TIỂU LUẬN: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – HỌC THUYẾT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN - Pdf 11



TIỂU LUẬN
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – HỌC THUYẾT VỀ
MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN LỜI NÓI ĐẦU
Phép biện chứng là một khoa học triết học, là một trong những phương
pháp chung nhất giúp con người nhận thức về sự vật, hiện tượng hay nhận thức về
thế giới xét trên nhiều phương diện thì phép biện chứng là một hiện tượng có ý
nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học lịch sử phép biện chứng đã
được hình thành và phát triển lâu đời có thể nói từ thời cổ đại khi mà triết học ra

hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN. Điều này đã thôi thúc tôi đến
với đề tài “Phép biện chứng duy vật – học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự
phát triển”
Với sự hiểu biết của một sinh viên không chuyên ngành triết học, còn hạn
chế trong thời gian đầu tư để hoàn thành tiểu luận chắc chắn có sự sai sót. Rất
mong sự đóng góp của quý thầy cô.
CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ NHỮNG HÌNH THỨC LỊCH
SỬ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
I. Phép biện chứng là gì?
Phép (phương pháp) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng HyLạp là methodos là
cách thức mà con người tiến hành làm một việc gì đó để đạt được mục đích của
mình. Tuy nhiên theo nghĩa khoa học thì phương pháp được hiểu là hệ thống
những nguyên tắc, yêu cầu được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để
điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm đạt được mục đích nhất định.
Trong triết học, khi giải quyết mặt thứ hai trong mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức, trả lời cho câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay
không thì có 2 ý kiến khác nhau:
+ Phái bất khả tri: cho rằng con người không có khả năng nhận thức được
thế giới bởi lẽ họ cho rằng nhận thức vận động và phát triển cho nên tại một điểm
nhất định thì sự vật A là A nhưng lại không phải là A khi con người nhận thức
được sự vật thì cũng là lúc sự vật đã biến đổi để trở thành các khác nó.
+ Phái khả tri: thì cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới
khách quan, bởi lẽ con người biết sử dụng những phương pháp cách thức khoa học
để nhận thức phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con
người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Do đó
phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong
hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực. Trên cơ sở những điều kiện khách quan
đã có, phương pháp càng đúng đắn thì kết qủa đạt được càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, quan niệm hoàn toàn
khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp chủ nghĩa duy tâm cho rằng

động, biến đổi và phát triển. Bản thân mỗi sự vật là một hệ cô lập, tách rời và hoàn
toàn không có sự liên hệ gì với các sự vật, hiện tượng khác trong thế giới khách
quan chính vì vậy trong tác phẩm “Chống Đuyring” Ph.Angghen đã chỉ ra hạn chế
của phương pháp siêu hình “chỉ thấy những sự vật cá biệt mà không thấy mối liên
hệ giữa các sự vật đó, chỉ thấy sự tồn tại của các sự vật mà không thấy sự ra đời và
biến đi của sự vật, chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà không thấy trạng thái
động của sự vật, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”. Angghen nhận xét tư duy của
nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung hòa được, họ
nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc là tồn tại hoặc là không
tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác nó.
Tóm lại, quan điểm siêu hình là quan điểm luôn xem xét sự vật trong trạng
thái biệt lập, ngưng đọng, tĩnh tại với tư duy cứng nhắc. Với tư cách đó tư duy siêu
hình chỉ có ý nghĩa trong những giới hạn hết sức chật hẹp, nếu vượt ra ngoài giới
hạn đó, tư duy siêu hình sẽ mắc sai lầm.
Đặc trưng của phương pháp biện chứng là nhận thức đối tượng trong mối
liên hệ, nhận thức đối tượng trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng.
Như vậy, đối lập với phươngpháp siêu hình thì phương pháp tư duy biện chứng là
tư duy linh hoạt, mềm dẻo. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, bên
cạnh cái “hoặc là… hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là” nữa.
Chẳng hạn, một vật hữu hình trong một lúc vừa là nó, vừa không phải là nó,
một cái tên đang bay trong mỗi lúc vừa ở vị trí A lại vừa không ở vị trí A; cái
khẳng định và cái phủ định loại trừ nhau lại vừa không thể lìa nhau.
Theo V.I. Lênin, phép biện chứng là “học thuyết về sự phát triển dưới h2nh
thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện“. Với tư cách là một học
thuyết hoàn chỉnh và sâu sắc như vậy, học thuyết này (khác với quan niệm siêu
hình về sự phát triển). Xem “sự phát triển… là sự thống nhất giữa các mặt đối lập
(sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối
quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)” “Theo nghĩa đen, phép biện chứng”
V.I.Lênin đã định nghĩa phép biện chứng là “Học thuyết vạch ra những mặt
đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất… tại sao lý trí

