Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Nguyễn Văn Hùng - người thầy đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài: “Thực trạng giáo dục
kỹ năng sống cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội”. Sự chỉ bảo, giúp
đỡ của các thầy cô là nguồn động lực to lớn để tôi có được thành quả như ngày hôm
nay.
Thời gian làm đề tài đã giúp tôi học tập được nhiều điều. Đó đều là những
kiến thức bổ ích và quan trọng đối với tôi trong bước đi sắp tới của mình trong sự
nghiệp giáo dục.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Giáo
dục mầm non cùng các bạn sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội đã cộng tác
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Trà Giang
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KNS
Kỹ năng sống
CĐSPHN
UNICEF
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
CĐ - ĐH
Cao đẳng - Đại học
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Cơ sở của việc xác định mục tiêu............................................................39
Bảng 2.2a. Những khía cạnh tích cực của tự nhận thức về bản thân......................39
Bảng 2.2b. Các hành vi cần loại bỏ.........................................................................40
Bảng 2.3. Kỹ năng kiên định của sinh viên.............................................................41
Bảng 2.4. Kĩ năng giao tiếp của sinh viên...............................................................42
Bảng 2.5. Kỹ năng ra quyết định.............................................................................43
Bảng 2.6. Các hành vi giải quyết mâu thuẫn với bạn bè.........................................44
Bảng 2.7. Cách giải tỏa căng thẳng tâm lí của sinh viên CĐSP Hà Nội.................45
Bảng 2.8. Kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ..................................................................46
Bảng 2.9. Mức độ cần thiết của giáo dục kỹ năng sống..........................................48
Bảng 2.10. Mức độ cần thiết của những kỹ năng sống sống cụ thể đối với sinh viên
trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội...............................................................................48.
Bảng 2.11. Những kỹ năng sống chưa cần đối với sinh viên sư phạm...................51
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
1.3.2. Nội dung giáo dục kỹ năng sống..............................................................19
1.3.3. Một số nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống...............................................19
1.3.4. Phương pháp giáo dục kỹ năng sống.......................................................21
1.3.5. Các con đường giáo dục kỹ năng sống....................................................24
1.4. Tầm quan trọng của kỹ năng sống đối với sinh viên........................................25
1.5. Kết luận chương 1..............................................................................................29
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NỘI...............................................................31
2.1. Đặc điểm nghề giáo viên....................................................................................31
2.2. Tình hình chung về kỹ năng sống của sinh viên cao đẳng sư phạm và đặc
điểm trường cao đẳng sư phạm Hà Nội....................................................................34
2.2.1. Kỹ năng sống của sinh viên cao đẳng sư phạm......................................34
2.2.2. Đặc điểm của trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội...................................35
2.3. Thực trạng kỹ năng sống của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội.....37
2.3.1. Tổ chức khảo sát thực trạng.......................................................................37
2.3.2. Kết quả khảo sát.........................................................................................38
2.3.2.1. Thực trạng kỹ năng sống của sinh viên trường Cao đẳng Sư Hà Nội
..........................................................................................................................38
2.3.2.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường Cao đẳng sư
phạm Hà Nội....................................................................................................47
2.4. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến kỹ năng sống của sinh viên Cao đẳng sư
phạm Hà Nội..............................................................................................................52
2.4.1. Nhân tố khách quan..................................................................................53
2.4.2. Nhân tố chủ quan......................................................................................55
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
2.5. Kết luận chương 2..............................................................................................58
cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay cho thấy giới trẻ Việt Nam vẫn còn rất thiếu các kỹ năng sống cần
thiết và điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho họ trong công việc và thích ứng
trong cuộc sống. Việc hoàn thiện và nâng cao kỹ năng sống cho sinh viên là một vấn
đề rất cần thiết, không chỉ đối với sinh viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội nói riêng mà
còn mang ý nghĩa với sinh viên các trường nói chung. Xuất phát từ lý do trên, tôi
nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài này.
