TRIẾT HỌC:
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa
của mối quan hệ trên đối với hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn.
Lịch sử phát triển của triết học gắn liền với quá trình đấu
tranh gay gắt giữa hai trường phái đối lập: Chủ nghĩa duy tâm
cho rằng thế giới do ý thức sáng tạo ra và bị chi phối bởi ý
thức và Chủ nghĩa duy vật cho rằng thế giới là vật chất và mọi
sự vận động biến hóa của thế giới đều là kết quả của sự vận
động biến hóa của thế giới vật chất ấy. Chính C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I.Lênin là những người tiên phong, kế thừa
những giá trị tích cực, chỉ ra những hạn chế trong quan niệm
của các trường phái triết học trước đây, đồng thời tổng kết
những thành tựu của khoa học đương thời để sáng lập nên chủ
nghĩa duy vật biện chứng, trong đó đã khái quát và hình thành
quan niệm hết sức khoa học, rõ ràng về vật chất, ý thức và
mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Điều này đã mang lại
nhiều ý nghĩa to lớn về lý luận cũng như trong hoạt động thực
tiễn của nhân loại và có giá trị cho đến ngày nay.
Về vật chất: Kế thừa những tư tưởng triết học trước đây,
C.Mác, Ph.Ăngghen đã có nhiều nghiên cứu về vật chất, đặt
nền móng cho Lênin hoàn thiện nên một định nghĩa rất khoa
học về vật chất, theo đó: “Vật chất là một phạm trù triết học
dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp
lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Theo Lênin, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan. Khác với khoa học tự nhiên xem vật chất
gắn với các dạng vật thể cụ thể, phạm trù vật chất theo Lê Nin
là vật chất nói chung, nó là vô hạn, không sinh ra và không
thức tồn tại của vật chất.
Định nghĩa của Lê nin về vật chất đã bao quát toàn bộ thế
giới hiện thực, đã cung cấp thế giới quan và phương pháp
luận khoa học để khắc phục những cuộc khủng hoảng trong
khoa học, đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa
duy tâm, thuyết không thể biết, giúp cho các nhà khoa học đi
sâu nghiên cứu thế giới vật chất, làm phong phú thêm tri thức
của con người về thế giới. Trong nghiên cứu khoa học và hoạt
động thực tiễn, muốn nhận thức đúng sự vật, hiện tượng,
chúng ta phải đặt chúng trong quá trình vận động, trong
không gian và thời gian cụ thể của nó.
Về ý thức: Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là
phạm trù triết học chỉ những hoạt động tinh thần phản ánh thế
giới vật chất, diễn ra trong bộ óc người, được hình thành
trong quá trình lao động và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ. Bản
chất của ý thức thể hiện qua các điểm sau:
Một là, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ
não người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Ý thức có nguồn
gốc tự nhiên và xã hội. Bản chất của ý thức chính là sự phản
ánh các sự vật hiện tượng vào óc người một cách tích cực,
năng động và sáng tạo. Ý thức là cái phản ảnh thế giới khách
quan, nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ
quan, không có tính vật chất. Tuy nhiên, ý thức không phải là
bản sao giản đơn, thụ động máy móc của sự vật. Ý thức phản
ảnh thế giới khách quan trong quá trình con người tác động
cải tạo thế giới.
Hai là, thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức. Nội
dung của ý thức do thế giới khách quan quy định, thế giới
khách quan giống như “bản chính”, còn ý thức giống như
“bản sao”. Ý thức không phải là thế giới khách quan, mà chỉ
trong không gian và thời gian, còn ý thức chỉ là kết quả của
một quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là một
thuộc tính của một thực thể vật chất có tổ chức cao nhất là bộ
óc người; do vậy, không thể có ý thức trước khi có con người
hay ý thức nằm ngoài, độc lập với con người. Vật chất là cái
có trước, ý thức là cái có sau, vật chất tồn tại độc lập với ý
thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức. Mặc dù ý thức không
phản ánh nguyên vẹn thế giới khách quan mà là sự phản ánh
sáng tạo, nhưng sự sáng tạo đó đều phải xuất phát từ những
tiền đề vật chất và phải tuân thủ quy luật khách quan. Vận
dụng vào thực tiển có thể thấy: Để mục đích, chủ trương,
nhiệm vụ mà chúng ta đặt ra cho hoạt động thực tiễn là đúng
đắn, thì phải xuất phát từ thực tế khách quan và phù hợp với
các quy luật khách quan; mọi ý thức, tư tưởng chỉ có thể tồn
tại, phát triển trên cơ sở những mối quan hệ vật chất, điều
kiện, hoàn cảnh nhất định; tự bản thân ý thức tư tưởng không
thể trực tiếp làm thay đổi hiện thực.