A và B là C, muốn đi đến điểm C thì phải đi qua điểm giữa của A và C là D; và
muốn đi đến điểm D thì phải đi qua điểm giữa của A và D là E… Cứ như thế,
Dênôn cho rằng phải đi qua điểm giữa giữa hai điểm là vô hạn, mà vô hạn thì
không vật nào có thể bay qua được, vì nếu đi qua được thì đã là hữu hạn rồi. Do
đó, vật đứng im mãi mãi không chuyển động gì hết.
Tiếp sau đó, biện chứng còn được hiểu là hùng biện, không xuyên tạc tri
thức, không xuyên tạc sự thật mà bằng tri thức thực có, khả năng tự có chinh phục
người khác bằng lời nói diễn đạt của mình.
Như vậy, các nhà triết học Hi Lạp cổ đại hiểu phép biện chứng như là nghệ
thuật tiến hành đàm thoại, tranh luận triết học để sao cho có thể thông qua sự xung
đột giữa các ý kiến trái ngược nhau mà phát hiện ra chân lý hay nói cách khác đó
là nghệ thuật phát hiện và phát minh chân lý. Cùng với quá trình phát triển của
mình, phép biện chứng theo nghĩa này cũng đã trở thành phương pháp nghiên cứu
các vấn đề khoa học trong đó có cả các vấn đề triết học.
* Từ thời Hêghen trở đi, biện chứng được hiểu là phương pháp. Đó là
phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng, nhận thức đối tượng trong trạng thái
vận động và phát triển. Như vậy, nếu hiểu biện chứng là phương pháp như vậy thì
cho đến nay, khi mà biện chứng đã trở thành phương pháp tư duy, khoa học để
nhận thức thế giới trên cơ sở một thế giới quan khoa học thì nó có 3 hình thức sau:
Biện chứng tự phát (thời cổ đại)
Biện chứng duy tâm
Biện chứng duy vật
BIỆN CHỨNG TỰ PHÁT (THỜI CỔ ĐẠI)
Hình thức thứ nhất của phép biện chứng được thể hiện trong triết học thời
cổ đại. Những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể trong
thế giới quan triết học của người Hylạp cổ đại. Về thực chất, những quan niệm và
tư tưởng biện chứng đó đã xuất hiện cùng với triết học. Phép biện chứng tự phát đã
xuất hiện, ngay từ khi triết học cổ đại ra đời, như Ph. Anghen đã khẳng định:
“Những nhà triết học cổ đại đều là những nhà biện chứng bẩm sinh”
Biểu hiện của phép biện chứng thời cổ đại có thể lấy ngay trong tư tưởng

động, phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (ông cụ là
Logos) quy định Logos. Khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang
diễn ra trong vũ trụ, còn Logos chủ quan là từ ngữ, lời nói, học thuyết, suy
nghĩ của con ngừơi.
Lý luận nhận thức của Hêraclit mang tính duy vật và biện chứng sơ khai
nhưng về cơ bản là đúng đắn . Marx và Ph.Anghen đã đánh giá một cách đúng đắn
giá trị thuyết học của Hêraclit coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy
Lạp.
Tư tưởng biện chứng thời cổ đại đó còn có thấy ở nhiều triết gia khác như
Đêmôcrit (Khoảng 460-370 trước CN), Xôcrat (Khoảng 469-399 trước CN)…
Đêmôcrit đã xây dựng lý thuyết về vũ trụ học, thuyết này được xây dựng trên cơ
sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật chất thấm nhuần tinh thần biện chứng tự
phát.
Ở phương Đông, tư tưởng biện chứng thời cổ đại có thể tìm thấy trong
thuyết Ngũ Hành và Thuyết Am Dương của người Trung Quốc. Theo thuyết Ngũ
hành thì có 5 yếu tố hay 5 hành chất đầu tiên của vũ trụ gồm : kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ. Tất cả vũ trụ, vạn vật đều do 5 khí ấy mà biến hóa ra. Các yếu tố của Ngũ
hành không tồn tại tĩnh bị động mà chúng là những yếu tố hoạt động (hành), liên
hệ, tương tác, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau. Các âm dương gia đã chia sự tác
động lẫn nhau của Ngũ hành thành hai quá trình mâu thuẩn, thống nhất nhau là:
tương sinh, tương khắc.
“Ngũ hành tương sinh” là quá trình các yếu tố tác động, chuyển hóa lẫn
nhau tạo ra sự biến chuyển liên hoàn trong vũ trụ, vạn vật. “Ngũ hành tương khắc”
là quá trình các yếu tố trong ngũ hành đối lập, tạo ra sự ràng buộc, chế ước lẫn
nhau giữa chúng. Đối với các vấn đề xã hội, thuyết này cho rằng quá trình lịch sử
loài người cũng bị 5 thế lực này chi phối và tuân theo sự biến đổi của Ngũ hành
Trái với thuyết Ngũ hành chủ yếu đi giải thích vũ trụ thì thuyết
Am dương đi sâu vào lý giải nguồn gốc và sự biến đỗi của vạn
vật trong thế giới. Thuyết này cho rằng, nguồn gốc biến hóa của
mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ là sự liên hệ, tác động giữa

