất của bản chất con
người, tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là bộ phận của thế giới khách quan, và
ở chừng mực nào đó nó bao hàm cả tồn tại của thế giới ấy. Triết học mới – Phoiơbắc
viết: “Biến con người, gồm cả tự nhiên với tư cách cơ sở của con người, thành đối
tượng duy nhất, phổ quát và cao nhất của triết học và do đó, biến thuyết nhân bản,
trong đó có triết học, thành khoa học phổ quát”.
1.2.2. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.2.2.1. Quan điểm về con người
Con người là gì? Phoiơbắc cho rằng, con người không phải là sản phẩm của
Thượng đế như các nhà thần học quan niệm, cũng không phải là “sự tha hoá” của “ý
niệm tuyệt đối” như Hêghen nói, mà là sản phẩm của giới tự nhiên. Theo ông, giới
tự nhiên là ánh sáng, điện từ, từ tính, không khí, nước, lửa, đất, động vật, thực vật, là
con người, bởi vì con người là một thực thể hoạt động; trong đó, con người là sản
phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên. Khi giải thích sự khác biệt căn bản giữa
loài người và loài vật là gì, L.Phoiơbắc viết: “Đó là sự khác nhau trong ý thức đúng
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 6
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
với nghĩa chân chính của từ này… Bởi ý thức theo nghĩa chính xác chỉ có ở chỗ, khi
chủ thể có khả năng nhận thức được loài của mình, bản chất của mình. Động vật
nhận thức mình như một cá thể; nó chỉ làm chủ được quá trình tự cảm giác mà thôi,
nhận biết của con người, qua thời gian con người dần dần nhận thấy rằng chính bản
thân con người đã bị lệ thuộc vào giới tự nhiên - là đối tượng của cảm giác.
1.2.2.1.2. Mỗi quan hệ giữa con người với con người
Lý giải về mối quan hệ giữa con người và con người, Phoiơbắc chỉ rõ hai bản tính
của con người, bao gồm: bản tính cá nhân và bản tính cộng đồng. Trong khi bản tính
cá nhân thể hiện rõ tính cá thể của mỗi người, tạo ra sự khác biệt giữa người và
người thì bản tính cộng đồng theo Phoiơbắc là cội nguồn của tình yêu mênh mông.
Theo đó, sự hòa hợp giữa bản tính cá nhân và cộng đồng chính là cơ sở của tính ích
kỉ hợp lý và ông coi tính ích kỷ của con người như là một động lực thúc đẩy sự phát
triển của lịch sử xã hội.
Triết học Phoiơbắc đầy quan điểm về đạo đức thể hiện rõ nhân bản dành cho con
người, vì con người. Con người sống phải yêu nhau, đấu tranh trong tình yêu không
mang tính giai cấp, không mang tính phụ nợ. Tình yêu phải xóa đi hận thù đó mới là
tình yêu, yêu mà còn hận thù thì không phải là yêu. Đó là triết lý của ông ta, bởi vì:
Ông sống trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cá lớn nuốt cá bé, con người chèn ép con
người nên ông ta muốn dùng triết lý tình yêu để xóa đi những bi đát của thời đại, đó
là thực hiện đơn đặt hàng của thời đại của lịch sử, thời đại hận thù phải chữa bằng
tình yêu.
1.2.1.1.3. Mỗi quan hệ giữa tư duy và tồn tại
Từ việc quan sát hình thể bên ngoài cũng như mọi hoạt động lao động sản xuất,
hoạt động tinh thần của con người, L.Phoiơbắc cho rằng, bản chất con người là một
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 8
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
cái gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư
duy). Sự thống nhất này đảm bảo cho sự sống của con người có thể tồn tại và phát
triển như một sinh vật cao nhất, hoàn thiện nhất trong mọi sinh vật. Sai lầm của chủ
nghĩa duy tâm là toan tính thủ tiêu sự thống nhất đó của con người, tách rời tư duy
con người khỏi tồn tại của nó, biến tư duy thành một thực thể siêu tự nhiên có khả
năng sáng tạo nên thế giới vật chất. Còn sai lầm của nhị nguyên luận là đánh đồng
tư duy và tồn tại, coi chúng như những thực thể tồn tại độc lập bên cạnh nhau - đó là
nhưng là một quá trình lâu dài, thông qua các cá nhân và các thế hệ khác nhau.
