TIỂU LUẬN TRIẾT CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đ Ti S 11:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ VAI
TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA
TRIẾT HỌC MÁC
GVHD: TS. Bi Văn Mưa
HVTH: Trần Thị Trang
Lp: CH Ngy 4 - K22
Nh&m: 08
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
STT: 71
TP Hồ Chí Minh, tháng 12/2012
LỜI MỞ ĐẦU
Ludwig Feuerbach (Phoiơbắc) là đại diện cuối cùng trong triết học cổ điển Đức, là
nhà duy vật đầu tiên trong những năm 40 của thế kỷ XIX, là bậc tiền bối của triết học
Mác. Trong cuộc đời của mình, Phoiơbắc đã hoàn thành việc chứng minh các quan điểm
duy vật, qua đó ông đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc đã đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh
chống lại việc giải thích duy tâm, nhị nguyên luận. Song, nguyên lý nhân bản của
Phoiơbắc không triệt để, vì ông hiểu con người chỉ là những cá nhân trừu tượng, là thực
thể thuần túy tự nhiên - sinh vật. Ông không thấy được vai trò của thực tiễn sản xuất vật
chất quyết định sự vận động và phát triển của xã hội loài người.
Tuy vậy triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là cội
nguồn tư tưởng, là tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mác.
Đề tài “Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc & vai trò của nó đối với sự ra đời
của triết học Mác” nghiên cứu nhằm đem đến một cái nhìn rõ hơn về các quan điểm của
Phoiơbắc về tự nhiên, con người, nhận thức và tôn giáo Đồng thời xem xét sự kế thừa
và khắc phục của Mác- Ph.Ăngghen thông qua những thành tựu và hạn chế của Chủ nghĩa
duy vật nhân bản của Phoiơbắc. Từ đó đánh giá vai trò của nó đối với sự ra đời của triết

luận triết học đối lập với phương pháp siêu hình trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự
nhiên xã hội.
- 3 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Có thể nói triết học cổ điển Đức đã tạo ra được những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết
học, đã nhận ra những hạn chế và phê phán phép siêu hình để xác lập vị trí xứng đáng cho
phép biện chứng. Tuy nhiên, bản thân nền triết học này cũng còn các hạn chế như tính
chất duy tâm và thần bí, hoặc tính chất trực quan trong các quan niệm duy vật … Những
kết quả mà triết học cổ điển Đức đã đạt được là một trong những nguồn gốc lý luận của
triết học Mác sau này.
1.2. Sơ lược về Lútvich Phoiơbắc
L.Phoiơbắc (1804 – 1872), nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức. Ông sinh
năm 1804 trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức. Ông đã theo học ở trường đại học
tổng hợp Béclin, tham gia phái Hêghen trẻ. Về sau ông tách khỏi phái này, trở thành
người phê phán Hêghen, xây dựng hệ thống triết học duy vật của mình. Các tác phẩm lớn
của ông là Những nguyên lý của triết học tương lai (1843), Về bản chất đạo Cơ đốc
Ông là nhà triết học duy vật lỗi lạc trước Mác, là người đã khôi phục địa vị xứng đáng
cho chủ nghĩa duy vật trước Mác. Triết học của ông là một trong những tiền đề lý luận
trực tiếp của triết học Mác. Do một số tư tưởng vô thần chống lại giáo hội của ông, ông đã
bị nhà nước Phổ giam lỏng ở một làng quê ở biên giới phía Đông nước Đức, tiếp giáp với
biên giới Ba Lan từ lúc khoảng 32 tuổi đến cuối đời
Vấn đề trung tâm trong triết học của ông là vấn đề con người và về cơ bản ông giải
quyết trên tinh thần duy vật. Nên triết học của ông được gọi là triết học nhân bản.
1.3. Chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.3.1. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật nhân bản
Cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa, mô hình cổ điển về văn hoá dựa trên ba nguyên lý cơ bản: nhân văn, duy lý và lịch
sử đã được hình thành trong triết học cổ điển phương Tây. Mô hình này đã phát triển theo
hai đường hướng lý giải chủ yếu: cách lý giải theo chủ nghĩa tự nhiên thông qua các nhà
Khai sáng Pháp và cách lý giải theo chủ nghĩa duy tâm thông qua hai đại biểu xuất sắc

