1
Tổng hợp câu hỏi ôn tập môn triết học duy vật biện chứng
Câu 1: Đề ra đường lối đổi mới, trong Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VI, Đảng
coi việc "Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật
khách quan" là một trong những bài học kinh nghiệm quí báu.
Đ/c hãy phân tích cơ sở triết học và thực tiễn của bài học trên và nêu ý
nghĩa của nó trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
Ngay từ thời kỳ cổ đại quan điểm dv đã hình thành và pt. Thực chất của lịch
sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa dv và cn duy tâm, giữa phương
pháp biện chứng và pp siêu hình. Cuộc đau tranh đó kéo dài cho đến tận ngày nay
và chắc chắn vẫn tiếp diễn. Ở phương đông, cndv đã xuất hiện trong triết học trung
hoa cổ đại và Ấn độ cổ đại, điều đó đươc thể hiện trong học thuyết âm dương hay
thuyết ngũ hành của người Trung Hoa.
Trong TH ấn độ cổ đại một số trường phái VD như Vaisesika hoặc Lokygata
đều là trường phái duy vật. Theo trường phái Lokygata trường phái này do 4
nguyên tố này tạo nên đó là đất, nước, lửa và gió là tứ đại, bốn nguyên tô snày có
khả năng tồn tại trong không gian.
Ở Phương tây cndv phát triển mạnh mẽ thậm chí quan niệm tư tưởng của họ
thống trị trong suốt nhiều thế kỷ về sau nhất là trong triết học Hy lạp cổ đại.
Heraelit là một trong số nhà duy vật tiêu biểu của thời kỳ này, ông quan niệm rằng
thế giới này do lử tạo nên đó là lửa vũ trụ, ông nói “Thế giới này đã, đang và sẽ là
một ngọn lửa vĩnh viễn cháy và tắt đi theo những quy luật nhất định của nó.”
Trong khi đó thì Thalet lại cho rằng thế giới này do nước tạo nên bởi vì ông quan
sát và cho thấy trong đất, trong không khí, trên trời, cây cối, con người đều có
nuớc. Theo Đebolit cho rằng thế giới này do nguyên tử tạo nên sở dĩ có sự khác
nhau về hình dạng, kích thước và tư tưởng này thống trị đến tận nửa đầu thế kỷ 19.
2
Thế kỷ 15-16 khôi phục và làm hưng thịnh nền văn hoá cổ đại để chống lại
thế giới quan duy tâm tôn giáo của giai cấp phong kiến
Thời kỳ phục hưng triết học và nghệ thuật đươc khôi phcụ chủ nghĩa DV tiếp tục
pt dưới ánh sáng của khoa học tự nhiên (thiên văn học và cơ học )
quan và phương pháp triết học của Mác. tất nhiên đây là sự kế thừa có chọn lọc, có
phê phán, có sáng tạo.
Kế thừa quan điểm duy vật thời đó dựa trên ảnh hưởng khoa học tự nhiên Mác
và Anghen xây dựng quan điểm dvbc điều đó thể hienẹ trong nhiều tác phẩm của
ông nhất là trong tác phẩm biện chứng của tự nhiên của Anghen. Trong tác phẩm
này Anghen đã có 2 lần đưa ra quan điểm của mình về phạm trù vật chất
Quan điểm thứ nhất: “Thực thể vật chất khôngthể phận biệt cái gì khác hơn là
tổng số các vật thể ”
Quan điểm thứ 2: “vật chất vơi tính cách của vc là sáng tạo thuần tuý của tư duy
và là sự trừu tượng”
Lê Nin là người kế thừa những tư tưởng của mác và Anghen cũng nhưtoàn bộ
lịch sử tư tưởng nhân loại và dựa trên sự khái quát của mặt triết học nhữngthành
tựu của khoa học tự nhiên đương thời, đặc biệt là vật lý học đã đưa ra định nghĩa
kinh nghiệm của phạm trù vật chất. Trogn định nghĩa đó có mấy vấn đề cần đưa ra
chú ý sau: ở đay Lê Nin đnghĩa phạm trù vc khôngtheo đn triét học mà quy đnghĩa
vào phạm trù rộng hơn.
- Lê Nin cũng vượt qua những nhà duy vật trước đây nhất là dv cổ đại và dv
siêu hình thế kỷ 17-18 đã đồng nhất vc dưới một dạng tồn tại cụa thể vc hay một
thuộc tính nào ở đó như khối lượng, trọng lượng.
