ĐỀ TÀI : Hãy phân tích một trong hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật .
Ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng của bản thân .
MỤC LỤC
Phần I: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
1.1Sự ra đời của phép biện chứng duy vật
1,2Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
1.2.1Khái quát về mối liên hệ phổ biến
1.2.2 Cơ sở khoa học mối liên hệ phổ biến
1.2.3 Nội dung nguyên lý
1.2.4 Tính chất của mối liên hệ phổ biến
1.2.5 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Phần II : Vận dụng của bản thân
1.Trong cuộc sống
2.Trong học tập
LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những
nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng
đắn hiện thực. Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất. Vì thế Ph.Ăngghen
đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội
loài người và của tư duy”.
Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng
vai trò xương sống trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin
khi xem xét, kiến giải sự vật, hiện tượng.
Nhóm 4 sẽ đi phân tích về nguyên lý mối liên hệ phổ biến, từ đó sẽ rút ra được
ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý này , nhằm áp dụng vào thực tiễn
thông qua sự vận dụng của bản thân chúng ta.
Phần I: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
1.1 Sự ra đời của phép biện chứng duy vật
Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng. Trải
sự phát triển chung nhất của thế giới. Vì vậy P.Ăngen đã định nghĩa: “phép
biện chứng…là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và
sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.”
1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
1.2.1 Khái quát về mối liên hệ phổ biến
Trong thế giới có vô vàn các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác
nhau. Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau
hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Trong lịch sử triết học, để trả lời
câu hỏi đó, ta thấy có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các
sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái
kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn
nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định
bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Tuy vậy, trong số những người theo quan
điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối
quan hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng phong phú, song các hình thức
liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng hạn giới vô
cơ và giới hữu cơ không có mối liên hệ gì với nhau, tồn tại độc lập không
thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ tạo
thành xã hội đứng yên không vận động
Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện
tượng và các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động
qua lại, chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng hạn, bão từ diễn ra trên mặt trời sẽ tác
động đến từ trường của trái đất và do đó tác động đến mọi sự vật, trong đó
có con người; sự gia tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế, xã
hội, giáo dục y tế.v.v; môi trường ảnh hưởng to lớn đến con người không chỉ
trong một nước mà trên toàn thế giới và ngược lại, hoạt động của con người
cũng tác động, ảnh hưởng làm biến đổi môi trường.
1.2.2 Cơ sở khoa học
Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó? Trả lời câu
liên hệ giữa các sự vât và hiện tượng. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế
giới dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng dều chỉ là
những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật
chất. Engels đã nhấn mạnh điều này
“ Tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này
được chứng minh không phải bằng ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật,
mà bằng sự phát triển lâu dài và khó khăn của Triết học và khoa học tự
nhiên”
Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà
tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ
xác định. Chính trên cơ sở đó triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng
mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định sự tác động qua lại
sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của
một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
1.2.3 Nội dung nguyên lý
Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại
trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực
Mối liên hệ mang tính khách quan và phổ biến. Nó chi phối tổng quát sự vận
động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xãy ra trong thế giới; và là đối
tượng nghiên cứu của phép biện chứng.
Mối liên hệ phổ biến được nhận thức trong các phạm trù biện chứng như mối
liên hệ giữa: mặt đối lập- mặt đối lập; chất – lượng, cái cũ – cái mới; cái
riêng- cái chung; nguyên nhân- kết quả; nội dung – hình thức; bản chất- hiện
tượng; tất nhiên- ngẫu nhiên; khả năng – hiện thực.
Nội dung nguyên lý:
◊ Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên
hệ ràng buộc lẫn nhau.
◊ Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên
hệ phổ biến
◊ Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách
( không khí, nhiệt độ…), còn có mối liên hệ với con người ( con người chăm
sóc cây xanh, chặt phá rừng…). Trong xã hội, không có người nào mà không
có các mối quan hệ xã hội như: quan hệ hàng xóm, gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp…, các hình thái kinh tế-xã hội cũng có mối liên hệ với nhau, hình thái
kinh tế -xã hội sau ra đời từ hình thái kinh tế-xã hội trước(công xã nguyên
thủy-chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa).