có của nó. Theo ông phải tìm nguyên nhân của thế giới tự nhiên ở chính trong thế giới tự
nhiên, sự sống và con người cũng là kết quả tiến hóa hết sức lâu dài của chính giới tự
nhiên.
- 5 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Ông cũng có quan điểm duy vật về không gian và thời gian. Theo ông không có vật
chất ngoài không gian và thời gian, không gian và thời gian chỉ là những hình thức tồn tại
của vật chất. Bản thân giới tự nhiên bị chi phối bởi mối liên hệ nhân quả nên không
ngừng vận động, phát triển trong không gian, thời gian, theo các quy luật khách quan nội
tại. Trong những điều kiện nhất định, quá trình phát triển của giới tự nhiên sẽ dẫn đến sự
ra đời của đời sống sinh học mà cao hơn là con người và đời sống xã hội của con người.
Con người muốn hiểu giới tự nhiên phải xuất phát từ chính bản thân mình, thông qua cảm
giác và tư duy của chính mình – một đóa hoa rực rỡ của giới tự nhiên, để nhận thức giới
tự nhiên, tức tất cả những gì không phải là siêu nhiên…
Nhìn chung ông có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng còn thô sơ và siêu hình.
Bởi lẽ, vật chất theo ông mới chỉ là những gì cảm giác được. Hay là khi đấu tranh chống
chủ nghĩa duy tâm nói chung, chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói riêng, ông đã không
thấy được “hạt nhân hợp lý” trong triết học của Hêghen và đã phủ định một cách tuyệt
đối, như “hất chậu nước tắm và cả đứa trẻ trong đó”.
 Quan điểm về con người
Con người là vấn đề trung tâm trong triết học của ông và về cơ bản ông giải quyết
vấn đề con người trên tinh thần duy vật. Con người theo ông là một bộ phận của thế giới
tự nhiên, gắn liền với tự nhiên. Con người là một sinh vật có hình thể vật chất ở trong
không gian và thời gian, vì vậy, con người có khả năng quan sát, suy nghĩ. Con người có
ngôn ngữ, tư duy, có những nhu cầu, ham muốn, có niềm vui, nỗi buồn, sự suy tư, trăn
trở Tuy nhiên, những yếu tố đó được ông xem xét tách rời điều kiện sống, môi trường
văn hóa, xã hội, phi giai cấp, phi lịch sử.
Phoiơbắc đã phần nào nhìn khía cạnh giao tiếp xã hội như là một yếu tố tạo bản chất
con người. Tuy nhiên, quan điểm này chưa được ông phát triển đầy đủ. Do vậy, ông chưa
thấy được con người xã hội, con người giai cấp, mới chỉ thấy được con người sinh học,

Phoiơbắc cho rằng, tình yêu giữa con người với nhau vừa là phương tiện vừa là mục
đích của sự hòa hợp xã hội, và hơn thế nữa, nó còn là động lực tiến bộ xã hội, bởi vì nó là
sự thể hiện rõ nhất bản chất người trong mỗi con người. Phoiơbắc quan niệm rằng: Chúng
ta sẽ không thể là con người nếu không biết yêu; và một đứa trẻ chỉ trở thành người lớn
khi nó biết yêu; tình yêu phụ nữ là tình yêu phổ quát, ai không yêu phụ nữ người đó
không yêu con người. Tuy nhiên, trong “biển trời” mênh mông của tình yêu thì, tình yêu
- 7 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
của người đàn ông dành cho người đàn bà là tình yêu đích thực. Đối với Phoiơbắc, con
người và tình yêu chỉ là một, chúng không thể tách rời nhau.
Nhìn chung, quan niệm của Phoiơbắc về con người thể hiện quan điểm của giai cấp
tư sản muốn khẳng định cá tính sáng tạo của mỗi con người. Nó có ưu điểm là đã quan
tâm đến con người (chủ yếu mặt tự nhiên - sinh học). Song, nó còn có hạn chế là đã tuyệt
đối hóa tình yêu, coi tình yêu là bản chất con người mà không chú ý mặt lịch sử - xã hội,
không thấy điều kiện chính trị - xã hội mà con người phải sống trong đó. Quan niệm về
con người của ông rất trừu tượng, bởi vì nó không mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính
dân tộc.
 Quan điểm về tôn giáo
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo không đơn giản là những ảo tưởng phi lý, hoang đường
mà còn là những mơ ước, khát vọng đời thường của con người. Sự bất lực trong nhận
thức, sự sợ hãi, đau khổ, khó khăn triền miên, niềm mơ ước khao khát vươn lên trong
cuộc sống đầy đau khổ bất hạnh, đầy bế tắt buồn thương của con người đã sản sinh ra tôn
giáo. Tôn giáo là sự tha hóa bản chất của con người. Còn Thượng đế chỉ là tập hợp những
giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Vì vậy, giá trị, mơ ước, khát vọng của
con người như thế nào thì Thượng đế như thế đó. Thượng đế là nhân cách cá nhân được
thần thánh hóa, là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người; không phải
Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế.
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng
con người thành thế giới trần tục và thế giới hoang đường, tôn giáo làm tha hóa con người
để dễ dàng thống trị nó. Tôn giáo không chỉ kìm hãm mà còn tước đi ở con người tính