1
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
Thứ nhất: nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng sống trong thực tiễn,
trong học tập cũng như trong môi trường làm việc sau này của các bạn sinh viên.
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho
sinh viên hiện nay.
Cuối cùng đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và
nâng cao kỹ năng sống cho sinh viên trường CĐSPHN.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Cao Đẳng Sư phạm Hà
Nội hiện nay.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục KNS cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội
4. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Tập trung nghiên cứu tại trường CĐSPHN - Phường
Quan Hoa - Quận Cầu Giấy - Thành Phố Hà Nội
Về mặt thời gian: Nghiên cứu vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên
thuyết liên quan đến đề tài để thu thập thông tin cần thiết.
7.1.2. Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết: Trên cơ sở phân loại, hệ
thống hoá lý thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1. Phương pháp quan sát: trực tiếp quan sát các kỹ năng về thái độ, hành vi
qua cách cư xử, mối quan hệ của sing viên với những người xung quanh, với các sự
vật, sự việc diễn ra xung quanh để nắm được thực trang về KNS của sinh viên
CĐSPHN.
3
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
7.2.2. Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện, phỏng vấn để thu thập thông tin về
thực trạng giáo dục ký năng sống cho sinh viên CĐSPHN.
7.2.3. Phương pháp điều tra viết: Sử dụng Anket lấy ý kiến của giảng viên,
sinh viên để thu thập thông tin cần nghiên cứu.
7.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Thu thập lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, giáo viên
có kinh nghiệm, các nhà quản lý để có được những thông tin khoa học và thực tiễn
của vấn đề nghiên cứu nhằm kiểm chứng một cách khách quan các giả thuyết khoa
học, các biện pháp đề xuất thực nghiệm.
7.2.5. Phương pháp khảo nghiệm sư phạm: Để kiểm nghiệm tính khoa học.
khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
7.3. Các phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu, tăng mức độ
tin cậy cho đề tài.
- Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu điều tra có định lượng
chính xác cho nội dung, biện pháp nhằm nâng cao tính thuyết phục của đề tài nghiên
cứu.
- Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng,
Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời
sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau. Nghiên cứu kỹ năng ở
mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có P.Ia.Galperin,
V.A.Crutexki, P.V.Petropxki,…P.Ia.Galperin trong các công trình nghiên cứu của
mình chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình
thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các
nhà nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng lao động
gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như V.V.Tseburseva, Trần Trọng
Thuỷ, kỹ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia, Hà Thị Đức, Kỹ
năng hoạt động sư phạm gắn với tên tuổi X.I.Kixegops, Nguyễn Như An, Nguyễn
Văn Hộ.
Kỹ năng sống có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO
(Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức y tế
thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như trong các chương
trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước…Ở hướng nghiên cứu
này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô
tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển
hệ thống các kỹ năng đó.
Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận nội
dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong
6
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
chương trình giáo dục chính quy. Năm 2001 giáo dục KNS ở Lào được mở rộng
sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khỏe sinh sản, vệ sinh cá nhân,
giáo dục môi trường vv…
Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của
con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là
8
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
Thông qua đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục, các dự
án phát triển giáo dục trung học đều nhấn mạnh việc hình thành các năng lực cơ bản
như: Năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, chuyển từ quan
điểm “lấy thầy và kiến thức làm trung tâm” sang quan điểm “lấy trò và năng lực cần
đào tạo làm trung tâm”. Giáo dục kỹ năng sống căn bản được thực hiện lồng ghép
và dựa vào một số bộ môn có tiềm năng như: Môn công nghệ, môn giáo dục công
dân… Một số chương trình và dự án như trương trình thực nghiệm “Giáo dục sống
khỏe mạnh và kỹ năng sống” do UNICEF hỗ trợ đã được triển khai thí điểm ở 20
trường thuộc 5 quận, huyện của tỉnh: Lạng Sơn, Hà Nội, Hồ Chí Minh, An Giang.
