A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới đất nước thực chất là một quá
trình nhận thức đúng đắn hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với
thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về bản chất chế độ xã hội
chủ nghĩa, là thực hiện mong muốn “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
cũng được học hành”.
Thực hiện lời di huấn của người: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công
bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Do vậy, chính sách xã hội
giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu trong hệ thống chính sách của Đảng và
Nhà nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động
lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì
mục tiêu làm cho “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”,
bản thân là một cán bộ đảng viên, một công dân đang sống trong chế độ xã hội
chủ nghĩa, được hưởng thụ những chính sách của Đảng và Nhà nước. Tôi rất
vinh dự và tự hào vì Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù
hợp với điều kiện xã hội qua các thời kỳ.
1
Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi Đảng phải đề ra các
chính sách xã hội đúng và phù hợp với thực tế. Bởi vì, thực tiễn cho thấy trong
quá trình triển khai thực hiện một số chính sách xã hội như chính sách người có
công, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm... còn gặp nhiều khó khăn và bất
cập là thực trạng chung đòi hỏi Đảng và Nhà nước cũng như mỗi cán bộ đảng
viên cần quan tâm nhiều hơn nữa đến chính sách xã hội.
Xã Long Sơn là một đơn vị xa trung tâm huyện. Việc thực hiện các chính
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, thống kê, phân tích phỏng
vấn.
3
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 3 phần lớn sau:
I. Cơ sở lý luận về chính sách xã hội
II. Thực trạng việc chấp hành và thực hiện chính sách xã hội ở xã Long
Sơn, huyện Sơn Động trong giai đoạn hiện nay.
III. Phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần thực hiện tốt
chính sách xã hội ở xã Long Sơn, huyện Sơn Động trong giai đoạn tới.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội là một bộ phận hữu cơ và giữ
vị trí vai trò đặc biệt trong hệ thống cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh là nhà
chính trị lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, nhà lý luận thiên tài của cách mạng nước
ta. Trong tư tưởng của Người, chính sách xã hội là xây dựng nước Việt Nam
thống nhất, độc lập và hòa bình.
4
nguồn xung lực mới cho sự phát triển, cải thiện từng bươc cuộc sống của nhân
dân, sớm đưa nước ta trở thành một quốc gia phát triển của khu vực và thế giới.
Chính sách xã hội cần đưa ra những định hướng toàn diện và đúng đắn. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ:
Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ
sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi công dân,
kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật
chất với đời sống tinh thần, giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích
lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội.
Từ phương hướng chung trên Đảng ta đã đề ra một số quan điểm cơ bản
trong trong quá trình triển khai thực hiện chính sách xã hội:
Một là; Có chính sách xã hội là hệ thống công cụ tác động một cách toàn
diện, bao trùm lên tất cả cac mặt đời sống xã hội. Trong thực tại xã hội, không
một lĩnh vực nào mà chính sách xã hội lại không bao quát tới. Từ quan điểm này
6
đòi hỏi việc đề ra chính sách xã hội cũng như thực hiện chính sách xã hội phải
gắn bó, thống nhất với các hệ thống chính sách khác như chính sách kinh tế,
chính sách văn hóa, chính sách ngoại giao, chính sách dân tộc, tôn giáo, dân số...
Kinh tế và văn hóa là hai lĩnh vực khác nhau, song không tách rời nhau mà
gắn bó mật thiết với nhau, đan xen vào nhau, làm điều kiện tồn tại cho nhau, tác
động lẫn nhau. Trong mối quan hệ này, những mục tiêu xã hội trở thành mục tiêu
động lực của các hoạt động kinh tế. Ngược lại, sự phát triển kinh tế là tiền đề và
điều kiện vật chất cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quôc lần thứ VI đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát
sách xã hội sẽ tác động chung vào những lĩnh vực này nhằm góp phần tạo ra sự
công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi công dân, tạo ra sự
thống nhất, đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo ở các vùng
miền; xây dựng và hoàn thiện cơ cấu xã hội mới, tạo ra sự ổn định xã hội cũng
8
như phát huy tối đa tính tích cực và năng động xã hội cho mọi thành viên trong
xa hội.