rằng việc tìm hiểu các quy luật tư duy là cơ sở để tìm hiểu các
quy luật của tự nhiên và xã hội theo Hêghen, chính tư duy con
người thiết định, quy định nên thế giới tự nhiên chứ không phải
thế giới tự nhiên quy định nên tư duy con người
Hêghen kết hợp tồn tại với tư duy là một và cho ngọn nguồn xuất phát thực
thể đầu tiên của thế giới chính là tư duy, ý thức nhưng là “ý niệm tuyệt đối” hay
tinh thần vũ trụ. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật cho rằng ý niệm là sự phản ảnh
của thế giới vật chất hiện thực vào trong ý thức con người. Nhưng Hêghen đã tách
nó ra khỏi con người, làm cho nó thành đấng tối cao sáng tạo ra tự nhiên và nhân
loại. Ong cho rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng trên thế giới và ý thức của cá nhân
của nhân loại đều nằm trong ý niệm tuỵêt đối, là sự thể hiện ý niệm tuyệt đối
Y niệm tuyệt đối là một thực thể tinh thần, tồn tại trước giới tự nhiên. Nó tự
thiết định bản thân nó và phân biệt với bản thân nó. Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối
trong sự vận động biện chứng, đạt tới sự phát triển đầy đủ ngay từ trước khi giới tự
nhiên xuất hiện. Nó đã mang trong lòng sự qui định sau này. Sự phát triển biện
chứng đó của ý niệm tuyệt đối khi đạt tới đầy đủ thì “tha hóa” (theo ông tha hóa có
nghĩa là vận động và phát triển) thành giới tự nhiên, giới tự nhiên lại tha hóa thành
xã hội, rồi xã hội lại tha hóa quay về với ý niệm tuyệt đối nhưng không phải dưới
hình thức ban đầu mà nó ở mức độ cao hơn.
Dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên đương thời, Hêghen thừa nhận
giới tự nhiên nằm trong quá trình vận động và phát triển từ vô cơ – hữu cơ – con
người. Con người có khả năng phản ánh giới tự nhiên và khi con người phản ánh
được đầy đủ giới tự nhiên thì cũng có nghĩa là lúc ý thức con người đã quay trở về
điểm khởi đầu của nó là ý niệm tuyệt đối. Ý thức của mỗi cá nhân được khảo sát
coi như là sự tái diễn tư duy của toàn nhân loại, trải qua các giai đoạn phát triển
tiền thủy, sinh vật đến con người
Như vậy, điểm khởi đầu là “tinh thần” và điểm kết thúc cũng là tinh thần,
chỉ có khác là điểm khởi đầu là “tinh thần thế giới” hay “ý niệm tuyệt đối” còn
điểm kết thúc là “tinh thần thế giới” tồn tại ở mỗi cá nhân con người có thể nói, lần
đầu tiên trong lịch sử nhân loại Hêghen đã trình bày một cách có hệ thống khoa