Trong tư duy, có mối liên hệ giữa các sự suy đoán, các tâm tư, tình cảm, các
cách suy nghĩ khác nhau ví dụ như : nhìn vào một cô gái ta có các suy đoán cô
ấy là người giàu có, cô ấy không được tốt, cô ấy rất khó tính… Trong thời đại
ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, không có liên hệ với các
quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội. Chính vì thế, hiện nay, trên thế
giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt đời
sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói
nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái, dân số và kế hoạch hoá gia
đình, chiến tranh và hoà bình.v.v.
Ø Mối liên hệ có tính đa dạng, muôn vẻ
Xuất phát từ tính đa đạng muôn màu muôn vẻ của thế giới vật chất. Có nhiều
hình thức mối liên hệ, mỗi hình thức mối liên hệ có vai trò, vị trí, đặc điểm
riêng của nó.
+ Mối liên hệ bên trong :
Là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các, các
thuộc tính, các mặt khác nhau của sự vật, nó giữ vai trò quyết định sự tồn tại,
vận động và phát triển của sự vật. Ví dụ : trong xã hội tư bản chủ nghĩa, có
mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và công nhân giải quyết nó làm cho xã hội
phát triển. Trong bản thân con người có mâu thuẫn giữa hai quá trình đồng
hóa và dị hóa giải quyết nó làm cho cơ thể phát triển….
+ Mối liên hệ bên ngoài :
Là mối liên hệ giữa một sự vật, hiện tượng này với một sự vật hiện tượng
khác, hoặc một sự vật, hiện tượng này với các sự vật hiện tượng khác.
Mối liên hệ này không quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật
như các loài cá ,chim và thú đều có quan hệ với nước nhưng cá với nước là
mối liên hệ về môi trường sống, cá chủ yếu sống trong nước còn chim và thú
thì không sống được trong nước .Nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết bởi
vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát
triển của sự vật. Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách
tác động phù hợp, nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình.
1.2.5 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối liên hệ phổ biến.
Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến có thể
rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực
a) Quan điểm toàn diện
Vì bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ
với các sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng phong phú, do đó khi nhận
thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan
điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết
luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ
qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và
trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ
trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng
về sự vật. Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức của khoa học
triết học, chúng ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức triết học với tri
thức khoa học khác, với tri thức cuộc sống và ngược lại, vì tri thức triết học
được khái quát từ tri thức của các khoa học khác và hoạt động của con
người, nhất là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội.
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối
liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất,
mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên để hiểu rõ bản chất của sự vật và
có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong sự
phát triển của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng
ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều
con người. Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở
chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối kiên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều
mối liên hệ của sự vật vẫn có thể là phiến diện, nếu chúng ta đánh giá ngang
nhau những thuộc tính, những tính quy định khác nhau của sự vật được thẻ
hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực
đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật
đến chỗ khái quát đẻ rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của
sự vật hay hiện tượng đó. Quan điểm toàn diện khác với chủ nghĩa chiết
trung và thuật nguỵ biện. Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều
mặt khác nhau thế nhưng lại kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau
của sự vật. Chính vì vậy hoàn toàn bất lực khi phải đưa ra một quyết sách
đúng. Còn thuật nguỵ biện cũng để ý tới những mặt khác nhau của sự vật,
nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành
cái bản chất.Ví dụ: biện hộ cho việc ăn cướp là vì nghèo. Theo luật Hình sự thì
đây chỉ là tình tiết giảm nhẹ mà thôi-> vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Cả
hai đều đưa đến nhứng kết luận sai lầm.
b) Quan điểm lịch sử - cụ thể
Vì sự vật nào cũng có quá trình hình thành tồn tại, biến đổi và phát triển ,mỗi
giai đoạn phát triển của sự vật lại có những mối liên hệ riêng đặc trưng cho
nó. Cho nên khi xem xét sự vật vừa phải xem xét quá trình phát triển của nó,
vừa phải xem xét trong từng điều kiện quá trình . Do đó cần phải có quan
điểm lịch sử , cụ thể.
Vậy thế nào là quan điểm lịch sử - cụ thể?
