MỤC LỤC
Phần I :
LỜI MỞ ĐẦU
Phần II :
NỘI DUNG
I.Lý luận về mối quan hệ vật chất và ý thức
1) Vật chất quyết đònh sự ra đời của ý thức
2) Ý thức tác động trở lại vật chất
II.Ý nghóa phương pháp luận
1) Tôn trọng khách quan
2) Tính năng động chủ quan
III. Vận dụng mối quan hệ biện chứng gữa vật chất và ý thức đối với con
đường đổi mới của nước ta hiện nay.
1) Thực trạng nước ta trước giai đoạn đổi mới
2) Nhà nước chủ trương đổi mới đất nước và những thành tựu đạtđược
IVKết luận
1
PHẦN I:
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật và hiện tượng phong phú và đa
dạng .nhưng dù phong phú và đa dạng đến đâu thì cũng quy về hai lónh vực :vật
chất và ý thức .có rất nhiều quan điểm triết học xoay quanh vấn đề về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức ,nhưng chỉ có quan điểm triết học Mác _Lênin
là đúng và đầy đủ đó là :vật chất là cái có trước ,ý thức là cái có sau .vật chất
quyết đònh sự ra đời của ý thức ,đồng thời ý thức tác động trở lại vật chất . Trước năm 1986,đất nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn bởi một nền kinh tế
trù trệ ,mộtt hệ thống quản lý yếu kém cũng là do một phần không nhận thức
đúng và đầy đủ về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức .vấn đề nay được nhận
người nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động được hay không có bộ não thì
không thể có ý thức được .cũng như câu chuện của cậu bé sống trong rừng cùng
bầy sói không được tiếp xúc với xã hội loài người thì hành đông của cậy tsa sau
khi trở về xã hội la người cũng chỉ giống như một con sói .tức là hoàn toàn
không có ý thức .
Như chúng ta đã biết ,luận chứng khoa học của triết học Mác-Lênin đa khẳng
đònh YT là sản phẩm của dạng VC nhưng không phải là sản phẩm của bất kì
dạng VC nào mà là sản phẩm của dạng VC đặc biệt ,có tổ chức tinh vi,hoàn
thiện mới sinh ra YT .cho nên nếu bộ óc người nào bò tổn thương hay rối loạn
chức năng phản ánh thì người đó không thể có đươcï YT
Với con người có YT ,YT biểu hiện bao gồm :
• YT thông thường
• YT khoa học
• YT kinh nghiệm
• YT lý luận …
3
YT thông thường là những tình cảm ,thói quen và những ước muốn bình
thường trong cuộc sống bình thường .Mỗi con người đều sống trong những điều
kiện tự nhiên ,kinh tế –xãhội nhất đònh và những điều kiện này chi phối họ
.Mác đã khẳng đònh :YT là VC được di chuyển vào trong bộ óc con người và
được cải biến ở trong đó “qua khái niệm tên ta nhận thấy ở đây không chỉ là
YT thông thừng mà còn là YT lý luận khoa học .Ytlý luận khoa học cũng chính
là sự phản ánh hiện thực khách quan nhưng dưới hình thức là cặp phạm trù
,nguyên lý ,quy luật ,khái niệm ,tieNâ đề …được trình bày thành những hệ
thống ,những học thuyết nhất đònh .lý luận khoa học là sự phản ánh ở trình độ
cao của YT ,nó cũng do VC hiện thực khách quan quyết đònh .khoa học tự
nhiên nói lên những thuộc tính ,những mối quan hệ bản chất của các hiện
tượng tự nhiên ,do quy luật vận động phát triển của hiện tượng ấy quyết đònh
.khoa học xã hội cũng vậy ,quy luật vận động của các hiện tượng và quá trình
phát triển của XH do hiện thực XH quyết đònh .VC quyết đònh YT .nguyên lý
các yếu tố tinh thần trên đều tác động trở lại VC một cách mạnh mẽ .VD :nếu
âm trạng của công nhân mà không tốt thì làm giảm năng suất của một dây
chuyền sản xuất trong nhà máy .nếu không có đường lối cách mạng đúng đán
của Đảng ta thì dân tộc ta cũng không thể thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và MỸ cũng như Lênin đã nói” không có lý luận cách mạng thì
cũng không thể có phong trào cách mạng “.
Như vậy , ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào VC mà YT có tính độc
lập tương đối vì nó có tính năng động cao nên YT có thể tác động trở lại .VC
góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt đông thực tiễn của con
người .
YT phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực
tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới VC .Khi phản ánh đúng hiện
thực khách quan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của các sự vật
hiện tượng trong thế giới khách quan .
VD1: hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở hơn 1000
0
C thì con người
tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất các loại thép với đủ các kích cỡ
chủng loại chứ không phải bằng phương pháp thủ công xa xưa .