Ph.Anghen phôi thai, phép biện chứng duy vật luôn thể hiện tính khoa học, tiên
phong của nó.
CHƯƠNG II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG HỌC
THUYẾT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương
pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế
giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người
trong nhân thức thế giới và cải tạo thế giới.
Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát những thành tựu của tất cả các
khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển tư tưởng
triết học của nhân loại. Phép biện chứng duy vật trình bày một cách có hệ thống,
chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới thông qua những phạm trù và những quy
luật chung nhất của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). Nội dung của phép biện
chứng duy vật rất phong phú và đa dạng nhưng tóm lại được khái quát qua hai
nguyên lý: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự vận động và phát
triển. Hai nguyên lý này được cụ thể hóa qua các quy luật. Các quy luật này được
chia thành các quy luật cơ bản và các quy luật không cơ bản(hay các cặp phạm trù
cơ bản). Các quy luật cơ bản chỉ về nguồn gốc của sự phát triển (quy luật mâu
thuẩn); chỉ ra cách thức sự phát triển(quy luật lượng đổi dần đến chất đổi) và chỉ ra
khuynh hướng của sự phát triển (quy luật phủ định của phủ định). Các quy luật này
cụ thể hóa đặc trưng thứ hai của phép biện chứng đó là sự vận động và phát triển
của sự vật. Các quy luật không cơ bản (hay các cặp phạm trù cơ bản) chúng đề cập
đến tính đa dạng của các mối liên hệ, là sự cụ thể hóa nguyên lý về mối quan hệ
phổ biến, cụ thể hóa về sự liên hệ trong biện chứng chúng bao gồm:
 Cái chung và cái riêng
 Nguyên nhân và kết quả
 Tất nhiên và ngẫu nhiên
 Nội dung và hình thức
 Bản chất và hiện tượng
 Khả năng và hiện thực.

biến của các sự vật và hiện tượng trong thế giới, coi đây là đặc trưng cơ bản của
phép biện chứng duy vật.
Khái niệm liên hệ phổ biến nói lên rằng các sự vật và hiện tượng muôn hình
muôn vẻ trong thế giới không có cái nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập với các sự
vật khác mà chúng là một thể thống nhất, trong đó các sự vật khác mà chúng là
một thể thống nhất, trong đó các sự vật và hiện tượng tồn tại bằng cách tác động
nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau góp phần quy định sự tồn
tại và phát triển của nhau, tự bản thân mỗi sự vật, hiện tượng không thể tự quyết
định sự tồn tại và phát triển của chính nó. Điều đó là dễ hiểu vì vật chất biểu hiện
sự tồn tại của mình bằng vận động, mà vận động thì có nghĩa là liên hệ Ph.Anghen
viết:”Tất cả thế giới mà chúng ta nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp
gồm các vật thể khắng khít với nhau…”
Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật và hiện tượng trong tự
nhiên, trong xã hội, trong tư duy mà còn diễn ra đối với các mặt, các yếu tố, các
quá trình của mỗi sự vật và hiện tượng. Ví dụ: Trong giới tự nhiên, giữa động vật
và thực vật, giữa cơ thể sống và môi trường có quan hệ với nhau; trong đời sống xã
hội, giữa các cá nhân, các tập đoàn người, giữa cá quốc gia có quan hệ với nhau…
 Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng có tính khách quan, là các
vốn có của các sự vật và hiện tượng, nó bắt nguồn từ tính thống nhất
vật chất của cả thế giới biểu hiện trong các quá trình tự nhiên, xã hội
và tư duy. Mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng này khách quan
vì nó không phụ thuộc vào ý thức con người, tồn tại ngoài ý thức con
người.
 Mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng còn có tính đa dạng(riêng
biệt) sự vật khác nhau, ở những không gian và thời gian khác nhau
thì sẽ có những mối liên hệ khác nhau. Ngay chính bản thân mỗi sự
vật ở những nơi khác nhau sẽ có mối liên hệ khác nhau, vào những
thời điểm khác nhau sẽ có mối liên hệ khác nhau.
Như vậy, theo quan điểm của khoa học hiện đại thì mỗi sự vật đều được xem
là một hệ thống nghĩa là bao hàm trong sự vật ấy nhiều bộ phận, nhiều yếu tố,