Hai là; Coi việc xây dựng chính sách xã hội và thực hiện chính sách xã hội
là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể và của toàn dân. Văn kiện
Đại hội X đã khẳng định: “Xây dựng hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng
dịch vụ công cộng thiết yếu, tạo điều kiện cho mọi người dân, kể cả người nghèo
được đáp ứng nhu cầu về giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóathông tin, thể dục thể thao, tạo việc làm... Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa
dạng; phát triển mạnh mẽ hệ thống bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn
dân. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và
phát triển, tạo cơ hội cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức
khỏe...”. Chính sách xã hội bao quát toàn bộ những hoạt động rộng lớn, phong
phú, đa dạng của con người nhằm phục vụ cho con người. Vì vậy, trong quá
trình xây dựng, hoàn thiện cũng như thực hiện chính sách cần thiết phải thu hút
sự đóng góp, tham gia thực hiện của tất cả các thành viên trong xã hội. Nhà nước
cần đề ra chính sách cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, từng lĩnh vực, từng nhóm
xã hội củ thể. Chính quyền các cấp và các tổ chức xã hội cần tổ chức thực hiện
nghiêm chỉnh chính sách xã hội. Mọi cá nhân tích cực tham gia thực thi, chấp
9
mẽ và bền vững hơn cho cho phát triển kinh tế- xã hội. Tập trung giải quyết
những vấn đề xã hội bưc xúc...”.
3. Bản chất, nụi dung của chính sách xã hội
3.1. Bản chất của chính sách xã hội
Chính sách xã hội được hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và đã
được phát triển, biến đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau, có những hình
thức và loại chính xã hội khác nhau, cũng như có những quan niệm và định
nghĩa khác nhau về chính sách xã hội. Ở nước ta, chính sách xã hội được hiểu là
hệ thống công cụ tác động vào con người, vào các tổ chức đoàn thể xã hội nhằm
điều hòa các hành vi, lợi ích của các nhóm xã hội, góp phần thực hiện công bằng,
11
bình đằng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người, đảm bảo sự phát triển
bền vững.
Xuất phát từ quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực,
vừa là trung tâm của mọi sự quan tâm xã hội, vừa là chủ thể sang tạo mọi giá trị
vật chất và tinh thần cho xã hội, chính sách xã hội cần phải tác động một cách
toàn diện vào tất cả các mặt của đời sống con người, nhằm phát huy mạnh mẽ
nhân tố con người. Theo Mác: “Trong tính hiện thực của mình, bản chất con
người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Do đó, chính sách xã hội cần phải
tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư
tưởng, giáo dục nhằm phát triển cân đối, toàn diện cho mỗi cá nhân cũng như
toàn xã hội. Dù biểu hiện dưới nhiều hình thức văn bản, nội dung khác nhau,
song về bản chất, chính sách xã hội luôn hướng vào những hoạt động nhằm điều
Trong khi tác động vào các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản, hệ thống chính
sách xã hội cần tạo ra sự thống nhất giữa tính ổn định và tính năng động xã hội,
vừa góp phần giảm bớt những xung đột và sai lệch xã hội, vừa tạo ra tính tích
cực xá hội và những yếu tố cần thiết cho sự cân bằng, ổn định và phát triển bền
vững trong xã hội. Vạch ra một hệ thống các chính sách xã hội nhằm tác động
một cách tích cực, hiệu quả vào các quan hệ gia đình, giai cấp, dân tộc để từ đó
góp phần phát huy mạnh mẽ hơn nữa nhân tố con người, đó là một trong các
mục tiêu chiến lược của chính sách xã hội hiện nay ở nước ta.
Thứ hai; Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất
Trong hệ thống chính sách này, trước hết phải kể đến nhóm chính sách
nhằm tạo ra nhiều việc làm cũng như những điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất
cho con người lao động. Chính sách xã hội về việc làm hướng tới khẳng định
quyền có việc làm và những hình thức làm việc phù hợp với trình độ, sức khỏe,
năng lực và đặc điểm của từng người lao động. Chính sách xã hội về việc làm
không chủ trương cào bằng xóa nhòa mọi sự khác biệt giữa các thành viên lao
động mà hướng vào việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo ra động
lực nhằm khuyến khích tính tích cực của người lao động, sắp xếp, phân bố, hỗ
trợ hợp lý người lao động.