VD2:từ nhận thức đúng về thực tại nền konh tế của đất nước ,từ sau đại hội
VI ,Đảng ta đã chuyển nền kinh tế từ tự cung ,tự cấp sang nền kinh tế thò
trường ,nhờ đó mà sau gần 20 năm đổi mới bộ mặt đất nước ta đã thay đổi hẳn
YT phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động
thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới khách quan
VD nhà máy xử lý rác th của ĐỒNG THÁP là một ví dụ điển hình ,từ việc
không khảo sát thực tế khách quan hay đúng hơn lànhận thức về việc xử lý rác
vô cơ và rác hữu cơ chưa đầy đủ ,vì vậy khi vừa mới khai trương nhà máy này
đã không xử lý nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần được thanh
lý .
Như ta đã biết YT là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con
nơi cái tiêu cực còn lấn át cái tích cực . Cái VC tầm thường đã làm gục ngã bao
nhiêu cán bộ đảng viên có chức ,có quyền . Đã làm cho họ không thể ý thức
nổi là họ phải đánh đổi cả một cuộc đời mới có vinh quang hôm nay .Cuộc
sống hôm nay thật phức tạp ,nếu thoát li khỏi cuộc sống thực tại sẽ trở thành
chủ nghóa duy tâm ,còn nếu phù hợp một cách thụ động sẽ trở nên thực dụng
,còn nếu cứ khư khư ôm lấy cái bản lónh ,lý tưởng một cách máy móc thì chắc
chắc sẽ gặp không ít khó khăn nếu khong kòp thích ứng có khi sẽ bò đào thải …
Cho nên nói đến vai trò của YT thực chất là nói đến vai trò của con người .Do
đó cần phải trang bò YT lý luận khoa học cho cán bộ ,quần chúng nhân dân bởi
“muốn xây dựng XHCN thì phải có con người XHCN “
6
Tóm lại ,triết học Mác-Lênin đã vạch rõ bản chất phản động của triết
học duy tâm .Họ cho rằng YT có trước VC và quyết đònh VC ,nhưng thực chất
là ng biện để che đậy bản chất của CNTB .Họ xem mối quan hệ giưa VC và
YT là mối quan hệ một chiều như chính giai cấp TS trong CNTB .Vậy triết học
duy vật biện chứng của Mác –Lênin đã chứng minh rằng đằng sau chủ nghóa
duy tâm là khuynh hướng tư tưởng của giai cấp tư sản đang tìm mọi lý lẽ phản
khoa học để chống lại chủ nghóa duy vật của Mác.Chủ nghóa duy vật của Mác
đã luận chứng một cách khoa học về thế giới ,đó là thế giới VC .Thế giới VC
không ai sinh ra ,không ai tiêu diệt được ,tồn tại khách quan ngoài ý thức của
con người ,quyết đònh ý thức của con người . Nhưng không phủ nhận sự tác
động trở lại của ý thức mà còn thừa nhận một cách khoa học về vai trò của YT
đối với VC .Chính mối quan hệ giữa VC và YT đã giúp con người không chỉ
nhận biết được thế giơi VC mà còn cải tạo được thế giới VC để phục vụ lợi ích
của con người ,vai trò của YTbiểu hiện tập trung ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động
thực tiễn của con người .tầm quan trọng của YT tiến bộ của lý luận cách mạng
đã được Lênin tổng kết trong câu nói nổi tiếng “không có lý luận cách mạng
thì không có phong trào cách mạng “.Thật vậy ,khi điều kiẹn khách quan đã
xuất hiện và chính mùi thì những chủ trương đường lối sáng suốt ,biện pháp
đúng đắn ,quyết tâm cao là điều kiện có ý nghóa quyết đònh đối với sự thành
tôn trọng kỉ luật khách quan.”
III.Vận dụng mối quan hệ biện chứng gữa vật chất và ý thức đối với con
đường đổi mới của nước ta hiện nay.
1.Thực trạng nước ta trứơc giai đoạn đổi mới:
Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền nam thống nhất đất nước,
nền kinh tế miền bắc còn nhiều nhược điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém,
cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chỉ
đảm bảo nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp chỉ cung cấp đủ thực phẩm
cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu. Mặt
khác, nền kinh tế miền Bắc còn bò chiến tranh phá hoại bằng không quân của
đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề. Ở miền Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh
tế bò đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm
trọng…
Trước tình hình đó, Đại hội đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế
hoạch năm 1976 – 1980 quá cao và phát triển sản xuất quá khả năng của nền
kinh tế, như năm 1975, phấn đấu đạt 21 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá
biển, 1 triệu héc ta khai hoang, 1 triệu 200 héc ta rừng mới trồng…, 10 triệu tấn
than sạch, 2 triệu tấn xi măng… Đặc biệt là đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều
8
cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành
về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghóa ở miền Nam. Những chủ trương sai lầm do
cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu đến kinh
tế, ảnh hưởng không tốt tới đời sống của nhân dân… Đến hết năm 1980, nhiều
chỉ tiêu kinh tế chỉ đạt khoảng 50 – 60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất
chậm chạp : tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăn g
2,6% nông nghiệp giảm 0,15%.
