Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Các hình thức trả lương tại
Công ty công trình giao thông III - Hà
Nội” GVHD:
Nguyễn Nam Phương
SVTH:
Dương Thị Diệu
IV. HÌNH THỨC TIỀN THƯỞNG 39
V. CÁC YẾU TỐ BÊN NGOÀI 41
1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc trả lương 41
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
3
2. Các Yếu tố thuộc về doanh nghiệp 42
VII. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác trả lưong 44
CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TẠI
CÔNG TY CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG III - HÀ NỘI 47
I. Quá trình hình thành và phát triển của công ty công trình giao thông
III - Hà nội 47
1. Lịch sử phát triển 47
2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh 48
3. Chức năng, nhiệm vụ của công ty 48
4. Đặc điểm về thị trường 49
5. Kết quả sản xuất kinh doanh 49
6. Cơ cấu tổ chức hệ máy quản lý tại công ty 50
7. Đặc điểm lao động 58
II. Thực trạng các hình thức trả lương của công ty công trình giao thông
III Hà Nội 61
1. Nguyên tắc trả lương của công ty công trình giao thông III Hà nội
2. Các hình thức trả lương tại công ty 62
A. Hình thức trả lương theo thời gian 64
B. Hình thức trả lương theo sản phẩm 66
3. Các khoản trích theo lương tại công ty công trình GT III Hà nội 72
4. Các khoản phụ cấp 75
5. Các hình thức tiền thưởng 76
III. Đánh giá công tác trả lương tại công ty CTGT III - Hà nội 78
mình.
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường với sự thu hút đầu tư của nước
ngoài vào Việt Nam thì việc công nhân phải được đào tạo như thế nào để đảm
bảo họ làm được tốt công việc được giao. Do vậy việc đầu tư vào con người
được cho là một lĩnh vực đầu tư có hiệu quả cao nhất, phải biết phát huy triệt
để nhân tố con người để khai thác tiềm năng trong mỗi người lao động.
Thu nhập từ việc làm và đặc trưng xã hội - nghề nghiệp - kỹ năng của
việc làm là mối quan tâm hàng đầu của người lao động và cũng là vấn đề
trọng tâm chương trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam khi chuyển sang
giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tiền lương là một phần
quan trọng giúp đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động.
Nếu lựa chọn cách trả lương hợp lý sẽ tạo động lực cho người lao động thực
hiện tốt công việc, nhiệt tình và và phát huy hết khả năng của mình để làm
việc. Còn ngược lại, người lao động sẽ thờ ơ với công việc của mình, họ chỉ
làm cho xong bổn phận bởi vì tiền lương sẽ không đảm bảo cuộc sống của họ
và gia đình họ. Họ sẽ quan tâm đến thu nhập ngoài tiền lương hơn là quan tâm
đến tiền lương họ nhận được. Khi đó tiền lương không kích thích được họ làm
việc hăng say.
Trong thời gian thực tập tại công ty công trình giao thông III Hà Nội. Em
thấy công tác trả lương cho cán bộ công nhân viên trong công ty vẫn còn hạn
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
6
chế, em đã chọn đề tài "Các hình thức trả lương tại Công ty công trình giao
thông III - Hà Nội" làm chuyên đề tốt nghiệp.
II. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được chia
làm ba chương:
Chương I: Những lý luận chung về tiền lương
trình độ và khả năng lao động của mình.
Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở
nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành
phần và khu vực kinh tế.
Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp,
tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức
của nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
8
và được thể hiện trong hệ thống lương thang lương, bảng lương do Nhà nước
qui định.
Trong các thành phần và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lương
chịu sự tác động chi phối rất lớn của thị trường lao động. Tiền lương trong
khu vực này dù vẫn nàm trong khuôn khổ luật pháp và theo những chính sách
của chính phủ, nhưng là những giao dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, những
"mặc cả" cụ thể giữa một bên làm thuê và một bên đi thuê. Những hợp đồng
lao động này có tác động trực tiếp đến phương thức trả công. Đứng trên
phạm vi toàn xã hội, TL được xem xét và đặt trong quan hệ về phân phối thu
nhập, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, quan hệ về trao đổi… và do vậy các
chính sách về tiền lương, thu nhập luôn luôn là các chính sách trọng tâm của
mọi quốc gia.
Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào NSLĐ và
hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm
làm việc… ngay trong quá trình lao động.
TL thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại
dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mau được bằng tiền
họ có thể tham gia vào quá trình tái sản xuất tiếp theo. Vì vậy, tiền lương bao
gồm nhiều yếu tố cấu thành, để thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân
người lao động và của gia đình họ. Việc trả lương cho người lao động không
chỉ căn cứ vào hợp đồng mà căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của người lao động mà họ nhận được sau một thời gian lao động mà họ
bỏ ra.
4. Chức năng của tiền lương
Con người có một vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất, con người là
yếu tố cấu thành, vận hành nên tổ chức sản xuất. Theo nghiên cứu của các nhà
kinh tế đã kết luận: Động cơ lao động bắt nguồn từ hệ thống nhu cầu về vật
chất và tinh thần của con người. Họ lao động với mục đích nhằm thoả mãn
nhu cầu của bản thân, của xã hội. Nhu cầu của con người ngày càng phong
phú, đa dạng có thể nó nhu cầu của con người là không có giới hạn. Tiền
lương trong nền kinh tế thị trường được gắn với những chức năng sau:
- Tiền lương đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động. Theo Các
Mác "Tiền lương không chỉ nuôi sống bản thân người công nhân mà còn phải
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
10
dư đủ để nuôi sống gia đình anh ta, tiền lương phải đảm bảo để duy trì sức lao
động.
- Đảm bảo vai trò kích thích của tiền lương. Vì động cơ của tiền lương,
người lao động phải có trách nhiệm đối với công việc, tiền lương phải tạo
được sự say mê công việc, không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi
mặt, kiến thức chuyên môn, kỹ năng…
- Đảm bảo vai trò điều phối lao động. Với tiền lương được thoả đáng
người lao động sẽ tự nguyện đảm nhận mọi công việc được giao phù hợp với
khả năng của bản thân mình.
- Vai trò quản lý lao động của tiền lương. Doanh nghiệp sử dụng công cụ
tiền lương không chỉ với mục đích tạo điều kiện vật chất cho người lao động
lương trong sản xuất và đời sống thì việc lựa chọn hình thức trả lương phù
hợp với điều kiện, đặc thù sản xuất của từng ngành, từng doanh nghiêp sẽ có
tác dụng tích cực thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết quả lao động,
hiệu quả sản xuất của kinh doanh. Đây luôn luôn là vấn đề nóng bỏng trong
tất cả các doanh nghiệp một chế độ tiền lương lý tưởng vừa đảm bảo lợi ích
người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội.
II. CÁC CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG CẤP BẬC
1. Chế độ tiền lương cấp bậc
1.1. Khái niệm
Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định chung của Nhà
nước và các xí nghiệp, doanh nghiệp vận dụng để trả lương cho người lao
động - căn cứ vào chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một
công việc nhất định.
Chế độ tiền lương cấp bậc áp dụng cho công nhân những người lao động
trực tiếp và trả lương theo kết quả lao động của họ thể hiện qua số lượng và
chất lượng. Số lượng lao động được thể hiện qua mức hao phí lao động dùng
để sản xuất sản phẩm trong một khoảng thời gian theo lịch nào đó. Chất lượng
lao động là trình độ lành nghề của người lao động sử dụng vào quá trình lao
động, chất lượng lao động thể hiện ở trình độ giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm,
kỹ năng chất lượng lao động cao thì năng suất lao động và hiệu quả công việc
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
12
sẽ cao. C.Mác viết: "Lao động phức tạp chỉ là bội số của lao động giản đơn
nhân đôi lên, thành thử một số lượng lao động phức tạp nào đó có thể tương
đương với một số lượng lớn về lao động giản đơn". Lao động phức tạp trong
ý nghĩa của Các Mác là lao động có trình độ lành nghề cao. Rõ ràng muốn xác
định đúng đắn tiền lương cho từng loại công việc, cần xác định rõ số lượng và
chất lượng lao động nào đó đã hao phí để thực hiện công việc đó. Đồng thời
xác định điều kiện lao động của công việc cụ thể đó.
