Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Phân tích các hình thức trả lương tại công ty Cơ Khí An Giang" - Pdf 84

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Phân tích các hình thức trả
lương tại Công Ty Cơ Khí
An Giang Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Tri Như Quỳnh
Họ tên sinh viên : Đoàn Hà Hồng Nhung
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra các
của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Để tuyển dụng và giữ lại đúng người làm đúng việc, ban giám đốc cần
có một hệ thống thù lao cạnh tranh và công bằng. Mặt dù tiền không phải là lý
do duy nhất để nhân viên làm việc cho một doanh nghiệp, nhưng những
phương pháp trả lương không công bằng vẫn là nguyên nhân chính gây ra sự
bất mãn của nhân viên và làm tăng tình trạng bỏ việc, giảm hiệu quả quan hệ
lao động và gây ra những chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.
Hệ thống tiền lương và tiền công sẽ cho phép doanh nghiệp tuyển dụng
các nhân viên mới với m
ức lương thỏa đáng, tăng mức lương phù hợp cho

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động,
chất lượng và hiệu quả công việc”.
Kế toán phản ảnh trung thực, khách quan, cụ thể việc trả lương tại một
doanh nghiệp. Thông qua số liệu kế toán chúng ta có thể biết được doanh
nghiệp trả lương cho người công nhân theo hình thức nào, những điểm mạnh
và điểm yếu của hình thức trả
lương đó và tại sao họ áp dụng hình thức đó.
Trong thực tế có nhiều phương pháp để nâng cao kết quả hoạt động ở một
doanh nghiệp, trong đó việc cải tiến hình thức trả lương cho nhân viên là một
trong những vấn đề hàng đầu mà ban giám đốc cần quan tâm. Trước đây lương
cơ bản là 140000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng năm 1997 ), rồi tăng lên
180000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng nă
m 2000) , 210000 đồng/ người/ tháng
( áp dụng năm 2001 ), 290000 đồng / người/ tháng ( áp dụng năm 2003 ), hiện
nay chính phủ đang cân đối ngân sách để nâng lương cơ bản lên 400000 đồng/
người/ tháng ( năm 2007). Tại sao lương cơ bản phải tăng lên? Đó là những
biệp pháp mà nhà quản trị cấp cao muốn cải thiện đời sống vật chất của người
lao động, không những thế thông qua tiền lương ta có thể biết đượ
c xu hướng
đời sống của người công nhân trong xã hội như thế nào; Thế nhưng khi trả
lương cho công nhân quá cao sẽ ảnh hưởng đến tổng chi phí sản phẩm và giá
thành sản phẩm sẽ tăng. Chính vì vậy, thông qua kế toán tiền lương nhà quản
trị sẽ đưa ra một hệ thống thang lương hợp lý.
Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, bình đúng thù lao lao động và thanh
toán kịp thời tiền và các khoả
n khác có liên quan cho người lao động sẽ kích
thích họ quan tâm đến doanh nghiệp dẫn đến năng suất lao động cao, giảm chi
phí về lao động sẽ hạ được giá thành sản phẩm,làm cho lợi nhuận của doanh

• Phân tích số liệu thứ cấp của công ty : Bảng báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, kế hoạch tài chính doanh nghiệp, sổ lương của doanh
nghiệp, bảng cân đối tiền lương các tháng trong năm, các thông tin trên báo
chí, tạp chí kinh tế, các sách giáo khoa.
• Ngoài ra, còn tham khảo ý kiến của một số cán bộ liên quan đến đề
tài trong công ty cũng như quý thầy cô trong khoa kinh tế-quản tr
ị kinh doanh
trường đại học An Giang.
IV.Phạm vi giới hạn:
Do giới hạn về thời gian nên đề tài tập trung nghiên cứu về hình thức
trả lương tại văn phòng Công Ty Cơ Khí tỉnh An Giang năm 2003 , các số liệu
thu thập từ phòng kế toán, phòng điều phối, phòng nhân sự của công ty.

GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
3

tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động.
• Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền
lương và các khoản liên quan khác cho người lao động trong doanh nghiệp,
kiểm tra tình hình huy động lao động và sử dụng lao động. Phản ánh kịp thời
đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động.
• Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình
hình ch
ấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lương
• Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương
và các khoản liên quan khác vào chi phí sản xuất kinh doanh
• Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ, đúng
đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ kế toán và hạch
toán lao động, tiền lương
• Lập các báo cáo về lao độ
ng, tiền lương và các báo cáo khác thuộc
phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
4
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

động đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động,
tăng năng suất lao động. Đấu tranh chống những hành vi vô trách nhiệm, vi
phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương.
II. Một số hình thức trả lương:
1.Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:
Dưới chế độ xã hội chủ ngh
ĩa dù thực hiện bất kì chế độ tiền lương nào,
muốn phát huy đầy đủ tác dụng đòn bẩy kinh tế của nó đối với sản xuất và đời

ệc trong điều kiện nặng nhọc
có hại đến sức khỏe phải được trả lương cao hơn những người làm việc trong
điều kiện bình thường.
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
5
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

Những ngành chủ đạo có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân thì cần được đãi ngộ mức tiền lương cao hơn nhiều nhằm khuyến
khích công nhân yên tâm phấn khởi làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó,
sự khuyến khích này cũng phải phù hợp với yêu cầucủa việc phân phối sức lao
động một cách có kế hoạch trong thời kỳ phát triển kinh tế
.
Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện
khí hậu xáu, sinh hoạt đắt đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu,…Cần
được đãi ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu
hút được công nhân đến làm việc
 Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục t
ư tưởng cho
người lao động.
2.Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền
lương:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương theo công thức:
ZV kh = [ L đb * TL mindn * ( H cb + H pc ) + V vc ] * 12 tháng
Trong đó:
ZV kh: Tổng quỹ lương kế họach
L đb: lao động định biên
TL mindn: mức lương tối thiểu của doanh nghiệp lựa chọn trong khung

được chọn là tổng doanh thu trừ tổng chi không có lương, th
ường áp dụng đối
với các doanh nghiệp quản lý được tổng thu, tổng chi một cách chặt chẽ trên
cơ sở các định mức chi phí
+ Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận:
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là lợi nhuận, thường áp dụng đối với doanh nghiệp quản lý được
tổng thu, tổng chi và xác định lợi nhuận kế hoạ
ch sát với thực tế thực hiện
Z V kh
V đg =
Z P kh
Trong đó:
Vđg: đơn giá tiền lương ( đồng/1000đồng )
Z V kh: tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch
Z P kh: lợi nhuận kế hoạch
* Tổng quỹ lương chung năm kế hoạch:
V c = V kh + V pc + V bs + V tg
Trong đó:
Vc: tổng quỹ lương chung năm kế hoạch
Vkh: tổng quỹ lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương
Vpc: quỹ các khoản phụ cấ
p lương kế hoạch và các chế độ khác
( nếu có ) không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định
Vbs: quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với doanh
nghiệp được giao đơn giá tiền lương theo đơn vị sản phẩm
Vtg: quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch, không vượt
quá số giờ làm thêm của bộ luật lao động quy định.
3. Hình thức trả
lương theo sản phẩm:

cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm của mỗi người sản xuất ra để
tính lương nên nó có tác dụng khuyế
n khích người công nhân tích cực sản
xuất, tận dụng thời gian làm việc tăng năng suất lao động. Hơn nữa chỉ những
sản phẩm tốt mới được trả lương cao nên người công nhân nào cũng cố gắng
sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt. Như vậy năng suất lao động tăng,
chất lượng sản phẩm bảo đảm thì giá thành s
ản phẩm sẽ hạ.
- Khuyến khích người công nhân quan tâm đến việc nâng cao
trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khoa học kĩ thuật hợp lý hóa sản xuất
và lao động. Tích cực sáng tạo và áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến.
Khi thực hiện trả lương theo sản phẩm, công nhân phải phấn đấu để thường
xuyên đạt và vượt mức các định mức lao động đề ra do đó họ không đơn thuần
dự
a vào sự lao động hết sức mình, tận dụng thời gian làm việc mà phải cố
gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật thì
mới có thể dễ dàng tiếp thu, nắm vững và áp dụng các phương pháp sản xuất
tiên tiến. Hơn nữa họ còn phải biết tìm tòi suy nghĩ để phát huy sáng kiến,cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Có như vậy thì s
ản phẩm làm ra sẽ tăng và
sức lao động sẽ giảm xuống. Đẩy mạnh việc cải tiến, tổ chức quá trình sản
xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế. Khi áp dụng chế độ
tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi có sự chuẩn bị sản xuất nhất định. Phải
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
8
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, tổ chức lao động đảm