Phoiơbắc cũng đã xác định được mối quan hệ giữa hình thức nhận thức cảm tính
với lý tính, nhưng khi tiến lên giai đoạn tư duy lý tính thì ông không rút ra được kết
luận rõ ràng.
Như vậy, Phoiơbắc đã xây dựng quan điểm duy vật về nhận thức; đã khẳng định,
con người có khả năng nhận thức. Nhưng trong lý luận nhận thức đã bộc lộ hạn chế
ở chỗ, chưa hiểu được quá trình phát triển biện chứng của nhận thức, vai trò của
hoạt động thực tiễn đối với nhận thức. Cho nên, quan điểm nhận thức của Phoiơbắc
vẫn nằm trong khuôn khổ của phương pháp suy nghĩ siêu hình.
1.2.2.3. Quan điểm về tôn giáo
Cụ thể hoá những quan niệm trên đây về con người, Phoiơbắc phân tích các vấn đề
tôn giáo.
Tôn giáo, theo ông, là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất con người.
Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin, và an ủi. Bản chất của thần học, do vậy,
chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú của con
người. Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề xã
hội.
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 10
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Tôn giáo thực chất là sự thể hiện bản chất của con người dưới hình thức thần bí.
Phoiơbắc nói: "Tư tưởng và dụng ý của con người như thế nào thì chúa của con
người như thế. Giá trị của chúa không vượt quá giá trị con người. Ý thức của Chúa
là tự ý thức của con người, nhận thức của chúa là tự nhận thức của con người". Thực
ra "bản chất thần thánh không là cái gì khác, mà là bản chất của con người, nhưng
đã được tinh chế, khách quan hoá, tách rời với con người hiện thực bằng xương,
bằng thịt".
Những quan niệm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản đã chỉ ra nguồn gốc tâm lý,
tình cảm và tâm linh của con người đối với tôn giáo, đồng thời cho thấy nội dung
nhăn bản trong các quan niệm thần thánh nhưng chưa đề cập đến những cơ sở kinh
tế chính trị- xã hội và văn hoá của vấn đề.
Thứ nhất, L.Phoiơbắc đã xem xét con người một cách trừu tượng, con người phi
lịch sử, phi giai cấp, nghĩa là xem xét con người với tư cách một cá nhân thuần tuý,
biệt lập, tách khỏi cơ sở tồn tại hiện thực của nó – phương thức sản xuất. Theo
C.Mác và Ph.Ăngghen, so với các nhà duy vật “thuần túy”, L.Phoiơbắc đã có ưu
điểm lớn là ông thấy rằng, con người cũng là một “đối tượng của cảm giác” chứ
không phải là “hoạt động cảm giác được”. Tuy nhiên, hạn chế lớn của ông là không
xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều
kiện sinh hoạt hiện có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con
người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế. Nghĩa là, L.Phoiơbắc không bao giờ
tới được những con người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại ở
một sự trừu tượng. Ở ông, con người “hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ
đóng khung trong tình cảm thôi và hoàn toàn không biết đến những “quan hệ con
người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá. Thực tế, L.Phoiơbắc
đã không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại và cũng “không bao giờ hiểu
được rằng, thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 12
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
được của những cá nhân họp thành thế giới ấy”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra
kết luận rằng, “Khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ đề cập tới lịch
sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật. Ở
L.Phoiơbắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau”.