với nguyên lý về sự phát triển. Hai nguyên lý này thống nhất hữu cơ với nhau, bởi
vì liên hệ cũng có nghĩa là vận động, không có vận động sẽ không có sự phát triển
nào.
Mọi sự vật ở trạng thái động nằm trong khuynh hướng chung là sự phát
triển, nguồn gốc của sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập để giải quyết
mâu thuẩn nội tại của sự vật. Cách thức của sự phát triển là lượng của sự vật biến
đổi dẫn đến chất của sự vật biến đổi và ngược lại. Khuynh hướng của sự phát triển
là theo đường tròn xoáy ốc đi lên là quá trình phủ định của phủ định.
Cần phân biệt khái niệm vận động và khái niệm phát triển. Mọi sự vật đều
có quá trình hình thành tồn tại và biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Sự biến đổi, chuyển hóa này là vô cùng, vô tận với những tính chất và khuynh
hướng khác nhau. Có những biến đổi làm cho sự vật mới ra đời nhưng cũng có sự
biến đổi dẫn đến sự tan rã, tiêu vong của các vật thể, vật chất, hoặc caí lạc hậu thay
thế cái tiến bộ …đây chính là khái niệm vận động nói chung.
Tuy nhiên khái niệm phát triển không bao quát mọi sự vận động nói chung.
Nó chí khái quát xu hướng chung của vận động, xu hướng vận độnglà đi lên, cái
mới ra đời thay thế cho cái cũ. Sự vận động đi lên có thể diễn ra theo các chiều
hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện… tùy theo các lĩnh vựa khác nhau của thế giới vật chất và sự phát triển thể
hiện khác nhau.
Trong giới vô cơ, sự phát triển biểu hiện dưới hình thức biến đổi của các
yếu tố và hệ thống vật chất, sự tác động lẫn nhau giữa chúng trong những điều
kiện nhất định làm xuất hiện các hợp chất phức tạp. Chẳng hạn sự tác động lẫn
nhau giữa các nguyên tử, phân tử dẫn đến sự hình thành các hợp chất hóa học.
Trong sinh vật, sự phát triển của chúng thể hiện ở khả năng thích nghi trước sự
biến đổi phức tạp của môi trường, ở sự hoàn thiện. Không ngừng quá trình trao đổi
chất, ở sự tái sinh ra chính mình đã dẫn đến sự xuất hiện ngày càng phong phú các
giống loài mới. Trong xã hội, sự phát triển thể hiện ở sự thay thế nhau ngày càng
cao hơn của các phương thức sản xuất…
Như vậy, sự phát triển và đổi mới là hiện tượng diễn ra không ngừng trong

chung nhất của thế giới. Còn các cặp phạm trù và quy luật là lý luận nghiên cứu
các mối liên hệ và khuynh hướng phát triển trong thế giới của các sự vật hiện
tượng và quá trình cụ thể. Chính vì thế, các cặp phạm trù và các quy luật của phép
biện chứng duy vật. Nguyên lý của phép biện chứng là quan niệm bao quát những
tính chất chung nhất của thế giới còn các cặp phạm trù và quy luật là lý luận
nghiên cứu các mối liên hệ và khuynh hướng phát triển trong thế giới của các sự
vật, hiện tượng và quá trình cụ thể. Chính vì thế, các cặp phạm trù và các quy luật
của phép biện chứng duy vật cho ta phương pháp luận thực hiện quan điểm toàn
diện và quan điểm phát triển gắn liền với quan điểm lịch sử cụ thể trong việc nhận
thức và hoạt động thực tiễn.
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp
luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan
điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể về phương tiện vạch ra nguồn gốc
động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật hiện tượng trên
thế giới.
* Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là quy
luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng. Quy luật này vạch ra nguồn gốc,
động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên
trong sự vật.
Mỗi sự vật là một chỉnh thể bao gồm những mặt, những yếu tố khác
nhau, liên kết với nhau tạo thành. Trong đó có những mặt, những yếu tố, những
khuynh hướng ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập cứ hai mặt đối lập thì
tạo nên một mâu thuẫn những mặt đối lập này vừa thống nhất với nhau đến một
mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải
quyết, khi đó sự vật chuyển hoá, là cho sự vật mới ra đời sẽ có những mặt đối lập
mới những mâu thuẫn mới… Qúa trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập vừa được hình thành đến một lúc nào đó thì mâu thuẫn lại được giải quyết, sự
vật lại được chuyển hoá… Như vậy, đấu tranh giữa các mặt đối lập để giải quyết
mâu thuẫn nội tại của sự vật là nguồn gốc của sự phát triển.
* Quy luật về lượng của sự vật thay đổi dẫn đến chất của sự vật thay