- Hệ số lương chỉ rõ lao động của công nhân ở một bậc nào đó (lao động
có trình độ tay nghề cao), được trả lương cao hơn công nhân bậc 1 (bậc có
trình độ lành nghề thấp nhất - hay còn gọi là lao động giản đơn) trong nghề
bao nhiêu lần.
- Bộ số của thang lương là hệ số của bậc cao nhất trong một thang lương.
Đó là sự gấp bội giữa hệ số lương của bậc cao nhất so với hệ số lương của bậc
thấp nhất hoặc so với mức lương tối thiểu.
Sự tăng lên của hệ số lương giữa các bậc lương được xem xét ở hệ số
tăng tuyệt đối và hệ số tăng tương đối.
- Hệ số tăng tuyệt đối của hệ số lương là hiệu số của hai hệ số lương liên
tiếp kề nhau.
H
tdn
= H
n
- H
n-1
Trong đó: H
tdn
: hệ số tăng tuyệt đối
H
n
: hệ số lương bậc n
H
n-1
: hệ số lương ở bậc n-1
- Hệ số tăng tương đối của hệ số lương là tỷ số giữa hệ số tăng tuyệt đối
với hệ số lương của bậc đứng trước.
H
tuyệt đối và tương đối khác nhau (xem bảng X.1).
b) Trình tự xây dựng một thang lương
- Xây dựng chức danh nghề của các nhóm công nhân
Chức danh nghề của nhóm công nhân là chức danh cho công nhân trong
cùng một nghề hay một nhóm nghề. Việc xây dựng chức danh căn cứ vào tính
chất đặc điểm và nội dung của quá trình lao động. Những công nhân làm việc
mà công việc của họ có tính chất, đặc điểm và nội dung như nhau thì được
xếp vào một nghề - mang cùng một chức danh chẳng hạn công nhân cơ khí,
công nhân xây dựng… những người trong cùng một nghề sẽ có chung một
thang lương.
Xác định hệ số của thang lương thực hiện qua phân tích thời gian và các
yêu cầu về phát triển nghề nghiệp cần thiết để một công nhân có thể đạt tới
bậc cao nhất trong nghề. Các yếu tố có thể đưa vào phân tích là: thời gian học
tập văn hoá, thời gian đào tạo bồi dưỡng, thời gian tích luỹ kinh nghiệm và kỹ
năng làm việc…
Khi xác định bội số của thang lương, ngoài việc phân tích các yếu tố trực
tiếp trong ngành, cần phân tích quan hệ trong nhóm nghề và những nghề khác
để đạt được tương quan hợp lý giữa các ngành nghề khác nhau.
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
15
- Xác định số bậc của thang lương
Xác định số bậc của một thang lương căn cứ vào bội số của một thang
lương, tính chất phức tạp của sản xuất và trình độ trang bị kỹ thuật cho lao
động (trình độ cơ khí hoá, tự động hoá) và trình tự phát triển trình độ lành
nghề, nâng bậc… Từ đó mà xác định số bậc cần thiết. Những nghề có tính
chất phức tạp về kỹ thuật cao thì thường được thiết kế theo thang lương có
nhiều bậc. Ở nước ta, những nghề trong nhóm nghề cơ khí có kết cấu nhiều
bậc (7 bậc).
- Xác định hệ số lương của các bậc
1
x k
i
Trong đó: Suất lương (mức lương) bậc i
S
1
: Suất lương (mức lương) bậc 1 hay mức lương tối thiểu.
k
i
: hệ số lương bậc i
Mức lương bậc 1 là mức lương ở bậc thấp nhất trong nghề. Mức lương
này ở từng nghề khác nhau cũng khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phức tạp
về kỹ thuật và điều kiện lao động, và phụ thuộc vào hình thức trả lương.
Trong nền kinh tế, mức lương bậc 1 của một nghề nào đó luôn luôn lớn hơn
hoặc bằng mức lương tối thiểu.