4
Trên cơ sở phân tích sâu sắc cuộc “khủng hoảng vật lý học” và phê phán những
quan niện duy tâm và siêu hònh về VC, Lê Nin đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về
phạm trù VC, một ĐN mà đến nay các nhà khoa học hiện tại vẫn thừa nhận.
ở đây phạm trù cần được ĐN là VC là một phạm trù “rộng đến cùng cực, rộng
nhất cho đến nay, thực ra nhận thức luân vẫn chưa vượt quá được”. Người ta
khong thể quy VC vào một phạm trù nào rộng hơn nó. Do vậy, chỉ có định nghĩa
VC bằng cách đối lập với nó là ý thức, xác định nó “là cái mà tác động lên giác
quan của chúng ta thì gây ra cảm giác”. Lê Nin khẳng định VC khôgn có nghĩa gì
hơn là “thựuc tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức
con người phản ánh”.
+ Giúp chúng ta phân biệt đâu là vc và đâu không phải là vc
+ Giúp chúng ta khắc phục được hạn chế trong các quan niệm dv trước đây
+ Nó giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học
+ là cơ sở lý luận giúp chúng ta chống lại thuyết không thể biết, chống lại quan
điểm máy móc siêu hình, chống lại bệnh chủ quan duy ý chí.iệcnhận thức các hiện
tượn của đời sống Xh, ĐN v/chất cảu Lê Nin đã cho phép xác định cái gì là VC
trognlĩnh vực XH. Đây là diều các nhà duy vật trước C. Mac cũng chưa đạt tới. ĐN
của Lê Nin giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên
nhân cuôi cùng của các biến cố XH, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của
phương thứuc SX; trên cơ sở đó người ta có thể tìm ra các phưogn án tối ưu về
hoạt động thúc đẩy XH phát triển.
Vật chất luôn vận đọng và biến đổi trong không gian và thời gian, vì vậy vận
động, không gian và thưòi gian là những phương thức tồn tại của VC. Hiểu theo
nghĩa chung nhất vận động bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra
trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
6
Các hình thức vận động của vc bao gồm: vđộng cơ học, vđ vật lý, vđ hoá học,
vđ sinh học và vđ xã hội.
+ Tính thống nhất vc của t/giới: tgiới này thống nhất ở tính vc của nó. Tính vc
này được chứng minh không phải vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật mà
đó là kquả của ptriển lâu dài của triết học và khoa học tự nhiên. Vậy tính vc đó là
tính tồn tại và khách quan. Khi tác động vào giác quan để gây cảm giác về vc và
hiện tượng đó.
Ý thức là gì?
Ý thức: "Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới quan". Theo C.Mác, ý
thức "chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó" .
Ý thức của con người là sự phản ánh trong bộ não con người một cách tích cực
chủ động và sáng tạo đối với thế giới khách quan để có hình ảnh của các sự vật
hiện tượng giúp con người có tri thức, sự hiểu biết và tình cảm đối với thế giới trên
II- Cơ sở thực tiễn:
Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trước thời kỳ đổi mới, chúng ta
đã phần nào chưa xuất phát từ thực tế, mắc bệnh chủ quan duy ý chí nóng vội chạy
theo nguyện vọng chủ quan muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội đã phần nào vi
phạm, bất chấp quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ của
lực lượng sản xuất.
Phạm những sai lầm từ những chủ trương chính sách lớn và cơ chế kinh tế vi
phạm quy luật khách quan trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ
ở vật chất, kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, xóa bỏ ngay nền
kinh tế nhiều thành phần, không thừa nhận kinh tế thị trường ở Việt Nam vi phạm
quy luật kinh tế thị trường, làm theo lòng mong muốn chủ quan dẫn đến đầu tư tràn
8
lan thiếu hiệu quả ở một số lĩnh vực, một số ngành hoặc trong chuyển đổi cơ cấu
cây trồng vật nuôi ở một địa phương vận động nhân dân làm ào ạt nhưng không
gắn với thực tế thị trường nên đã thất bại, do đó đã dẫn tới khủng hoảng kinh tế,
khủng hoảng xã hội.
Vì vậy trong những năm đổi mới chúng ta phải sửa những sai lầm này, xuất
phát từ thực tế tôn trọng hành động theo quy luật khách quan khi đưa ra đường lối
đổi mới chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã rút ra là
“Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan”, coi việc phải luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hoạt động theo
quy luật khách quan là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu.
Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ VII đã khẳng định:
“Đảng đã phạm sa lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” (Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Vì vậy, từ lý
luận chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại
quá trình lãnh đạo cách mạng, Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút
ra bài học quan trọng là “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ
tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
V.I. Lênin dã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm
chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách
lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho
thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
(Nguyên nhân: ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ; yếu kém về lý luận; quan liêu
xa rời thực tế).
10
+ Khi đánh giá kết luận các sự vật hiện tượng đòi hỏi chúng ta phải đảm bảo
tính khách quan: điều tra kiểm sát thông tin đối tượng một cách nghiêm túc và đảm
bảo thông tin phải trung thực, không được điều tra sơ sài đã kết luận dẫn đến suy
diễn có tính chủ quan sai lầm.
+ Khi đề ra những mục tiêu chương trình phát triển phải điều tra kiểm sát
một cách khách quan và phải nắm bắt đúng thực tế, dựa trên điều kiện thực tế
khách quan đồng thời phải tôn trọng những quy luật khách quan.
+ Khi đề ra chủ trương chính sách mục tiêu, chương trình phát triển đòi hỏi
phải tổng kết thực tiễn, nhưng tổng kết đòi hỏi phải khách quan (điều tra, kiểm sát,
tổng kết, báo cáo) nếu không sẽ nhiễu loạn thông tin gây khó khăn cho quản lý nhà
nước (ví dụ các vụ đất đai ở Hải Phòng, thanh tra dầu khí, giáo dục )
- Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ thụ động,
chờ đợi vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan Bằng sự nỗ lực và ý chí
mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra. Ở đây ý thức,
tư tưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi
phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan, vì đó là cơ sở quan trọng cho việc
xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính xác. Ngược lại, ý thức, tư
tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh
sai thế giới khách quan. Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức,
cần phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, cần phải khái quát, tổng kết
hoạt động thực tiễn để thường xuyên nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chỉ
đạo thực tiễn, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách
1- Khái niệm:
Vật chất: "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
Ý thức: "Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới quan". Theo C.Mác, ý
thức "chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó" .
Ý thức của con người là sự phản ánh trong bộ não con người một cách tích
cực chủ động và sáng tạo đối với thế giới khách quan để có hình ảnh của các sự vật
hiện tượng giúp con người có tri thức, sự hiểu biết và tình cảm đối với thế giới trên
cơ sở của hoạt động thực tiễn (lao động đấu tranh ).
2- Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
a) Vật chất quyết định ý thức:
- Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất sinh ra ý thức, ý thức là chức
năng của óc người - dạng vật chất có tổ chức cao nhất của thế giới vật chất. Không
thể có ý thức trước khi có con người hay ý thức nằm ngoài con người, độc lập với
con người.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người. Thế giới vật chất
là nguồn gốc khách quan của ý thức.
- Tồn tại vật chất trong hoạt động thực tiễn trong xã hội của loài người (sản
xuất, đấu tranh ) quyết định đến nội dung hoạt động tư duy của loài người cũng
như từng cá nhân con người.
* Hoàn cảnh yếu tố địa lý:
13
+ Điều kiện địa lý là tồn tại vật chất chi phối sự nhận thức của con người để
tạo ra của cải vật chất (phải tính toán ).
+ Là tài nguyên thiên nhiên.
+ Là tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội, giai cấp nào nắm được sẽ trở thành
ông chủ và chi phối toàn xã hội.
+ Giai cấp nào nắm tư liệu sản xuất sẽ nắm quyền lực chính trị, vì vậy mọi
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã
hội. Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối
quan hệ khác nhau: chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách
quan và nhân tố chủ quan v.v
II- Cơ sở thực tiễn:
Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trước thời kỳ đổi mới, chúng ta
đã phần nào chưa xuất phát từ thực tế, mắc bệnh chủ quan duy ý chí nóng vội chạy
theo nguyện vọng chủ quan muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội đã phần nào vi
phạm, bất chấp quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ của
lực lượng sản xuất.