14
Nhóm chính sách này cùng hướng vào những mục tiêu như an toàn, an
ninh, sức khỏe cho người lao động, giảm bớt những rủi ro, tai nạn trong lao động
hay những thiệt hại do những đổ vỡ không tránh khỏi của một số doanh nghiệp
do nền kinh tế thị trường gây ra.
trải qua hai cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, phải chịu những tổn thất lớn về
người, về của, do đó, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến chính sách đền ơn,
đáp nghĩa cho những người đã hy sinh, đóng góp nhiều cho đất nước. Cần củng
cố, hoàn thiện chế độ, chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình
liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng. Mặt khác, cũng cần có một hệ thống
chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận kợi cho những người có
tài năng, các nhà khoa học, các nhà quản lý, kinh doanh giỏi để họ có thể phát
huy tối đa năng lực sáng tạo và khả năng cống hiến của mình cho đất nước. Sau
16
cùng là những chính sách hướng vào các lĩnh vực bảo hiểm lao động, bảo hiểm
nghề nghiệp, bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm tài sản, phương tiện vật chất...
Trong điều kiện hiện nay, đặc biệt là trong thời kỳ mở cửa, hội nhập khu
vực và quốc tế, rất nhiều vấn đề nảy sinh như bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm cho
người Việt Nam lao động ở nước ngoài, bảo hiểm trong quân đội, mở rộng bảo
hiểm sang học sinh, tuổi trẻ học đường... Đó là vấn đề bức xúc mà Đảng, Nhà
nước Việt Nam cần sớm nghiên cứu, tổng kết và ban hành các chính sách mới
nhằm đáp ứng những yêu cầu mà cuộc sống đang đặt ra.
Thứ năm; Nhóm chính sách xã hội về cư trú và nhà ở.
Thực hiện tốt vấn đề tự do cư trú và nhà ở cho nhân dân là một trong
những nhiệm vụ quan trọng, phản ánh một phần bộ mặt nhân đạo của xã hội ta.
Là một quốc gia còn nghèo, đất đai hạn hẹp, lại đang trong thời kỳ chuyển đổi
mạnh mẽ - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhu cầu tự do cư
trú và nhà ở (kể cả ở đô thị và nông thôn) đang là một nhu cầu bức xúc của đông
đảo quần chúng nhân dân. Chính trong bối cảnh này, Đảng và Nhà nước ta cần
hết sức thận trọng, chu đáo và cần có cái nhìn chiến lược, tổng thể, lâu dài trong
II. THỰC TRẠNG VIỆC CHẤP HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở
XÃ LONG SƠN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG
1. Vài nét khái quát về địa lí, tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở xã Long Sơn
huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang.
Xã Long Sơn huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang trước và trong kháng chiến
chống thực dân pháp thuộc huyện Hải Chi đặc khu Hồng Quảng (Quảng Ninh),
sau hòa bình lập lại được sát nhập về huyện Sơn Đông tỉnh Bắc Giang. Long Sơn
là vùng quê có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới Đảng bộ và nhân dân xã Long Sơn quyết
tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Xã Long Sơn là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Sơn Động, phía đông
giáp với xã Dương Hưu, phía nam giáp với huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh, Phía
tây giáp với xã Thanh Luận, Bồng Am, phía bắc giáp với xã An Lạc.