Mức lương tối thiểu là mức tiền lương trả cho người lao động làm những
công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao
động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng. Đó là
những công việc thông thường mà một người lao động có sức khoẻ bình
thường, không đào tạo về trình độ chuyên môn cũng có thể làm được. Tiền
lương tối thiểu được nhà nước quy định theo từng thời kỳ trên cơ sở về trình
độ phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước và yêu cầu của tái sản xuất sức
lao động xã hội. Tiền lương (mức lương) tối thiểu thường được xác địn qua
phân tích có chi phí về ăn, mặc, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi phí về học tập
bảo hiểm, sức khoẻ.
Ví dụ:
Năm Nhà nước quy định mức lương tối thiểu
1993 120.000đ
1997 144.000đ
dựng tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật. Việc xác định cấp bậc công việc thường
được tiến hành theo trình tự sau đây:
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
18
+ Chia quá trình lao động thành các chức năng hoạt động và các yếu tố
liên quan cần thiết. Quá trình làm việc có thể có những khác nhau về mức độ
phức tạp, quy định công nghệ và trình độ nhưng về cơ bản đều bao gồm
những chức năng chủ yếu sau đây:
- Chức năng tính toán: nó bao gồm những công việc tính toán phục vụ
cho quá trình làm việc. Đó có thể là những tính toán ban đầu hay tính toán
trong và sau quá trình làm việc.
- Chức năng chuẩn bị và tổ chức công việc tại nơi làm việc. Chức năng
này bao gồm tất cả các công việc chuẩn bị (tài liệu, nguyên vật liệu ) và bố
trí sắp xếp công việc tại nơi làm việc để cho quá trình làm việc được diễn ra
một cách có hiệu quả nhất.
- Chức năng thực hiện quá trình đó là những động tác, thao tác thực hiện
công việc chính theo yêu cầu của quy trình công nghệ, tạo ra sản phẩm hay
hoàn thành công việc.
- Chức năng phục vụ (điều chỉnh, sửa chữa ) thiết bị. Chẳng hạn điều
chỉnh sửa chữa những sai lệch hay hỏng hóc của các loại máy móc thiết bị
được sử dụng để quá trình làm việc được diễn ra một cách liên tục.
- Yếu tố tinh thần trách nhiệm, đó là yêu cầu trách nhiệm ở từng mức độ
nhất định với mỗi loại công việc đặt ra cho người lao động. Ví dụ, với những
công việc kiểm tra, đánh giá, hay công việc có liên quan đến sự an toàn về
người, về tài sản thì yếu tố tinh thần trách nhiệm được đặt ra rất cao, rất
quan trọng.
Trong thực tế, mức độ và yêu cầu cụ thể của từng chức năng như trình
bày ở trên có thể khác nhau xuất phát từ tình chất, đặc điểm của từng nghề,
từng công việc.
Từ bảng trên ta thấy: Số điểm của chức năng này hay hay chức năng
khác của một số loại công việc nào đó là do mức độ phức tạp của công việc
quyết định. Thông thường, phần lớn số điểm tập trung nhiều ở chức năng thực
hiện quá trình làm việc, nhất là những công việc phụ thuộc nhiều vào kỹ năng
và kỹ xảo của người lao động.
Trong ví dụ trên, quy định tổng số điểm của các mức độ phức tạp và tinh
thần trách nhiệm rất cao và tổng số điểm theo giá trị tính được là 200.
Khi có điểm cho từng chức năng và tổng số điểm của cả quá trình thực
hiện công việc trong nghề thì chuyển từ điểm sang bậc. Tuỳ theo số bậc trong
thang lương tương ứng mà có thể quy chuyển thành các bậc điểm. Các bậc
tăng dần từ thấp đến cao. Nghề A áp dụng thang lương 5 bậc ta có bảng quy
điểm thành bậc và so với mức lương tối thiểu như sau:
Trong khi xây dựng cấp công việc, có thể không phải công việc đơn giản
(bậc 1) sẽ chỉ gồm các điểm ở mức độ rất đơn giản, và cũng không phải công
việc ở bậc cao nhất đến mức độ phức tạp với điểm hoàn toàn tối đa. Điểm cao
thấp phụ thuộc chủ yếu vào phân tích cụ thể.
b) Về xác định cấp bậc công nhân
Xác định cấp bậc công nhân tức là xác định những yêu cầu về trình độ
lành nghề của công nhân. Trình độ lành nghề của công nhân là toàn bộ kiến
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
21
thức lý thuyết và kỹ năng thực hành mà người công nhân đó cần phải có để
hoàn thành công việc với một mức độ phức tạp nhất định.