Phạm những sai lầm từ những chủ trương chính sách lớn và cơ chế kinh tế vi
phạm quy luật khách quan trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ
ở vật chất, kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, xóa bỏ ngay nền
kinh tế nhiều thành phần, không thừa nhận kinh tế thị trường ở Việt Nam vi phạm
quy luật kinh tế thị trường, làm theo lòng mong muốn chủ quan dẫn đến đầu tư tràn
lan thiếu hiệu quả ở một số lĩnh vực, một số ngành hoặc trong chuyển đổi cơ cấu
cây trồng vật nuôi ở một địa phương vận động nhân dân làm ào ạt nhưng không
15
gắn với thực tế thị trường nên đã thất bại, do đó đã dẫn tới khủng hoảng kinh tế,
khủng hoảng xã hội.
Vì vậy trong những năm đổi mới chúng ta phải sửa những sai lầm này, xuất
phát từ thực tế tôn trọng hành động theo quy luật khách quan khi đưa ra đường lối
đổi mới chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã rút ra là
“Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan”, coi việc phải luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hoạt động theo
quy luật khách quan là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức,
quyết định ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động
thực tiễn của con người; vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời
phát huy tính năng động chủ quan của mình.
- Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong
nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong
hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động
theo các quy luật khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực
lượng thực hiện biến khả năng thành hiện thực. Tôn trọng khách quan là tôn trọng
tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội. Điều này đòi hỏi
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực
tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
V.I. Lênin dã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm
chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách
17
lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho
thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
(Nguyên nhân: ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ; yếu kém về lý luận; quan liêu
xa rời thực tế).
+ Khi đánh giá kết luận các sự vật hiện tượng đòi hỏi chúng ta phải đảm bảo
tính khách quan: điều tra kiểm sát thông tin đối tượng một cách nghiêm túc và đảm
bảo thông tin phải trung thực, không được điều tra sơ sài đã kết luận dẫn đến suy
diễn có tính chủ quan sai lầm.
+ Khi đề ra những mục tiêu chương trình phát triển phải điều tra kiểm sát
một cách khách quan và phải nắm bắt đúng thực tế, dựa trên điều kiện thực tế
khách quan đồng thời phải tôn trọng những quy luật khách quan.
+ Khi đề ra chủ trương chính sách mục tiêu, chương trình phát triển đòi hỏi
phải tổng kết thực tiễn, nhưng tổng kết đòi hỏi phải khách quan (điều tra, kiểm sát,
tổng kết, báo cáo) nếu không sẽ nhiễu loạn thông tin gây khó khăn cho quản lý nhà
tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh
sai thế giới khách quan. Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức,
cần phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, cần phải khái quát, tổng kết
hoạt động thực tiễn để thường xuyên nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chỉ
đạo thực tiễn, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách
quan; đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động,
ngồi chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh, vào điều kiện vật chất trong quá trình đổi mới hiện
nay.
19
Đề 3: Trong “bút ký triết học” của V.I Lê Nin viết “Phát triển là cuộc
đâu stranh giữa các mặt đối lập” Đồng chí hãy phân tích cơ sở triết học của
luận điểm trên và nêu ý nghĩa của vấn đề này đối với việc thực hiện các chế độ
tự phê bình và phê bình của Đảng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng
hiện nay.
Cơ sở triết học:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lậpthống nhất và đâu
strang của các mặt đối lập là quy luật cơ bản của phép bản của phép biên chứng
duy vật. Nó đã được con người nhân thức rất sâu sắc và đầy đủ hơn. Đó chính là
một tiền đề lýd luận hết sức quan trọng để hình thành lý luận Mác xít về quy luật
này.
- C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lê Nin đã kế thừa tư tưởng biện chhứng về mâu
thuẫn, tổng kết những lịch sử của loài người, khái quát những thành tựu mưói
của khoa học từ cuối thế kỷ 18 và đầu TK 20 để luận giải mối quan hệ của các
mặt đối lập một cách khoa học và vận dụng lý luận này để phân tích Ch tìm ra
phương thức để cải tạo nó
- Trên cơ sở xác định rõ quy luật thống nhấtvà đấu tranh của các mặt đối lập
là hạt nhân của phép biện chứng, chủ nghĩa Mác đã làm rõ bản chất các mặt đối
lập và mối quan hệ của chúng. Các măt đói lập phải bao hàm nhiều nội dung
khác nhau. Các mặt đối lập phải là những bộ phận, những nhân tố có thuộc tính
hoặc nhân tố có thuộc tính hoặc có khuynh hướng vận động trái ngược nhau
lập là những bộ phận, những nhân tố có thuộc tính hoặc có khuynh hướng vận
động trái ngược nhau cùng tồn tại trong một sự vật, tác động qua lại với nhau tạo
21
nên sự vận động và biến đổi của sự vật đó. Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan
và là phổ biến trong tất cả các sự vật. Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới
đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau. Trong nguyên tử có điện tử và hạt
nhân; trong sinh vật có đồng hóa và dị hóa; trong kinh tế thị trường có cung và cầu,
v.v
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành
mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ
biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản
ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức.
- Mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến, nên mâu thuẫn có tính đa dạng
và phức tạp. Mâu thuẫn trong mỗi sự vật và trong các lĩnh vực khác nhau cũng
khác nhau. Trong mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một mâu thuẫn, mà có
nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn lại có đặc điểm, có vai
trò tác động khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Vì vậy, cần
phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ thể.
2. Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó, hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa
đấu tranh với nhau.
Mâu thuẫn là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Sự thống nhất của các mặt
đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn
tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia để làm tiền đề.
- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự liên hệ, quy định, ràng buộc lẫn
nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình.
Trong quy luật mâu thuẫn, khái niệm “thống nhất” và “đồng nhất” thường
được dùng cùng một nghĩa. Nhưng cũng có lúc, khái niệm “đồng nhất” được hiểu
theo nghĩa là sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Các mặt đối lập tồn tại
không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau.
Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý
tưởng, nhận thức của con người không thể phát triển, nếu không có sự cọ sát
thường xuyên với thực tiễn, không có sự tranh luận để làm rõ đúng sai
V.I.Lênin viết : “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối
lập”. Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu
tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách
rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự
thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu thuẫn
chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.
+ Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lập không chuyển
hóa), thì không có sự phát triển. Chuyển hóa của các mặt đối lập là tất yếu, là kết
quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Do sự đa dạng của thế giới, nên các hình
thức chuyển hóa cũng rất đa dạng: có thể hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau và
cũng có thể chuyển hóa lên hình thức cao hơn
Sự vận động và phát triển của sự vật thể hiện trong sự thống nhất biện chứng
giữa hai mặt: thống nhất của các mặt đối lập và đấu tranh của hai mặt đối lập, trong
đó: thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời, tương đối; còn đấu tranh của các
mặt đối lập là tuyệt đối. Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho
sự vận động và phát triển của sự vật là sự tự thân và diễn ra liên tục. Tính tương
đối của thống nhất giữa các mặt đối lập làm cho thế giới vật chất phân hóa thành
các bộ phận, các sự vật đa dạng, phức tạp, gián đoạn.
Trong thực tế do có sự đồng nhất một cách sai lầm đấu tranh với va chạm
đụng độ, rối loạn, mất ổn định, bè phái mất đoàn kết nên người ta ác cảm, không
có cảm tình với đấu tranh. V.I.Lênin khẳng định : “không thể đồng nhất sự đấu
tranh với các hiện tượng bè phái mất đoàn kết, vì các hiện tượng này không tạo ra
sự phát triển”.
24
Trong phong trào cộng sản quốc tế trước kia có người, có nơi quy sự khác
biệt chính kiến về mâu thuẫn biến bạn thành thù nhằm phục vụ lợi ích cá nhân,
nhằm thực hiện mưu đồ chính trị cá nhân -> ác cảm với đấu tranh.
lập và với những điều kiện chín muồi.
Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn,
không được điều hoà mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp
với trình độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực
lượng để giải quyết mâu thuẫn. Hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi sự vật là quá
trình giải quyết mâu thuẫn của nó. Muốn vậy, phải xác định đúng trạng thái chín
muồi của mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi.
Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa
có đủ điều kiện; cũng không để cho việc mâu thuẫn và tìm ra phương thức, phương
tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải
quyết mâu thuẫn một cách thực tế.
Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình thức
cụ thể rất khác nhau). Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác
nhau. Điều đó tuỳ thuộc vào bản chất của mâu thuẫn, vào những điều kiện cụ thể.
Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từng mâu thuẫn. Phải tìm ra các hình
thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu
thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.
Trong hoạt động, công tác của Đảng, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc
bén để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, xây dựng
đường lối chính sách phù hợp, tổ chức thực hiện hiệu quả, khắc phục sai lầm,
khuyết điểm, phát huy ưu điểm để Đảng thật sự là đội tiền phong cách mạng chiến
đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Tự phê bình và phê