Đại hội Đảng lần thứ V cũng chỉ tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân
đích thực sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và cũng chỉ đề ra các chủ
trương chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế. Trong năm năm
1981 – 1985 chúng ta chỉ kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ
trình kinh tế : lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu : tình
hình nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, sử
dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá – tiền tệ. Trong quá trình thực hiện Nghò
quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, ta đã đánh giá tình hình chính trò
xã hội Việt Nam sau hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới : công cuộc đổi
mới bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã
10
hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được hạn chế bớt; đời sống vật chất
tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần dược cải thiện so với trước đay thì
mức khủng hoảng đã giảm bớt. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được
phát huy…
Qua những dẫn chứng trên, ta thấy rõ tác động qua lại giữa ý thức và vật
chất, giữa kinh tế và chính trò, nhờ có đường lối đổi mới, sản xuất phát triển,
đời sống nhân dân nói chung được cải thiện, mức khủng hoảng đã giảm bớt, do
đó góp phần ổn đònh tình hình chính trò đất nước, góp phần vào việc phát huy
dân chủ trong xã hội. Không chủ quan với những thành tựu đã đạt được. Đại
hội VII chỉ ra những tồn tại lớn cần giải quyết, đặc biệt về mặt kinh tế đó là :
Lạm phát còn ở mức cao nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu
việc làm tăng lên, đồng thời cũng tự phê bình về việc chậm xác đònh rõ yêu
cầu và nội dung đổi mới, còn nhiều lúng túng và nhiều sơ hở trong điều hành,
quản lý vó mô nền kinh tế thò trường…đặc biệt, đại hội cũng xác đònh : "về quan
hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trò phải tập trung sức đổi mới kinh tế, đáp
ứng đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống và làm việc, các nhu cầu xã hội
khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghóa xã hội, coi đó là điều
kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lónh vực chính trò".
Như vậy, rõ ràng Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng
đăng phương pháp luận duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất và ý thức
vào cuộc đổi mới, tiến hành đổi mới kinh tế trước để tạo điều kiện đổi mới
trong lónh vực chính trò, Đại hội VII, sau khi đã phân tích sâu sắc đặc điểm tình
với những chính sách chương trình phát triển kinh tế chính trò xã hội, chính sách
ngoại giao hợp lý, chúng ta đã đạt được những bước tiến rất quan trọng, bình
thường hoá quan hệ Với Mỹ, là thành viên của Khối ASEAN (Hiệp hội các
nước Đông Nam Á), đặc biệt năm 1998 ta đã trở thành thành viên của khối
APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương)… Từ chỗ bò bao
vây cấm vận nay đã được bình thường hóa được tất cả các nước lớn, có quan hệ
ngoại gia o với 167 nước, quan hệ thương mại với 120 nước đồng thời cân bằng
quan hệ với các nước lớn, phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng
khu vực. Điều đó có ý nghóa to lớn trong việc giữ vững môi trường hòa bình ổn
đònh, là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao, năm 1996 là 9.3%, năm 1987 là 8.2%,
năm 1998 là 5.8% (do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu
vực). Lạm phát vẫn được giữ ở mức dưới 10%, tốc độ tăng trưởng của côg
nghiệp vẫn đạt hai con số… đời sống của nhân dân ngày càng được ổn đònh và
nâng cao.
Tóm lại, với những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua chúng ta
hoàn toàn có cơ sở khẳng đònh công cuộc đổi mới mà Đảng mà nhân dân ta
đang thực hiện là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tế đất nước.
13
IV . KẾT LUẬNNói tóm lại, VC bao giờ cũng đóng vai trò quyết đinh đối với YT ,nó là cái có
trước YT, nhưng YT có tính năng động tác động trở lại VC .Mối tác động qua
lại này chỉ được thực hiện thông qua hạt động thực tiễn của con người .Chúng
ta nâng cao vai trò của YT đối với VC chính là ở chổ nâng cao năng lực nhận
thức các quy luật khách quan và vận dụng các quy luật khách quan trong hoạt
động thực tiễn của con người.
Trong thời kì đổi mới của nước ta khi chuyển nền kinh tế từ tập trung quan liêu