người không thể nhận thức được thế giới thì tất cả mọi thế hệ nối tiếp có thể nhận thức
được thế giới khách quan vô tận.
Dù có quan điểm khả tri, nhưng Phoiơbắc chỉ coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại,
thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là quá trình mang
tính thực tiễn năng động, sáng tạo thế giới của con người – chủ thể nhận thức. Trong lý
luận nhận thức của mình, Phoiơbắc hoàn toàn không thấy được vai trò của thực tiễn đối
với nhận thức. Theo ông, thực tiễn mang tính thấp hèn, do đó, nó cần được loại ra khỏi
nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ thống triết học. Bản thân ông cũng không hiểu chính hoạt
động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn. Ông không thấy được vai trò to lớn của thực
- 9 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
tiễn là làm hoàn thiện con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội nói chung.
Vì không thấy trong thực tiễn động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìm nó trong tình
yêu.
 Quan điểm về đạo đức
Xuất phát từ tinh thần nhân bản nên quan niệm về đạo đức của ông cũng đầy tính
nhân bản, với ông khát vọng hạnh phúc là cơ sở của mọi hành vi của con người. Về bản
chất con người cố gắng đạt cái mà mình cho là tốt, tránh cái mà mình cho là không tốt.
Ông gắn cảm giác với đạo đức vì theo ông điều tốt đem lại cho con người cảm giác vui,
hạnh phúc, thỏa mãn. Ngược lại, điều xấu đem lại cảm giác đau đớn, xót xa, dằn vặt
Ông khuyên răn con người không nên tham lam, ích kỷ.
Tuy nhiên ông lại cho rằng các hiện tượng phi đạo đức chỉ là những hiện tượng ngẫu
nhiên trong xã hội, bằng tình yêu sẽ xây dựng đạo đức mới, đạo đức có sự thống nhất giữa
lợi ích cá nhân và xã hội. Đặc biệt, ông đã xây dựng nên một thứ đạo đức trừu tượng, tách
rời đời sống xã hội, phi giai cấp, phi lịch sử, thứ đạo đức vĩnh hằng cho mọi thời đại. Về
cơ bản ông chỉ nói đến tính nhân loại của đạo đức, chưa nói đến tính dân tộc, tính giai
cấp, tính lịch sử của đạo đức.
 Quan điểm chính trị - xã hội
Ông là người có tư tưởng dân chủ cấp tiến, căm ghét nhà nước quân chủ Phổ phong
kiến, ông gọi nó là vô đạo đức, đòi thay nó bằng nhà nước cộng hòa tư sản. Theo ông con

chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên siêu hình mà không chú ý mặt xã hội và điều kiện chính trị
xã hội của con người; tuyệt đối hóa tình yêu và coi tình yêu là bản chất của con người.
Bên cạnh đó, Phơiơbắc coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ động của chủ thể
tiếp nhận hình ảnh của khách thể; coi thực tiễn mang tính thấp hèn, cần được loại ra khỏi
nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ thống triết học; không hiểu hoạt động khoa học cũng là
hoạt động thực tiễn; không thấy được vai trò to lớn của thực tiễn đối trong quá trình nhận
thức hay hoàn thiện nhân cách con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội
nói chung.
- 11 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Mặt khác, Phơiơbắc đề cao sức mạnh tinh thần (giáo dục, đạo đức, pháp luật), không
thấy được nguồn gốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội.
Chương II: Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với sự ra đời của
triết học Mác
2.1. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết học
Mác
Triết học Mác - Lênin ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX và phát triển cho đến ngày nay.
Từ khi ra đời, triết học Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học
và trở thành thế giới quan, phương pháp luận của hoạt động nhận thức cũng như hoạt
động thực tiễn của con người.
Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm với trí tuệ nhân loại, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học Đức
với hai nhà triết học tiêu biểu Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc trực tiếp của triết học
Mác.
Học thuyết triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại
thấm nhuần quan điểm duy vật. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa chủ nghĩa duy vật của
Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng
nên lí luận mới của chủ nghĩa duy vật. Từ đó tạo ra cơ sở để hai ông xây dựng nên học
thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất một cách
hữu cơ.

