TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
 Đề tài :

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA
ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC HVTH: NGÔ VĂN LONG
STT: 33 -NHÓM 4
Lớp: TCDN Ngày 4, K22
GVHD: TS BÙI VĂN MƯA

TPHCM, tháng 12 năm 2012

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN 2
I.1 - Sơ lược xã hội Đức cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX 2
I.2 - Đặc điểm triết học cổ điển Đức. 2
I.3 - Khái lược triết học Hêghen. 4
PHẦN II : NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN 5
II.1 - Hiện tượng luận tinh thần 5
II.2 - Khoa học lôgic 6
II.3 - Triết học tự nhiên 8
II.4 - Triết học tinh thần 9

phức tạp.
Nền triết học cổ điển Đức là nền triết học được tạo nên từ cuối thế kỷ XVIII -
đầu thế kỷ XIX là thành tựu rực rỡ của nền văn minh Tây Âu và thế giới. Đây là
đỉnh cao của thời kỳ triết học Tây Âu, đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học
hiện đại. Nó trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành triết học Mác - (cùng với
kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp). Triết học cổ điển
Đức, mà tiêu biểu là triết học Hêghen và triết học Phoi-ơ-Bắc là tiền đề lý luận trực
tiếp cho sự ra đời của triết học Mác. Trong đó phép biện chứng của Hêghen là một
tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mác-xít. Tuy nhiên, nếu phép biện chứng là
hạt nhân hợp lý, là mặt tiến bộ của triết học Hêghen thì ngược lại hệ thống triết học
của Hêghen lại duy tâm, siêu hình. Chính điều này đã làm cho phép biện chứng duy
tâm của Hêghen càng được quan tâm nhiều hơn ngay cả trong giai đoạn này và cho
tới hiện nay.
Để làm rõ những thành tựu mà Triết học của Hêghen mang lại cho lịch sử
triết học của nhân loại , ảnh hưởng như thế nào với sự ra đời của Triết học Mác, đó
là lý do chính để em và các thành viên nhóm 4 lựa chọn đề tài : “Phép biện chứng
duy tâm Hêghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác”.
Xin chân thành cảm ơn thầy TS. Bùi Văn Mưa cùng các thầy cô trong tiểu
ban triết học, khoa lý luận chính trị, trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã biên soạn
tài liệu “Đại cương về lịch sử triết học” (Triết học Phần 1) là nguồn tài liệu tham
khảo chính giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 2

PHẦN I: BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN

I.1 - Sơ lược xã hội Đức cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX
Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX nước Đức vẫn còn là một quốc gia
phong kiến điển hình với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ

là hệ thống Hêghen, thậm chí đã được nâng có thể nói là lên địa vị triết học nhà
nước của vương quốc Phổ! Và cách mạng lại phải núp sau những giáo sư ấy, sau
những lời thông thái rởm và tối nghĩa của họ, trong những câu văn nặng nề và buồn
tẻ của họ. Triết học cổ điển Đức tiếp tục phát huy truyền thống duy lý của phương
Tây, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học. Các triết
gia ra sức xây dựng các hệ thống triết học vạn năng, bao trùm tất cả mọi lĩnh vực
hoạt động của con người làm cơ sở cho những hoạt động đó. Đối với Hêghen, triết
học thật sự phải là lôgic học, còn đối với Phoiơbắc, đó là nhân bản học. Tuy nhiên,
do cố khắc phục những hạn chế siêu hình và máy móc trong nền triết học duy vật thế
kỷ XVII- XVIII mà triết học cổ điển Đức lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm thần bí. Họ
cho rằng, tính biện chứng sống động chỉ là bản tính của cái tinh thần, còn cái tự
nhiên thì phi biện chứng. Dù vậy họ vẫn tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý
báu trong di sản triết học cổ truyền của nhân loại, phát triển thêm và xây dựng phép
biện chứng như một học thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển xảy
ra trong thế giới. Triết học cổ điển Đức đề cao vai trò của con người với tính các là
chủ thể trong mọi hoạt động cải tạo thế giới - khách thể; và khảo sát khách thể gắn
liền với hoạt động thực tiễn của chủ thể - con người. Song do quan điểm duy tâm chi
phối mà nhiều triết gia của nền triết học này hiểu thực tiễn chỉ là hoạt động sang táo
của ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa ý thức, biến ý thức thành lực lượng siêu nhiên có
năng lực sang tạo kỳ vĩ. Vì vậy triết học của họ mang tính duy tâm thần bí. Triết học
cổ điển Đức là cơ sở thế giới quan, là nền tảng ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức
cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, vốn yếu về kinh tế nhược về chính trị, nhưng
có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, sống trong một xã hội mà tàn tích
phong kiến còn quá nặng nề.
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 4