Trong đổi mới giáo dục đại học, kỹ năng đã được chú ý trong mục tiêu dạy
học của mỗi bài, mỗi chương trong một số giáo trình. Tuy nhiên mức độ đạt được
còn nhiều hạn chế, hướng vào kỹ năng nghề (chuyên nghành) là chủ yếu, còn kỹ
năng sống chưa được chú trọng. Một số dự án đã triển khai nhằm hình thành cho
sinh viên những kỹ năng sống như: Kỹ năng bảo vệ môi trường, kỹ năng phòng
chống HIV mới chỉ đạt được mức độ nhận thức và thái độ còn hành vi thì chưa thể
đạt được như mong muốn. Như vậy ở Việt Nam, việc giáo dục KNS đã và đang tiến
hành trên phạm vi rộng vừa theo chuyên đề, dự án, vừa có tính chất lồng ghép vào
các môn học. Đối tượng được hưởng hết sức đa dạng, từ trẻ em đến người lớn
nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào những nhóm đối tượng có nguy cơ cao (xóa mù
chữ, những đối tượng lây nhiễm HIV…) bước đầu đã thu được những kết quả tương
đối khả quan. Tuy nhiên ở các cấp học, bậc học chưa có môn giáo dục kỹ năng sống
nhưng hiện nay đã có giáo trình giáo dục kỹ năng sống của dự án đào tạo giáo viên
Trung học cơ sở. Một số trường đại học đã tiến hành dạy môn giáo dục kỹ năng
sống cho một số chuyên ngành Tâm lý học.
Học để chung sống (learning to live together): Gồm các kỹ năng xã hội như
giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự
cảm thông…
Như vậy, theo quan niệm của UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để họ thực
hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
+ Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), KNS là những kỹ năng thiết thực mà
con người cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh, đó là nhưng kỹ năng tâm lý
xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân có thể có để tương tác với những người khác
một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc
sống hàng ngày.
Tương đồng với quan niệm của WHO, còn có quan niệm kỹ năng sống là
những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những
11
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể
thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
+ Theo chương trình giáo dục kỹ năng sống của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEFF, 1996), KNS là kỹ năng tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao
tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một
cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ
có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ KNS có thể thể hiện thành những
hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến những hành động của
những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường
xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh.
UNICEFF cho rằng kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ
năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết
định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.
đến để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả. Theo họ những kỹ năng cơ
bản như: Kỹ năng ra quyết định, kỹ năng từ chối, kỹ năng thương thuyết, đàm phán,
kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nhận biết… Ở đây kỹ năng giao tiếp được phân nhỏ để
chị em phụ nữ dễ hiểu hơn. Khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ
và đa dạng hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” được tổ chức từ
ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Đó là:
- Năng lực thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng
ngày.
- Hành vi làm cho cá nhân thích ứng và giải quyết có hiệu quả các thách thức
của cuộc sống.
- Những kỹ năng liên quan đến tri thức, những giá trị.
- Năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp con người có thể giải
quyết hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quan niệm về
kỹ năng sống của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEFF) nhưng có tính
khác biệt do điều kiện kinh tế, chính trị của từng quốc gia. Nội dung giáo dục kỹ
năng sống vừa đáp ứng những cái chung có tính chất toàn cầu vừa có tính đặc thù
quốc gia. Một số quốc gia coi trọng một số kỹ năng như: Kỹ năng tư duy, kỹ năng
13
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng luân chuyển
công việc. Một số quốc gia lại chú trọng đến kỹ năng xóa đói giảm nghèo, kỹ năng
phòng chống HIV/AIDS.
+ Trong tài liệu tập huấn giáo dục ngoài giờ lên lớp của bộ GD-ĐT, KNS là
khả năng thực hiện những hành vi thích ứng tích cực, những cách hành xử hiệu quả,
giúp cá nhân hòa nhập vào môi trường xung quanh (gia đình, trường lớp, thế giới
bạn bè…), giúp cá nhân hình thành các mối quan hệ xã hội, phát triển những nét
Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
Từ những quan niệm trên, có thể thấy rằng KNS bao gồm một loạt các kỹ
năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là
kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc
sống, học tập và làm việc hiệu quả… Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản
thân của mỗi con người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã
hội, khả năng ứng phó trước các tình huống của cuộc sống. Như vậy, KNS hướng
vào việc giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ và giá trị trong những hành
động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng.
