Tài liệu Mối quan hệ biện chứng vật chất, ý thức. Ý nghĩa mối quan hệ trên đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn - Pdf 92

Mối quan hệ biện chứng vật chất, ý thức. Ý nghĩa MQH trên đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Vật chất:
Vật chất và ý thức là những phạm trù cơ bản của triết học; là nền tảng của CNDV biện chứng. Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ lẫn nhau. Chung
quanh các phạm trù này từ lâu đã trở thành nội dung luận bàn của các trường phái triết học bởi làm rõ nội dung vật chất và ý thức cũng như mối quan hệ của nó có ý
nghĩa lớn lao về mặt lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với những đại diện nổi tiếng như PLaton, Hêghen cho rằng có một thực thể tinh thần không những tồn tại trước tồn tại bên
ngoài, độc lập với con người và thế giới vật chất mà còn sản sinh ra và quyết định tất cả các quá trình của thế giới vật chất, còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các
đại diện nổi tiếng như Becly, thì cho rằng cảm giác ý thức là cái có trước và tồn tại sẵn trong con người, trong chủ thể nhận thức, còn các sự vật bên ngoài chỉ là
phức hợp của cảm giác ấy mà thôi. Tuy cả 2 dạng duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan trong quan niệm về vật chất có sự khác nhau nhưng xét một cách tổng
thể thì chủ nghĩa duy tâm chủ quan, và chủ nghĩa duy tâm khách quan đều phủ định sự tồn tại khách quan của vật chất và cho rằng vật chất tồn tại không khách quan,
nguồn gốc của thế giới là do ý thức tinh thần sinh ra.
CNDV thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất nhưng có hai khuynh hướng: CNDV trước Mác và CNDV từ Mác trở đi.
CNDV trước Mác thời cổ đại thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất nhưng vật chất là gì thì họ đồng nhất giữa vật chất và vật thể cụ thể. Ví dụ, Ta -lét coi
vật chất là nước, Anaximen coi vật chất là không khí, Hraclít coi vật chất là lửa, Đêmôcrít coi vật chất là nguyên tử... Nói chung các nhà duy vật cổ đại hiểu vật chất
dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một vật cụ thể, cố định. Mặc dù có hạn chế lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh
chống quan điểm duy tâm bấy giờ.
Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiên ra nguyên tử, cho nên quan niệm thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất càng được khẳng định. Quan niệm này đã
tồn tại và được các nhà triết học duy vật và cả các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19. Lịch sử triết học đã xác nhận công lao to lớn,
đóng góp quan trọng vào việc phát triển quan niệm về vật chất và tính thống nhất thế giới của các nhà duy vật thế kỷ 17, 18, như Ph. Bê cơn, T,Hốpbơ, B.Spinôda,
P.Hôn bách, Đ.Điđrô...Tuy vậy các quan niệm của các nhà duy vật này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử,
hoặc với khối lượng.
Còn CNDV biện chứng là của những người sáng lập ra nó gồm Mác, Anghen và Lê nin. Mác và Anghen đã kế thừa những gía trị tích cực, đồng thời vạch ra
những hạn chế trong quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước đó, đã tổng kết những thành tựu của khoa học hiện đại, khái quát và hình thành một quan niệm
khoa học về vật chất. Mác không định nghĩa vật chất là gì nhưng cho rằng sản xuất vật chất quyết định đời sống tinh thần. Anghen cho rằng vật chất là tổng số tất cả
sự vật đang tồn tại, bằng con đường nào đó, người ta trừu tượng hóa, khái quát hóa để có phạm trù vật chất. Tuy nhiên, khi đó Mác và Anghen chưa đưa có điều
kiện đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của khoa học thời bấy giờ. Nó là cơ sở để Lê nin phát triển học
thuyết duy vật biện chứng về vật chất sau này.