I.3 - Khái lược triết học Hêghen.
Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm khách


pháp luật" (1821), những bài giảng về triết học lịch sử, về mĩ học, về triết học tôn
giáo, về lịch sử triết học được xuất bản sau khi Hêghen mất.
PHẦN II : NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA TRIẾT HỌC
HÊGHEN

II.1 - Hiện tượng luận tinh thần
Tác phẩm Hiện tượng luận tinh thần được xây dựng dựa trên bốn luận điểm
nền tảng sau đây:
- Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối. Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối
chứ không phải là cái Tuyệt đối (Senlinh) là nền tảng của hiện thực. Ý niệm tuyệt đối
là sự hợp nhất giữa thực thể - giới tự nhiên (Xpinôda) và Cái tôi tuyệt đối (Phíchtơ) là
sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và vật chất, là Đấng tối cao sáng
tạo ra giới tự nhiên, con người và lịch sử nhân loại. Con người chỉ là một sản phẩm
của quá trình vận động phát triển tự thân của ý niệm tuyệt đối. Hoạt động nhận thức
và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loại chỉ là giai đoạn phát triển cao
của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bản thân mình và quay trở về
với chính mình. Tư duy lôgic là hình thức thể hiện cao nhất của ý niệm tuyệt đối.
- Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. Phát triển được Hêghen
hiểu như một chuỗi các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục
thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ. Quá trình
phát triển của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản đề - hợp
đề”. Đó cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa cái vật chất và cái
tinh thần, giữa khách thể và chủ thể trong bản thân ý niệm tuyệt đối.
- Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử. Hêghen coi lịch sử
là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên
trần gian. Lịch sử nhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân
cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân. Ý thức cá nhân chỉ
là sự khái quát, sự “đi tắt” toàn bộ lịch sử mà ý thức nhân loại đã trải qua. Ý thức nhân
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

Luận điểm xuyên suốt toàn bộ lôgic học cũng như hệ thống của Hêghen là “
cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”. Nhiệm vụ của khoa học
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 7

lôgic là đào thải những hình thức của tư tưởng không thể hiện đúng bản chất đích
thực của tư duy sống động, đồng thời vũ trang cho con người một phương pháp tư
duy biện chứng nhằm khám phá ra chân lý, đi tới tự do.
Hêghen đưa ra các nguyên lý cơ bản xác định điểm khởi đầu khoa học lôgic:
tính khách quan, buộc các nhà nghiên cứu không được coi xuất phát điểm một cách
tùy tiện theo ý muốn chủ quan của mình, mà phải tuân theo tính khách quan tùy
thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể; đơn giản và trừu tượng nhất:
Mọi quá trình vận động khách quan đều theo xu hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ
chưa hoàn thiện tới chỗ ngày càng hoàn thiện hơn, cho nên điểm khởi đầu phải là cái
sơ khai nhất, chưa hoàn thiện nhất, trừu tượng nhất; nguyên tắc mâu thuẫn khẳng
định điểm khởi đầu phải là điểm xuất phát có khả năng phát triển thành toàn bộ hệ
thống, tức là phải chứa đựng mâu thuẫn cơ bản của toàn bộ hệ thống – đó là mâu
thuẫn giữa tinh thần và vật chất; nguyên tắc thống nhất giữa tính lịch sử và tính lôgic
trong việc xác định điểm khởi đầu: Hêghen coi khoa học lôgic của mình là sự tổng
kết toàn bộ tiến trình phát triển tư tưởng triết học của nhân lịch.
Trong khoa học lôgic, Hêghen hiểu tư duy như một quá trình phát triển biện
chứng thể hiện như sự thống nhất của ba yếu tố sau:
- Thính giác: Đây là tư duy phù hợp với lối suy nghĩ thông thường của mọi
người. Tư duy này con mang nặng tính trực quan, xem xét mọi vật một cách cứng
đờ, tách rời những mắt đối lập mà nhận thấy sự thống nhất giữa chúng.
- Yếu tố biện chứng: Khác với các quan niệm truyền thống coi phép biện
chứng là nghệ thuật tranh luận, Hêghen hiểu đây là một khoa học về sự phát triển
của các khái niệm được ông đồng nhất với bản chất của sự vật. Phép biện chứng là
nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện

như sự sinh thành của mọi vật. Cũng như Kant thời kỳ tiền phê phán, Hêghen có ý
đồ muốn đem lại một cái nhìn lịch sử về tự nhiên, về thế giới. Vũ trụ của chúng ta
không phải ngay từ đầu đã có trạng thái như hiện nay. Tuy nhiên, nhà biện chứng lỗi
lạc lại diễn tả tư tưởng đó một cách duy tâm. Ông khẳng định là chỉ có ý niệm mới
có thể chuyển hoá thành giới tự nhiên. Và sự chuyển hoá này diễn ra liên tục, không
ngừng: "Thế giới được tạo ra, hiện đang được tạo ra, và sẽ vĩnh viễn được tạo ra"
bởi tinh thần tuyệt đối.
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 9

Tuy triết học tự nhiên của Hêghen chứa đựng một số tư tưởng quý giá nhưng
theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, nó vẫn là khâu yếu nhất trong hệ thống của
ông bởi vì thứ nhất, hơn bất cứ lĩnh vực nhận thức nào khác, khoa học tự nhiên sớm
thoát khỏi các quan niệm duy tâm thần bí về tự nhiên. Thứ hai, Hêghen dã không
tổng kết được, nói cách khác, không lĩnh hội được những phát kiến của khoa học tự
nhiên đương thời. Điều này dễ hiểu bởi với Đêcáctơ, Lepnhit, Hêghen không phải là
nhà KHTN). "Quan điểm duy tâm và siêu hình về tự nhiên nói chung, sự phủ nhận
tư tưởng phát triển đã khiến triết học tự nhiên của Hêghen trở nên lạc hậu hơn
nhiều so với Kant thời kỳ tiền phê phán" (nhận xét của Engel trong chống Đuyring.
1957.Tr.11-12).
Toàn bộ triết học tự nhiên duy tâm của Hêghen đưa đến một cấu tạo giả tạo
về giới tự nhiên, lấy ý niệm thay thế cho sự nghiên cứu khoa học về cơ sở vận động
và phát triển của thế giới đó. Nó mâu thuẫn với những tài liệu của KHTN. Và vì
theo quan điểm của ông, trong giới tự nhiên, tinh thần không thể có sự toàn vẹn
thống nhất, đặc điểm của hiện tượng tự nhiên là tản mạn và hữu hạn cho nên muốn
đạt đến sự toàn vẹn của nó, tinh thần thế giới phải trở lại lĩnh vực của nó nhưng trở
lại mà càng phong phú thêm do sự lưu lại ở những lĩnh vực tồn tại khác. Để phù hợp
với hệ thống triết học của mình, ông chuyển sang vấn đề triết học tinh thần.
II.4 - Triết học tinh thần