họ, trong những điều kiện sinh hoạt làm cho họ trở thành những con người đúng như họ
đang tồn tại trong thực tế nên ông vẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng.
Trung tâm thế giới quan mới do Mác và Ăngghen đặt nền móng là chủ nghĩa duy
vật về lịch sử. Theo ý kiến của họ, con người không phải bước ra từ sâu thẳm của giới tự
nhiên thành một sinh thể tự nhiên phổ quát như Phoiơbắc nhận định, mà nó trở thành như
- 13 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
vậy trong tiến trình lịch sử. Con người khác với động vật trước hết không phải bởi nó có ý
thức như Phoiơbắc nói, mà bởi sự bắt buộc phải lao động sản xuất nhằm tạo ra cho mình
các phương tiện sống.
Những năm cuối đời, Ph.Ăngghen đã dành phần lớn thời gian cho việc nghiên cứu
triết học. Phoiơbắc, kết quả cụ thể của việc nghiên cứu đó là tác phẩm “Ludvig Feuerbach
và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. Trong tác phẩm nổi danh này, Ph.Ăngghen
phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của Phoiơbắc: "Chủ nghĩa duy tâm thực sự của
Phoiơbắc - Ăngghen viết là ở chỗ ông xét các mối quan hệ giữa người và người dựa trên
cảm tình đối với nhau, như tình yêu nam nữ, tình bạn, lòng thương xót, tinh thần tự hy
sinh Phoiơbắc cho rằng, những quan hệ ấy chỉ có giá trị đầy đủ, khi người ta đem lại
cho chúng một sự tôn phong tối cao bằng cái tên là tôn giáo". Do dựa trên một quan niệm
duy tâm sai lầm như vậy, nên "học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất
cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân
tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu
cả. Và đối với thế giới hiện thực, nó cũng bất lực như cái mệnh lệnh tuyệt đối của Kant
vậy". Sự bất lực đó của nhà triết học trước thực trạng xã hội Đức đương thời đã làm cho
ông "không tìm thấy con đường thoát khỏi vương quốc của sự trừu tượng, mà bản thân
ông ghét cay ghét đắng để đi tới hiện thực sinh động. Ông bám hết sức chặt lấy giới tự
nhiên và con người, song đối với ông, tất cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh
từ mà thôi.
Phoiơbắc không biết nói với chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực,
cũng như về con người hiện thực". Nhưng lịch sử phát triển của nhận thức loài người có
tính logic của nó, những gì mà Phoiơbắc chưa thực hiện đã được Mác tiếp thu và hoàn

Minh, 2010.
2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Lút vích Phoi Ơ Bắc và sự cáo chung của Triết học cổ
điển Đức.
3. C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995.
4. Website: http://www.vientriethoc.com.vn
5. Lê Công Sự “Luận cương về Feuerbach” (trong C. Mác-Ăngghen: Tuyển tập, T.I.
Sự thật, Hà nội, 1980, tr. 255).
6. Lịch sử tư tưởng trước Mác, Trần Đức Thảo, NXB. Khoa học xã hội, 1995
MỤC LỤC
 
- 16 - HVTH: Trần Thị Trang
Tiểu luận Triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
 !"#
$%&'()*+,-+."/"#0(123,#40567
8+9(12,:; <;97)2=>)"?>!8)3@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@AA
B+9-+"#!C*0DE+!<2F7G8+9
9H$50569'?>I9H(12'?J*(12-+"#7
;.+K;5'"K;5'!-+"#@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@AA
L5M."/'928)6NMO2-+-%/6
-+?)7"$%&9+ !P:"M+?Q/O(!+
?Q7?>"M2?"+R'"M2$%&7?>!;
+,"=-+$%&"8)6/+;"')"#
IS;)0(!.5(12.@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@AA
TH?)+"09M%:E)"<OM")/F?>!;
U2$)'%M"(12@VWWXY+,-+-Z+<;
/"=0$+#-+T)@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@A[
\T)]^5+#CD+?_`W`')"';+;@\C?+#
T)]^51M"+922)9M"*0D'a'=8+
)/-+"M2/R"M2$%&-+"#@@@@@@@@@@@@A[


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status