19
Long Sơn là một xã vùng cao có đồi núi đan xen với những cánh đồng và
các khu dân cư; có diện tích đất 6489,14 ha; Trong đó đất ở 52,48 ha, đất nông
nghiệp 438,33 ha, đất lâm nghiệp 5771,43 ha còn lại là hồ ao, song suối và núi
cao; hệ thống giao thông duy nhất có đường quốc lộ 279 chạy từ trung tâm
huyện qua Long Sơn đến Quảng Ninh, Hải Phòng. Năm 1983 chợ Long Sơn
được thành lập, chợ họp theo phiên hàng hóa phong phú đa dạng, các mặt hàng
chủ yếu vận chuyển từ nơi khác đến. Long Sơn là trung tâm kinh tế văn hóa
giáo dục được triển khai thường xuyên và kịp thời, chất lượng giáo dục ở cả ba
cấp học được nâng lên (năm sau cao hơn năm trước) tỉ lệ giáo viên giỏi, học sinh
giỏi, học sinh tốt nghiệp THCS, thi đỗ vào trường THPT đạt tỉ lệ cao nhất nhì
trong huyện, năm học 2010 – 2011 trường THCS xã đạt danh hiệu tiên tiến xuất
sắc cấp tỉnh, trường Tiểu học và Mầm non đạt tiên tiến xuất sắc cấp huyện, cơ sở
21
vật chất luôn được đầu tư tu bổ, trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia năm 2007,
dự kiến trường THCS đạt chuẩn quốc gia năm 2011, trường mầm non vào năm
học tiếp theo.
Công tác an ninh và trật tự an toàn xã hội luôn được duy trì tốt, điều kiện
kinh tế, chính trị xã hội ổn định đã góp phần vào việc chấp hành và thực hiện tốt
chính sách xã hội ở địa phương Long Sơn.
2. Thực trạng việc chấp hành và thực hiện chính sách xã hội ở xã Long Sơn
huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.
2.1Những kết quả đạt được trên các lĩnh vực
Thứ nhất: Lĩnh vực dân số và việc làm:
Thực hiện chính sách dân số gắn với mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định dân
số là mục tiêu phấn đấu, là biện pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân được các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội ở địa
phương đặc biệt quan tâm.
Trong những năm qua, xã Long Sơn đã chấp hành nghiêm túc và triển khai
thực hiện có hiệu quả chính sách dân số và coi đây là nội dung trọng tâm trong
chiến lược phát triển kinh tế văn hoá xã hội của địa phương. Từ trước năm 2000
giải quyết việc làm cho 150 người làm công nhân khai thác than, 50 lao động tại
chỗ, 15 người đi xuất khẩu lao động. Năm 2009 giải quyết được 80 lao động vào
làm tại xí nghiệp than Đông Bắc, 20 lao động vào làm việc tại xí nghiệp may
Sơn Động và hơn 50 lao động tại chỗ. Năm 2010 mở 2 lớp dạy nghề chăn nuôi
thú y có 100 người tham gia đã giả quyết việc làm tại chỗ cho số lao động này.
Thứ hai: Vấn đề xóa đói giảm nghèo.
Tỷ lệ hộ đói nghèo trên địa bàn xã Long Sơn còn cao chiếm đến 46,9 % số
hộ trong toàn xã so với chuẩn nghèo của chính phủ tại quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 8/72005. Đây là vấn đề thách thức không nhỏ đối với sự
phát triển của xã Long Sơn. Vì vậy địa phương đã xác định đây là nhiệm vụ
trọng tâm cần quan tâm thực hiện.
Hằng năm Xã Long Sơn xây dựng kế hoách chỉ đạo rà soát thống kê hộ
nghèo đúng qui trình, đúng mức thu nhập nhà nước qui định, để triển khai các
24
chính sách hỗ trợ tới người nghèo; đồng thời giao chỉ tiêu giảm nghèo tới 8 thôn
bản của địa phương.
Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của xã triển khai kế hoạch điều tra, rà soát,
thống kê hộ nghèo theo đúng qui trình, giải quyết đầy đủ chế độ chính sách cho
người nghèo đảm bảo đúng nguyên tắccông khai dân chủ. Hằng năm xây dựng
phương án giao cho các đoàn thể, thôn bản phụ trách theo dõi định hướng cho
các gia đình triển khai thực hiện các phương án khả thi để phát triển kinh tế gia
đình nhằm vươn lên thoát nghèo.
Thực hiện tốt việc quản lí các đối tượng của chương trình và các dự án,