con người nhận thức. Cũng chính trong quá trình lao động, con người tự hoàn
thiện chính bản thân mình. Vậy không có quá trình lao động, con người không tách
khỏi loài vật, bộ óc con người không hoàn thiện, không nảy sinh nhu cầu nhận
thức về thế giới, không có ý thức của con người. Hêghen khẳng định ý thức và tư
duy của con người hình thành trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo
thế giới, chứng tỏ rằng đã bắt đầu thấy vai trò của lao động đối với sự hình thành
và phát triển ý thức và tư duy. Từ đó Hêghen cho rằng: bằng cách đó, con người
tác động vào giới tự nhiên, tạo ra giới tự nhiên thứ hai cho mình và làm chủ
giới tự nhiên. Theo Hêghen, con người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử lại mang
tính kế thừa. Vì vậy, ý thức của mỗi cá nhân, của mỗi con người là khái quát lại
toàn bộ lịch sử mà tư tưởng nhân loại đã trải qua. Nhà nước là hiện thân của ý
niệm tuyệt đối. Nó ra đời nhằm duy trì, bảo tồn các gia đình, xã hội và công
dân. Nhà nước ra đời từ những mâu thuẫn trong xã hội nhằm điều hòa mâu
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 11

thuẫn các giai cấp, đẳng cấp khác nhau. Bản chất của nhà nước là tổng thể các
quy chế, kỷ cương về chính trị, văn hóa, pháp luật…
PHẦN III : PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN VÀ
VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC
MÁC
III.1 Giá trị phép biện chứng duy tâm Hêghen
Thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dung triết học
Hêghen. Mọi sự vật, quá trình dù là vật chất hay tinh thần đều là hiện thân của ý
niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối chi phối mọi sự sinh thành, tồn tại và tiêu vong của
hết thảy mọi cái trong thế giới. Vật chất, giới tự nhiên chỉ là sự tự tha hóa, một sự
tồn tại khác, một sản phẩm sơ cứng bất động của ý niệm tuyệt đối mà thôi. Đề cao
cái tinh thần, khẳng định tính quyết định của nó trong việc đưa ra các phương thức
giải quyết cho các vấn đề thuộc về lý luận cũng như thực tiễn là tư tưởng chủ đạo

thể phủ nhận được rằng cái có giá trị nhất và có sức sống mạnh mẽ nhất trong triết
học của ông chính là phép biện chứng mà thực chất đó là học thuyết về sự phát triển
toàn diện với tư cách là sự vận động tiến tới và sự chuyển hoá về chất, với tư cách là
sự đi lên theo thang bậc lôgíc có tuần tự về tính chất mâu thuẫn của sự phát triển bao
gồm sự tương tác giữa các mặt đối lập sự phủ định tồn tại hiện có và đồng thời là sự
giữ lại cái tích cực từ quá khứ.
Khi cho rằng Phoi-ơ-bắc bắt đầu từ triết học của Hêghen, sau đó đoạn tuyệt
với nó, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật, Ăng-ghen đã đánh giá một cách
khoa học triết học Hêghen. Trước hết, Ăng-ghen đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản của
triết học Hêghen, đó chính là mâu thuẫn giữa phép biện chứng với hệ thống triết
học. Nếu phép biện chứng là hạt nhân hợp lý, là mặt tiến bộ của triết học Hêghen,
thì ngược lại, hệ thống triết học của Hêghen lại duy tâm, siêu hình. Chính yêu cầu
của hệ thống đã dẫn Hêghen đến việc thừa nhận điểm cuối cùng trong nhận thức
triết học và thực tiễn lịch sử. Ăng-ghen viết: “Tuyên bố rằng toàn bộ nội dung giáo
điều của hệ thống Hêghen đều là chân lý tuyệt đối, vậy là trái với phương pháp biện
chứng của ông ta, phương pháp đã phá bỏ mọi cái có tính chất giáo điều. Như thế
nghĩa là mặt cách mạng của học thuyết Hêghen đã bị đè bẹp bởi sự trưởng thành quá
khổ của mặt bảo thủ của nó. Và điều mà đúng với nhận thức triết học thì cũng lại
đúng với cả thực tiễn lịch sử nữa”. Theo Ăng-ghen, đặc điểm đó của triết học
Hêghen phản ánh sự thoả hiệp của giai cấp tư sản Đức nhỏ bé, yếu hèn về kinh tế và
Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 13

chính trị không đủ sức làm cuộc cách mạng tư sản như cuộc cách mạng tư sản Pháp
(1789), mà chỉ mong muốn có những cải cách ôn hoà của giai cấp thống trị. Song,
Ăng-ghen cũng chỉ ra đóng góp to lớn của Hêghen trong sự phát triển tư tưởng triết
học của nhân loại như sau: “Nhưng tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống
Hêghen bao trùm một lĩnh vức hết sức rộng hơn lĩnh vực của bất cứ hệ thống nào
trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó; một sự phong phú về tư tưởng mà ngày