Thứ hai, L.Phoiơbắc chỉ nhìn thấy sự khác biệt cơ bản giữa con người và các loài
động vật khác về phương diện nhận thức mà không thấy rằng, sự khác biệt đó được
bắt đầu từ hành vi sản xuất vật chất. Đây là một hạn chế mang tính phổ biến của chủ
nghĩa duy vật trước Mác, mà điển hình là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc. Vận
dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc xem xét lịch sử, C.Mác
và Ph.Ăngghen cho rằng, “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên
là sự tồn tại của những cá nhân con người sống. Hành động lịch sử đầu tiên của
những cá nhân đó, hành động mà nhờ đó họ khác với loài vật, không phải là việc họ
tư duy mà là việc họ bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho họ…
lẫn nhau của các hình thức tôn giáo, mà là sự thay thế của các hình thái kinh tế – xã
hội và động lực của lịch sử chính là đấu tranh giai cấp. Các ông khẳng định: “Không
phải sự phê phán mà cách mạng mới là động lực của lịch sử, của tôn giáo, của triết
học và của mọi lý luận khác. Quan niệm đó chỉ ra rằng lịch sử không kết thúc bằng
việc tự quy thành “Tự ý thức”, coi đó là “Tinh thần của tinh thần”, rằng mỗi giai
đoạn của lịch sử đều gặp một kết quả vật chất nhất định, một tổng số nhất định
những lực lượng sản xuất”. Như vậy, lịch sử không phải được thực hiện bằng các
khát vọng cá nhân mà lịch sử chính là một quá trình hiện thực vật chất, vì “sự biến
đổi lịch sử thành lịch sử toàn thế giới không phải là hành vi trừu tượng nào đó của
“tự ý thức”, của tinh thần thế giới hay của một con ma siêu hình nào đó, mà là một
hành động hoàn toàn vật chất, có thể kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm, một hành
động mà mỗi cá nhân - đúng như cá nhân đó đang tồn tại trong đời sống thực tế,
đang ăn uống và mặc quần áo, - đều là một bằng chứng”.
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 14
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
2.2 Vai trò của Chủ nghĩa duy vật nhân bản đối với sự ra đời của triết học Mác
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX khi chủ nghĩa duy tâm đang thống trị đời sống
tinh thần ở phương Tây thì chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc đã đóng một
vai trò quan trọng trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật thêm một
bước. Những quan điểm về con người, tự nhiên, tư duy, tồn tại, nhận thức, tôn giáo
trong chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc là chính tài liệu quý giá để Mác –
Ăngghen sử dụng để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác. Chẳng hạn như
quan niệm về con người trong triết học L.Phoiơbắc như đã trình bày ở trên, theo
đánh giá của A.G.Spirkin, “chính là điểm xuất phát cho những lập luận của C.Mác
về con người và bản chất con người”. Bởi vì, bằng những quan niệm đó, người mở
đường cho chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu thuẫn giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm khách quan, “đưa một cách không úp mở
chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua” và khẳng định một cách dứt khoát rằng, “tự
nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học. Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta –
bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng”.
thánh không là cái gì khác ngoài bản chất của con người bị khách quan hóa, tách
biệt khỏi con người cá thể, nghĩa là tách biệt khỏi con người hiện thực bằng xương
bằng thịt” - đã trở thành “sợi chỉ đỏ” trong quan niệm của C.Mác và Ph. Ănghen về
tôn giáo. C.Mác đã bày tỏ sự ủng hộ Phoiơbắc, thể hiện một tình cảm bái phục nhà
duy vật này trong cuộc tranh luận giữa ông với nhà thần học, nhà triết học theo phái
Hêghen trẻ - Đ.Stơrauxơ (1808 - 1874) năm 1842. Sau đó, C.Mác đoạn tuyệt với
nhóm Béclin trong phái Hêghen trẻ.
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 16
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Kết luận
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đã góp phần khôi phục và phát triển chủ
nghĩa duy vật thời kỳ cận đại sau khi bị chôn vùi trong thời trung cổ. Nó đã trình
bày rõ quan niệm duy vật và lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của triết học,
con người chính là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, dựa vào giới tự nhiên để
thỏa mãn mọi nhu cầu của chính mình và bằng cảm giác tư duy, con người nhận
thức được giới tự nhiên và tìm hiểu chính mình. Cuộc sống của con người luôn gặp
nhiều khó khăn và đau khổ và họ cần có niềm tin để an ủi mình; mà tôn giáo chính
là cơ sở nguồn gốc của niềm tin.
Mặc dù triết học của Phoiơbắc có những hạn chế, nhưng cuộc đấu tranh của ông
chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung đã có ý nghĩa lịch sử to lớn. Vì
vậy, triết học của Phoiơbắc trở thành một trong những nguồn gốc lý luận, tiền đề
triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Phương pháp biện chứng duy vật
– linh hồn của chủ nghĩa Mác – là kết quả cải biến chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc
và phát triển phép biện chứng Hêghen.
Nguyễn Phạm Nhật Triển Page 17
Chủ nghĩa duy vật nhân bản và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. TS Bùi Văn Mưa, Triết học (phần I) “Đại cương về lịch sử Triết học” - Dùng
cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành Triết học