Lê nin đã khái quát những thành tựu mới nhất của vật lý học, phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình, thuyết không thể biết về vật chất, bảo vệ và phát
triển quan niệm duy vật biện chứng Mác và Anghen về vật chất và đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng, hoàn chỉnh về phạm trù vật chất. Trong tác phẩm CNDV và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán, Người đã định nghĩa vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem đến cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Việc nghiên cứu định nghĩa vật chất của Lênin còn có ý nghĩa về mặt phương pháp luận. Nghiên cứu định nghĩa vật chất của LN nhằm chống lại mọi hình
thức của CNDT cả trong quá khứ lẫn hiện tại và liên quan đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng triết học hiện nay. Bởi giải quyết được vấn đề cơ bản này của
TH thì sẽ giải quyết được cácvấn đề khác của Th và các môn khoa học khác. Nghiên cứu phạm trù vật chất còn có ý nghĩa hết sức quán trọng là nó liên quan trự tiếp
đến công cuộc xây dựng CNXH ở nhiều nước. Cuối cùng là từng bước khắc phục các tệ nạn xã hội, trước mắt là tệ nạn mê tín dị đoan.
Thông qua sự đối lập với ý thức - như là mặt đối lập biện chứng với vật chất, định nghĩa phạm trù vật chất bao hàm điều kiện cần và đủ để phân biệt với
những phạm trù khác.
Ngòai dấu hiệu tồn tại ngoài ý thức, phạm trù vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng khác là tính có thể nhận thức được. Vật chất không phải tồn tại một
cách thần bí vô hình mà tồn tại một cách hiện thức được phản ánh vào cảm giác, vào ý thức con người. Tồn tại vật chất là tồn tại với các dạng sự vật, hiện tượng cảm
tính, tức cụ thể và giác quan con người có thể nhận thức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Vì vậy về nguyên tắc không đối tượng nào không thể nhận thức được, chỉ
có những đối tượng chưa nhận thức được mà thôi.
Về ý thức, cũng như phạm trù vật chất, trong lịch sử TH đã không ngừng diễn ra các cuộc tranh luận giữa CNDT và CNDV. Các nhà duy tâm cho rằng ý
thức quyết định vật chất, sinh ra vật chất, chi phối sự vận động và tồn tại của vật chất. Họ cho rằng chúng ta không nhìn thấy đưọc ý thức cũng không chụp ảnh được
ý thức. ở các học thuyết triết học duy tâm khác nhau, quan niệm về ý thức cũng có sự khác nhau nhất định. Song về thực chát, họ giống nhau chỗ tách ý thức ra khỏi
vật chất, lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên. Chúng ta không nhìn thấy ý thức, cũng không chụp ảnh được ý thứ. Nhưng, ý thức không phải là một
hiện tượng siêu tự nhiên, tồn tại độc lập với vật chất và càng không thể sản sinh ra thế giới vật chất. ý thức tách ra khỏi vật chất, bị tuyệt đối thành “vị thần sáng tạo
ra hiện thực”- đó là một sự trừu tượng chết, một sđiều bịa đặt phi lý kiểu thần học.
Các nhà duy vật trưóc Mác cũng chỉ ra mối liên hệ khăng khít của ý thức với vật chất. Họ có nhiều cố gắng chứng minh sự phụ thuộc của ý thức vào vật
chất. Song do còn nhiều điểm hạn chế nên họ không giải thích nổi những vấn đề phức tạp liên quan đến nguồn gốc và bản chất của ý thức.
2
CNDV tầm thường đã quy ý thức về vật chất, ngược lại CNDT quan niệm ý thức như 1 thực thể độc lập, là thực tại duy nhất. Cả hai quan điểm đó về ý thức
đều sai lầm. Thực ra cả vật chất lẫn ý thức đều là hiện thực, nghĩa là đều tồn tại thực. Sự khác nhau giữa chúng chỉ ở chỗ vật chất là HTKQ, còn ý thức là HTCQ.
Theo chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác-Lênin, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Nguồn gốc tự nhiên là từ hiện thực khách quan và từ óc người. Nguồn gốc
xã hội là từ lao động và ngôn ngữ. Nếu thiếu hiện thực khách quan hoặc óc người thì ý thức không thể xuất hiện. Có thể nói, ý thức là một dạng vật chất sống có tổ
chức cao, đó là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức. Hoạt động ý thức chỉ xảy ra trong bộ óc người, trên cơ sở các quá trình sinh lý- thần kinh
của bộ óc. Không có các quá trình này thì không thể có ý thức, và nói chung, không bất kỳ một hoạt động tư tưởng và tâm lý nào. Chính do vậy, Mác nói ý thức chỉ là
vật chất được di chuyển vào trong bộ óc con người và được cải biến đi ở trong đó. Nói cách khác ý thức là hình ảnh chủ quan của TGKQ. Và cũng có thể nói bản chất
bản chất của ý thức chính là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào óc người một cách tích cực, năng động và sáng tạo. ý thức là hình thức phản ánh đặc
trưng riêng của con người. Nó gắn với ngôn ngữ và được phát triển từ thuộc tính phản ánh vốn có ở mọi dạng vật chất. Trước khi chuyển thành ý thức, thuộc tính
phố biến này của vật chất đã trải qua quá trình phát triển lâu dài.