giữa các yếu tố cấu thành).
+ Thay đổi mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác, nhất là
thay đổi cơ chế của mối quan hệ.
+ Thay đổi chức năng của các yếu tố, của toàn bộ sự vật với tư cách là
một hệ thống.
+ Thay đổi môi trường tồn tại của sự vật hiện tượng kể cả môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội.
Và cũng cần phải xác định trong đời sống xã hội chất lượng tự nhiên
và chất lượng xã hội của sự vật khi nào cần nhấn mạnh cái này hay cái kia tuỳ vào
từng điều kiện cụ thể.
* Quy luật phủ định của phủ định: Quy luật này chỉ ra khuynh hướng
của sự phát triển. Quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng không phải diễn ra
theo đường thẳng mà là một đường quanh co được biểu diễn bằng đường xoáy ốc
đi lên. Đây là quá trình phủ định của phủ định, trong đó cái mới ra đời thay thế cái
cũ và cứ thế hết một chu kỳ sự vật lặp lại dường như cái cũ và cứ thế hết một chu
kỳ sự vật lặp lại dương như cái ban đầu nhưng ở mức độ cao hơn. Đó chính là cơ
sở phương pháp phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp luận của phương
pháp phủ định biện chứng. Chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hoạt động của
con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải có tính kế thừa nhưng kế thừa phải có
tính chọn lọc, cải tạo, phê phán, chồng kế thừa nguyên si, máy móc và phủ định
sạch trơn, chủ nghĩa hư vô đối với quá khứ.
Tóm lại, có thể nói phép biện chứng duy vật là phương pháp xem xét đối
tượng về nhận thức thế giới một cách khoa học với một hệ thống những nguyên lý,
những quy luật, những cặp phạm trù đã phản ánh một cách cụ thể và khoa học nhật
sự tồn tại cũng như quá trình vận động và phát triển của thế giới nói chung từ giới
tự nhiên, xã hội và tư duy con người, chỉ rõ những nguồn gốc, cách thức và
khuynh hướng phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Từ
đó giúp con người rút ra được những phương pháp luận quan trọng chỉ đạo mọi
hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn của con người. Như V.I.Lênin nói: “Phép
biện chứng duy vật là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và phát triển”.

thời đồng thời đi tắt đón đầu một cách cải thiện.
Quy luật phủ định của phủ định: loại bỏ cái lợi thời lạc hậu, tiếp thu cái tiến
bộ. Về kinh tế: gạt bỏ tính chất tự phát của nền kinh tế thị trường (về mục đích)
nhưng vẫn giữ lại cơ chế thị trường (về bản chất) theo định hướng xã hội chủ nghĩa
dựa trên sự tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường với mục đích
là nền dân chủ xã hội chũ nghĩa. Trong khi đổi mới về kinh tế gạt bỏ tính trì trệ của
nền sản xuất bao cấp, không phát huy tính tích cực, sáng tạo của người lao động
nhưng vẫn giữ lại tinh thần tương thân tương trợ, giữ lại kế hoạch vĩ mô dựa trên
cơ sở thị trường bằng những hoạt động thực chất của người lao động dựa trên nhu
cầu thực chất của xã hội.

KẾT LUẬN
Phép biện chứng đã xuất hiện lâu đời cùng với lịch sử phát triển của triết
học. Có thể nói từ khi xã hội loài người xuất hiện và con người thể hiện khát vọng
nhận thức và chinh phục thế giới thì cũng là lúc mà phép biện chứng bắt đầu phối
thai ra đời.
Trong quá trình hình thành tồn tại và phát triển của mình, cùng với sự hoàn
thiện dần của con người về năng lực nhận thức và từ sự duy trì phép biện chứng
cũng ngày càng được hoàn thiện hơn so với phép biện chứng tự phát vào thời cổ
đại thì đến nay phép biện chứng đã được xây dựng trên một thế giới quan khoa
học. Đó chính là phép biện chứng duy vật Mácxit thành quả to lớn và vĩ đại của
Marx và Anghen.
Phép biện chứng duy vật macxit có một nội dung cực kỳ phong phú và đa
dạng, nó bao gồm hệ thống những nguyên lý, những quy luật và những cặp phạm
trù chi phối quá trình hình thành tồn tại và phát triển của mọi sự vật hiện tượng
trong thế giới khách quan, từ các quy luật tự nhiên, đến các quy luật xã hội và cả
hoạt động tư duy của con người.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến chỉ ra rằng tất cả mọi sự vật trong thế
giới khách quan đều có mối liên hệ, tác động qua lại, ràng buộc và qui định nhau,
quyết định sự tồn tại và phát triển của nhau. Nguyên lý về sự vận động và phát

3. Lịch sử phép biện chứng (viện triết học – viện hành lâm khoa học Liên
Xô) tập 1,2,3 và 4.
4. Giáo trình trường Đảng cao cấp Nguyễn Ai Quốc (Triết học Mác –
Lênin, phần chủ nghĩa duy vật biện chứng,). Nhà xuất bản sách giáo khoa
Mac- Lênin, 1981.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status