Đồng thời phép biện chứng mác xít không chỉ là phương pháp mà còn là lý luận hơn
thế nữa là lý luận hoàn thiện nhất, đầy đủ nhất, toàn diện nhất và không phiến diện
nhất về sự phát triển.
Cần phải đặc biệt nhấn mạnh rằng các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không bao
giờ coi công việc của mình nhằm chỉnh lý và cải tạo một cách duy vật đối với phép
biện chứng của Hêgen đã là hoàn tất. Trái lại cho đến tận cuối đời các ông vẫn
không ngừng nhắc nhở rằng cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu và những
khái quát mới về phép biện chứng Hêgen. Điều mà tiếc thay các ông chưa kịp thực
hiện.
Noi theo tấm gương của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin cũng kiên trì
nhấn mạnh về sự cần thiết phải tiếp tục công việc chỉnh lý một, cách duy vật đối với
phép biện chứng Hêgen. Trong bài viết “Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến
đấu” - tác phẩm được coi một cách xác đáng là di chúc triết học của Lênin - ông kêu
gọi thành lập “Hội những người bạn duy vâ
̣
t của phép biện chứng Hêgen” để tiến
hành công tác nghiên cứu giải thích và tuyên truyền phép biện chứng của Hêgen:
“Dựa vào cách của Mác đã vận dụng phép biện chứng của Hêgen hiểu theo quan
điểm duy vật, chúng ta có thê
̉
và cần phải nghiên cứu phép biện chứng đó trên tất cả
các mặt”.
Những chỉ dẫn rất quan trọng và quý báu đó cũng đồng thời là những kết luận
được chính Lênin rút ra từ các nghiên cứu riêng của ông về triết học Hêgen và trước
hết là về phép biện chứng Hêgen. Ngay từ giữa những năm 90 thế kỷ XIX, Lênin đã
vạch ra một cách sâu sắc ý nghĩa xã hội của phép biện chứng Hêgen, của mặt cách
mạng của nó mà thậm chí phái Hêgen mới đã bỏ qua trong bài viết nhan đề
"Phriđrích Ăngghen" Lênin viết: “Lòng tin của Hêgen vào lý tính của con người và
vào quyền lợi của con người và nguyên lý cơ bản của triết học Hêgen cho rằng trong
thế giới luôn diễn ra một quá trình liên tiếp biến hoá và phát triển đã dâ


Tiểu luận triết học GVHD: TS Bùi Văn Mưa

HVCH: Ngô Văn Long Page 16

KẾT LUẬN

Triết học Hêgen là một thứ "chủ nghĩa duy tâm thông minh", có những "hạt
nhân hợp lý" và rất có giá trị, trở thành một trong những tiền đề trực tiếp của chủ
nghĩa Mác, được các học giả và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh
giá rất cao.
Plêkhanốp, một người có học vấn uyên bác, từng được Lênin tôn làm thầy, đã
đánh giá Hêgen:"Chắc chắn sẽ mãi mãi được dành một trong những địa vị cao quí
nhất trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Trong các khoa học mà người Pháp gọi là
"khoa tinh thần và chính trị", không có một khoa học nào là không chịu ảnh hưởng
mãnh liệt và rất phong phú của thiên tài Hêgen: "Phép biện chứng, lôgic học, luật
học, mỹ học, lịch sử triết học và tôn giáo - tất cả những khoa học đó đều có một hình
thức mới nhờ sự tác động của Hêgen.
Hêgen đã để lại cho nhân loại một di sản triết học khổng lồ với những tư
tưởng cực kỳ phong phú và sâu sắc. Ông từng nói:"Cái triết học mới nhất của một
thời đại là kết quả của hết thẩy các triết học đã có từ trước và phải bao gồm những

6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status