Sự phản ánh có cả thế giới vô cơ và hữu cơ. Sự phản ánh vô cơ thụ động ( như soi gương...); sự phản ánh hữu co là có chắt lọc, định hướng ( hoa hướng dương

thức.
Nghiên cứu mối quan hệ vật chất và ý thức giúp chúng ta trong nhận thức cũng như trong chỉ đạo hành động thực tiễn, nhất là khi đề ra chủ trương
đường lối chính sách cần phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật KQ.
Trong nhận thức và hành động con người phải dựa vào điều kiện khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, làm phương tiện cho hành dộng có mục đích của
mình nhưng phải biết nhận thức và vận dụng quy luật khách quan một cách chủ động sáng tạo với ý chí không ngừng cải tạo hiện thực theo nhu cầu tiến bộ xã hội.
Tinh thần cách mạng và khoa học trong việc vận dung mối quan hệ vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải chống lại thái độ tiêu cực, thụ động vin vào điều kiện
khách quan ngồi chờ, không dám hành động; đồng thời phải chống lại chủ quan duy ý chí, là biểu biểu hiện là hành động bất chấp quy luật, điều kiện cụ thể. Trong
hoạt động động của con người, nhân tố vật chất và và yếu tố tinh thần có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau, tác động qua lại thành thể thống nhất chặt chẽ. Sức
mạnh ý thức của con người không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan mà biết dựa vào điều kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy
luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan. Đồng thời phải nâng cao tính năng động chủ quan. Để nâng cao tính năng động, chủ quan, phải nâng cao trình độ văn
hóa, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị Mác-Lênin, nâng cao lòng nhiệt tình cách mạng, rèn luyện cả tài lẫn đức.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta luôn xác định: Một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo của đúng đắn của mình là phải luôn luôn đề ra các
chủ trương chính sách xuất phát từ các yêu cầu bức xúc cần giải quyết của thực tiễn, đồng thời trong quá trình thực hiện phải tôn trọng và thực hiện theo đúng quy
luật KQ.
Thực tiễn họ thấy ở đâu và khi nào, con người rơi vào chủ quan duy ý chí, coi thường thực tiễn KQ thì ở đó việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội sẽ gặp khó khăn,
thậm chí thất bại. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là minh chứng cho việc không đánh giá đúng thực tiễn. Thực tiễn quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã có lúc trước đây, trong một thời gian dài đã mắc phải sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí đã làm ảnh hưởng không nhỏ đế sự
phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Những sai lầm này thể hiện cụ thể ở việc xác định mục tiêu và bước đi trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải
tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Với suy nghĩ và hành động giản đơn, lại nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan”, nhiều mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế- xã hội
xa rời với thực tế khách quan, trong khi trình độ quản lý kinh tế xã hội còn hạn chế, bị các thế lực đế quốc và phản động bao vây, cô lập. Hậu quả làm nền kinh tế- xã
hội bị khủng hoảng, trì trệ, và ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác, uy tín nước ta trên trường quốc tế bị giảm sút... Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh gía
đúng sự thật, Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn vạch rõ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra từ tực trạng trên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: “ Khuynh
hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý, lối suy nghĩ giản đơn, nóng vội chạy theo
hành động chủ quan” ( Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.26), đồng thời chủ trương đổi mới, trước mắt là đổi mới tư duy
trên cơ sở kiên định và lấy nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Tiếp theo, Đảng đã có
nhiều chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,
chủ động hội nhập với thế giới... Tất cả những chủ trương đổi mới này qua thành tựu của hơn 16 năm cho đến nay đã chứng tỏ chúng ta vừa có bước đi thích hợp và
chọn điểm xuất phát đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh điều kiện thực tế của đất nước, vừa nắm vững và không chệch hướng với quan điểm nền tảng của Chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thành tựu của công cuộc đổi mới đã là một minh chứng hùng hồn cho việc kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn của mối quan
hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status