Chúng ta có thể tách chúng ra làm 2 phần để dễ hiểu hơn : lịch sử và cụ thể.
Quan điểm lịch sử là sao?
Nhiều người nghĩ đó là quan điểm cho rằng khi xem xét bất kỳ chuyện gì
chúng ta đều phải xét tới hoàn cảnh lịch sử mà chuyện đó diễn ra. Ví dụ, thời
nay ai cũng có thể phán là Khổng Minh nên làm thế này, thế nọ thì tốt hơn là
cách ông đã làm. Tuy nhiên cần đặt mình vào trong bối cảnh lịch sử thời đó
để hiểu vì sao Khổng Minh lại có quyết định như thế chứ không phải khác.
Nếu không hiểu điều này, người ta sẽ nghĩ rằng kinh tế thị trường, với các
phạm trù hàng hóa, giá cả, lợi nhuận, cũng như chế độ lao động làm thuê, là
cái gì đó rất tự nhiên, mang tính vĩnh viễn.
Lấy ví dụ khác nữa: Con người ta từ lúc mới sinh ra cho tới lúc chết đi đều
trải qua các giai đoạn phát triển sinh – lão – bệnh – tử, và mỗi giai đoạn có
những nét đặc trưng riêng. Lúc còn bé thì hay khóc nhè. Lớn lên một chút thì
hết khóc nhè, nhưng lại sinh ra tính thích làm những gì mình thích,nông nổi.
Lúc về già thì lại hay dỗi,ốm yếu , bệnh tật. Như thế mỗi giai đoạn phát triển
có những nét đặc thù mang tính lịch sử của nó. Hiểu được điều đó, tức là nắm
được “cái tất yếu” – nói theo kiểu Hegel – thì sẽ biết cách đối xử đối với từng
lứa tuổi một cách hợp lý nhất.
Quan điểm lịch sử cho rằng ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định, trong
những điều kiện nhất định, thì các sự vật, hiện tượng có những thuộc tính,
phạm trù, khái niệm, quy luật nhất định, tương ứng với giai đoạn đó, điều
kiện đó. Vậy, mỗi khi xem xét một hiện tượng nào đó, ta phải xét xem nó mang
tính vĩnh viễn hay lịch sử, và nếu nó mang tính lịch sử, thì đâu là những điều
kiện đã khiến nó phát sinh, phát triển rồi tiêu vong (ngôn ngữ biện chứng gọi
các điều kiện đó là các “tính quy định lịch sử - tiếng Đức là geschichtliche
Bestimmungen”). Ví dụ, khi nói tới thị trường chứng khoán Việt Nam, thì phải
hiểu là nó đang ở giai đoạn sơ khai và do đó nó có những nét đặc thù :chụp
giựt, thiếu minh bạch, lừa đảo v.v…
Còn thế nào là quan điểm cụ thể ?.
Cũng theo Hegel, mọi sự đều phát triển dần dần, từ thấp đến cao, đơn giản
đến phức tạp, từ trừu tượng đến cụ thể. Vậy “cụ thể” ở đây là cái đối lập với
“trừu tượng”. Hai cái này có ý nghĩa gì?
Theo Hegel thì “trừu tượng” nghĩa là sự vật đang ở mức độ phát triển rất
thấp, còn rất giản đơn, thiếu các nội dung, thuộc tính. Sự vật càng phát triển
thì nó càng có thêm nhiều nội dung, thuộc tính phong phú hơn, và Hegel gọi là
càng “cụ thể” hơn.
Như thế, khi đề cập đến bất kỳ vấn đề gì, ta cũng cần tránh lối nói chung
vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình. Đối với sinh
viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các
nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của
mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng
tươi đẹp.