Mặt khác, mặc dù ý thức “tự nó không làm gì được” nhưng
thông qua hoạt động của con người, ý thức có thể làm biến
đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí nó còn có
thể tạo ra “thiên nhiên thứ hai” để phục vụ con người. Xã hội
càng phát triển thì vai trò ý thức càng lớn. Tuy nhiên, vai trò ý
thức nói trên chỉ được thể hiện mỗi khi ý thức phản ánh đúng
hiện thực khách quan, do đó sẽ thúc đẩy hoạt động thực tiễn
theo khuynh hướng đi lên trong quá trình cải tạo thế giới. Nếu
ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, hoặc phản
ánh đúng hiện thực khách quan nhưng nó được vận dụng
nhằm phục vụ cho lợi ích của các giai cấp, các lực lượng xã
hội phản động, lỗi thời thì ý thức sẽ có tác dụng tiêu cực,
5 6 7
trái quy luật, con người đều phải trả giá. Bài học mà đất nước
ta đã gặp phải trước đổi mới: Việc vận hành nền kinh tế theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong một thời gian dài sau
chiến tranh đã triệt tiêu sự phát triển của các thành phần kinh
tế, không công nhận kinh tế thị trường và các quy luật vốn có
của nó như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh dẫn đến sự
khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, kéo theo nhiều hệ lụy về
mặt xã hội mà Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, sửa sai trong
quá trình đổi mới.
Thứ hai, không chỉ tôn trọng quy luật khách quan mà trong
thực tiễn, con người cần phải nhận thức được và vận dụng các
quy luật khách quan một cách sáng tạo, hành động theo quy
luật khách quan nhằm cải tạo thế giới hiện thực, đưa thế giới
hiện thực đi lên theo xu hướng tiến bộ xã hội. Đó là: sáng tạo
trong việc vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương, đơn vị; sáng suốt phân
tích, dự báo tình hình, xu hướng vận động, để đề ra các chủ
trương, đường lối phát triển đúng đắn, nhằm khai thác tốt các
tiềm năng, thế mạnh của mình; kiên định mục tiêu, kiên định
tổ chức thực hiện; đồng thời không ngừng động viên, khích lệ
tinh thần của mọi người để thực hiện thành công mục tiêu đã
đề ra. Cần phải cương quyết chống chủ quan duy ý chí, nóng
vội, xa rời thực tế hay hành động bất chấp quy luật, hoàn cảnh
cụ thể. Đồng thời cũng chống lại chủ nghĩa khách quan, xem
thường tính năng động, sáng tạo của ý thức, phủ nhận vai trò
của ý thức, hay những biểu hiện của tư tưởng ỷ lại, thái độ thụ
động, không dám hành động.
Ba là, để vừa thực hiện nguyên tắc khách quan vừa phát huy
tính năng động của con người, trước hết cần phải quan tâm
đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị,
vào thực tiễn Việt Nam.
Tỉnh Quảng Nam chúng tôi trong những năm trước đây,
việc đầu tư các dự án vùng nguyên liệu , nhà máy đường,
nhà máy bia và một số công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất
theo ý muốn chủ quan của một số cán bộ chính quyền nhằm
tăng nhanh khoản thu ngân sách, giải quyết việc làm đã để
lại những hậu quả đáng tiếc cho Nhà nước mà nguyên nhân
do nhận thức chưa đầy đủ về những lợi thế tiềm năng và điều
kiện xã hội, trình độ quản lý thấp. Trong những năm gần đây
thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ chính trị và Quyết
định 148-QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phương
hướng chủ yếu phát triển kinh tế – XH vùng kinh tế trọng
điểm Miền trung đến năm 2010đã chỉ ra những định hướng,
những nhiệm vụ lớn cho sự phát triển của tỉnh trong những
năm tới, Quảng Nam đã đề ra những phướng hướng, nhiệm
vụ và giải pháp một cách tích cực phù hợp với điều kiện KT-
XH để vừa phát triển nhanh và bền vững.
Từ những liên hệ trên, đã chứng minh rằng : Tồn tại XH
quyết định ý thức xã hội, QHSX phát triển phù hợp với tính
chất và trình độ LLSX, nhận thức lý luận phải đi đôi với thực
tiễn và vật chất quyết định ý thức đồng thời ý thức-XH có
tính độc lập tương đối, nó tác động trở lại Tồn tại XH, thúc
đẩy tồn tại XH khi ý thức XH phù hợp với tồn tại XH và
ngươc lại làm hạn chế,kìm hảm, thậm chí gây trở ngại tồn tại
XH khi ý thức XH không phù hợp với tồn tại XH. Do ý thức
có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua
hoạt động thực tiễn của con người. Do vậy chúng ta phải
không ngừng nâng cao năng lực nhận thức đúng các quy luật
khác quan, vận dụng chúng vào trong quá trình hoạt động
thực tiễn XH, đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều, kinh