Mỗi công nhân đều phải có một bậc phù hợp với trình độ lành nghề của
mình trong tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật.
Trong bảng tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, cấp bậc công nhân được xây
dựng thống nhất về kết cấu và nội dung, bao gồm hai phần:
- Phần yêu cầu chung
- Phần diễn giải trình độ lành nghề
kế hoạch, tổ chức, điều hành kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Sản xuất càng phát triển, quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh càng
mở rộng thì vai trò quan trọng của lao động quản lý ngày càng tăng và càng
phức tạp. Hiệu quả của lao động quản lý có ảnh hưởng rất lớn; trong nhiều
trường hợp mang tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã
hội, chính trị
Khác với lao động trực tiếp, lao động quản lý, lao động gián tiếp làm
việc bằng trí óc nhiều hơn, cấp quản lý càng cao thì đòi hỏi sáng tạo nhiều.
Lao động quản lý không chỉ thực hiện các vấn đề chuyên môn mà còn giải
quyết rất nhiều các quan hệ con người trong quá trình làm việc. Đặc điểm này
làm cho việc tính toán để xây dựng thang lương, bảng lương cho lao động
quản lý rất phức tạp.
Lao động quản lý ở doanh nghiệp bao gồm những hoạt động, những
chức năng chủ yếu sau:
1: Lãnh đạo sản phẩm kinh doanh
2: Thiết kế sản phẩm công việc
3: Chuẩn bị công nghệ sản xuất
4: Trang bị và bảo đảm cho sản xuất kinh doanh
5: Định mức lao động và vật tư
6: Tổ chức và điều hành quản lý
7: Tổ chức lao động và tiền lương
Chuyên đề tốt nghiệp
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
23
8: Phục vụ năng lượng, sửa chữa
9: Kiểm tra chất lượng sản phẩm
10: Điều độ và tác nghiệp sản xuất
11: Lập kế hoạch và kiểm soát
12: Marketing.
Dương Thị Diệu - KTLĐ 41B
24
Tiền lương trong chế độ tiền lương chức vụ trả theo thời gian, thưởng trả
theo tháng và dựa vào các bảng lương chức vụ. Việc phân biệt tình trạng
trong bảng lương chức vụ, chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn và yếu tố khác
nhau. Chẳng hạn:
- Tiêu chuẩn chính trị
- Trình độ văn hoá
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương ứng với chức vụ được đảm
nhiệm.
- Trách nhiệm
Việc xây dựng chế độ tiền lương chức vụ được thực hiên theo trình tự
sau:
2.2.1. Xây dựng chức danh của lao động quản lý
Thông thường trong quản lý có ba nhóm chức danh sau:
- Chức năng lãnh đạo quản lý
- Chức danh chuyên môn, kỹ thuật
- Chức danh thực hành, phục vụ, dịch vụ.
2.2.2. Đánh giá sự phức tạp của lao động trong từng chức danh
Đánh giá sự phức tạp thường được thực hiện trên cơ sở của việc phân
tích nội dung công việc và xác định mức độ phức tạp của từng nội dung đó
qua phương pháp cho điểm.
Trong từng nội dung công việc của lao động quản lý khi phân tích sẽ xác
định các yếu tố của lao động quản lý cần có. Đó là yếu tố chất lượng và yếu tố
trách nhiệm.
- Yếu tố chất lượng của nghề hoặc công việc bao gồm: trình độ đã đào
tạo theo yêu cầu nghề nghiệp hay công việc, trách nhiệm an toàn đối với
người và tài sản
Trong hai yếu tố trên, theo kinh nghiệm, yếu tố chất lượng nghề nghiệp
chiếm khoảng 70% tổng số điểm (tính bình quân) còn yếu tố trách nhiệm
Đơn vị tính: 1000 đồng
Hạng doanh nghiệp
Hệ số, mức lương
Chức danh Đặc biệt I II III IV