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong cuộc sống
Chúng ta hiện nay đều là những tân sinh viên, khi mới nhập học hầu như là
không quen biết nhau. Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy , chắc chắn chúng ta đều
có những ấn tượng đầu tiên về ngoại hình , tính cách của bạn đó. Nhưng nếu
chỉ qua 1 vài lần gặp mặt mà chúng ta đã đánh giá bạn là người xấu hoặc
tốt , dễ tính hay khó tính. Cách đánh giá như vậy là phiến diện , chủ quan trái
với quan điểm toàn diện.Điều có thể làm cho chúng ta có những quyết định
sai lầm . Chẳng hạn như khi nhìn thấy một người có gương mặt ưa nhìn , ăn
nói nhỏ nhẹ đã vội vàng kết luận là người tốt và muốn làm bạn , còn khi nhìn
thấy một người ít nói , không hay cười thì cho là khó tính không muốn kết
bạn. Qua một thời gian kết bạn mới nhận ra người bạn mà mình chọn có
những đức tính không tốt như lợi dụng bạn bè, ích kỷ. Còn người bạn ít nói
kia thực ra rất tốt bụng , hay giúp đỡ bạn bè. Ấn tượng đầu tiên chỉ quyết
định đến quá trình giao tiếp về sau. Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng
khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng phải xem xét đánh giá một cách
toàn diện , mọi mặt của vấn đề để hiểu được bản chất thật sự của sự vật hiện
tượng. Chúng ta không thể chỉ nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo
đức của người đó.Vẻ bề ngoài không nói lên được tất cả , có thể bạn đó có
gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ gần. Vì vậy
muốn đánh giá 1 con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài , nhìn nhận
họ trên mọi phương diện , ở từng thời điểm ,từng hoàn cảnh khác nhau.
Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao
cho phù hợp với từng con người. Đối với những người bề trên như ông ,bà ,bố
,mẹ, thầy cô… thì chúng ta cần có thái độ cư xử lễ phép, tôn trọng họ. Đối với
bạn bè thì có những hành động , thái độ thoải mái,tự nhiên .Ngay cả quan hệ
- Học phải gắn với hành thì việc học có kết quả nhanh hơn. Người xưa vẫn
dạy rằng: “Trăm hay không bằng tay quen”. Lao động thời nào cũng vậy, phải
luôn ý thực là lí thuyết hay cũng không bằng thực hành giỏi. Vai trò của thực
hành được đề cao là điều hiển nhiên.
Ngày nay với đà phát triển của xã hội, quan niệm lí thuyết và thực hành được
hiểu khác hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời nhau.
Trước hết ta cần hiểu : “học” là tiếp thu kiến thức đã được tích luỹ trong sách
vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời
tếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước. “Học” là trau dồi kiến
thức, mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của mình, không để
tụt lùi, lạc hậu. “Học” là tìm hiểu, khám phá những tri thức của loài người
nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ. Còn “hành” nghĩa là làm, là
thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời sống. Cho nên
học và hành có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Học và hành là hai mặt
của một qua trình thống nhất, nó không thể tách rời mà phải luôn gắn chặt
với nhau làm một.
Chúng ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập.
Một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta không vận dụng
vào thực tiễn, thì học cũng trở nên vô ích. Có nhiều bạn trẻ khi rời ghế nhà
trường vào một nhà máy, một cơ quan… Lúng túng không biết phải làm công
việc mà chuyên môn mình đã được học như thế nào? Dẫn đến gặp rất nhiều
khó khăn, nhiều khi là sự hoang mang, chán nản. Nguyên do dẫn đến việc
“học” mà không “hành” được là do học không thấu đáo, khi còn ngồi trên ghế
nhà trường không thật sự chuyên tâm, rèn luyện, trau dồi kiến thức hoặc
thiếu môi trường hoạt động.
Ngược lại nếu hành mà không có lí luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã
được đúc kết dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng, gặp rất
nhiều khó khăn trở ngại, thậm chí có khi còn dẫn đến những sai lầm to lớn
nữa. Do vậy việc học tập, trau dồi kiến thức và kinh nghiệm là nền tảng để
mỗi người áp dụng vào thực tế, thực hành trong thực tiễn cuộc sống.
cả tài và đức. Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì con người mới trở nên
toàn diện, mới đạt hiệu quả lao động cao và mới có ích cho mọi người.
Chúng ta hiện nay đang là những sinh viên, là những người đang trong quá
trình phát triển về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân
cách cho nên thời kì này phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân,
phải rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, cả đức cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình,
nhà trường và xã hội để trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa nhằm đáp
ứng nhu cầu của xã hội hiện nay làm nền tảng cho sự phát triển tiếp tục trong
tương lai.