Thông quan những qua niệm đã trình bày ở trên, có thể thấy KNS theo nghĩa
hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội của con người, theo nghĩa rộng, KNS
không chỉ bao gồm năng lực tâm lý xã hội mà còn bao gồm những cả những kỹ
năng tâm vận động. Điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là đều cho rằng
KNS thuộc phạm trù năng lực (kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng) chứ không thuộc
phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi (kỹ năng hiểu theo nghĩa hẹp).
Ở mỗi nước khác nhau, khái niệm kỹ năng sống cũng được hiểu rất khác
nhau. Ở một số nước, dạy KNS chính là để giáo dục cách vệ sinh, dinh dưỡng và
phòng chống bệnh tật. Ở những nước khác, KNS được tập trung vào giáo dục hành
vi, an toàn trên đường phố, bảo vệ môi trường hoặc giáo dục hòa bình…
KNS được hình thành thông qua một quá trình sống, học tập, rèn luyện trong
gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Chính vì thế, KNS vừa có tính cá nhân, vừa có
tính xã hội, chịu ảnh hưởng của gia đình, cộng đồng, dân tộc. KNS mang tính cá
nhân bởi vì đó là khả năng của mỗi cá nhân. KNS có tính xã hội vì trong mỗi giai
đoạn của sự phát triển xã hội, mỗi tôn giáo, cá nhân được yêu cầu để có sự phù hợp
với những kỹ năng sống ấy. Ví dụ: Kỹ năng sống của những người sống ở những
vùng miền khác nhau có sự khác nhau…
Trong đề tài này chúng tôi hiểu khái niệm kỹ năng sống như sau:
15
Nguyễn Thị Trà Giang – K2A – Khoa GDMN
1.2.3.3. Các nhóm kĩ năng sống từ góc độ giáo dục hành vi xã hội (UNICEF)
- Các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình (kỹ năng tự nhận thức, kỹ
năng tự trọng, kỹ năng kiên định, kỹ năng ứng xử với cảm xúc, kỹ năng đương đầu
với căng thẳng).
- Những kỹ năng nhận biết và sống với người khác (kỹ năng quan hệ/tương
tác liên nhân cách, kỹ năng cảm thông, kỹ năng đứng vững trước áp lực một cách
nhanh chóng nhất, kỹ năng thương lượng).
- Các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả (tư duy phê phán, tư duy
sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định…).
1.2.3.4. Các nhóm kỹ năng sống theo những quan điểm khác.
- Kỹ năng giao tiếp liên nhân cách như: Giao tiếp bằng lời nói, giao tiếp
không lời, kỹ năng biểu hiện cảm xúc, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng xin lỗi.
- Kỹ năng thương lượng và từ chối bao gồm: Kỹ năng thương lượng và kiềm
chế xung đột, kỹ năng từ chối, kỹ năng hợp tác và làm việc theo nhóm...
- Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề gồm: Kỹ năng thu thập thông
tin, kỹ năng phân tích, kỹ năng thực hành để đạt được kết quả.
- Các kỹ năng tư duy tích cực: Kỹ năng nhận biết thông tin và lĩnh hội nguồn
thông tin thích ứng.
- Các kỹ năng phát triển và kiểm soát nội tâm gồm: Kỹ năng xây dựng sự tự
tin và lòng tự trọng.
- Các kỹ năng tự nhận thức bản thân bao gồm: Nhận thức về quyền lợi, nghĩa
vụ, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, các kỹ năng ấn định mục tiêu.
- Các kỹ năng kiềm chế cảm xúc: Sự kiềm chế tức giận, xử lý trạng thái bồn
chồn, kỹ năng xử lý với trạng thái mệt mỏi, các kỹ năng kiềm chế trạng thái căng
thẳng như: Tư duy tích cực, lạc quan và các phương pháp thư giãn.
17