trong lao động _ có ý thức và trách nhiệm quan tâm đến việc của tập thể.
Qua những tác dụng kể trên ta thấy chế độ trả lương theo sản phẩm có
ý nghĩa kinh tế, chính trị quan trọng. Nó động viên mạnh mẽ mọi người tích
cực sản xuất với chất lượng tốt và năng suất cao. Vừa tăng thu nhập cho cá
nhân người lao động vừa làm tăng hơn sản phẩm cho xã hội góp phần thay đổi
nền kinh tế cả nước.
3.2. Điều kiện và hình thức trả lương theo sản phẩm:
Muốn tổ chức trả lương theo sản phẩm xí nghiệp chuẩn bị các điều
kiện sau đây:
3.2.1. Công tác chuẩn bị sản xuất:
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
9
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

- Chuẩn bị về nhân lực: khi tổ chức trả lương theo sản phẩm, việc
chuẩn bị về nhân lực là vấn đề cần thiết vì con người là yếu tố quan trọng
trong quá trình sản xuất. Con người có quán triệt ý nghĩa tác dụng cúa chế độ
lương sản phẩm thì mới đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực và quyết tâm
tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hi
ện chế độ lương sản phẩm. Để chuẩn bị
tốt yếu tố con người cần phê phán các tư tưởng rụt rè, cầu toàn, khuynh hướng
làm bừa, làm ẩu. Thiếu chuẩn bị điều kiện cần thiết, thiếu chỉ đạo chặt chẽ gây
hoang mang dao động trong công nhân. Phải giải thích giáo dục cho công
nhân hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ lương sản phẩm và cho họ
thấy mục
tiêu phấn đấu của họ về sản lượng và năng suất lao động, chát lượng sản
phẩm, chi phí sản xuất. Ngoài ra còn phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho
các cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản

-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

Định mức lao động để trả lương sản phẩm là mức lao động trung
bình tiên tiến_do đó phải xây dựng định mức từ tình hình thực tế sản xuất ở xí
nghiệp đã được chấn chỉnh. Các mức lao động đang áp dụng ( nếu có )
phải kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lí không sát thực tế
sản xuất.
3.2.3. Công tác ki
ểm tra nghiệm thu sản phẩm:
Yêu cầu của chế độ lương sản phẩm là đảm bảo thu nhập tiền lương
theo đúng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo xác nhận của K.C.S do đó
cần phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ nhằm đảm bảo sản xuất
những sản phẩm có chất lượng tốt, tránh khuynh hướng chạy theo sản lượng
để
tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai hỏng, không đúng quy cách và
yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn,
kịp thời.
Hình thức trả lương theo sản phẩm gồm nhiều chế độ trả lương như
sau:

Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế:
Chế độ tiền lương này được trả theo từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết
sản phẩm và theo đơn giá nhất định. Tiền lương của công nhân căn cứ vào số
lượng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm do họ trực tiếp sản xuất được để trả
lương. Bất kì trường hợp nào công nhân sản xuất hụt mức, đạt mứ
c hoặc vượt
mức bao nhiêu, cứ mỗi đơn vị sản phẩm làm ra đều được trả lương nhất định
gọi là đơn giá sản phẩm. Như vậy tiền lương của công nhân sẽ tăng theo số

trong tháng
=
Số lượng ( khối lượng )
công việc hoàn thành
*
Đơn giá
tiền lương
Khi tính đơn giá sản phẩm ta phải lấy mức lương cấp bậccông việc để
tính chú không lấy mức lương cấp bậc công nhân được giao làm công việc
đó,
vì có những trường hợp lương cấp bậc công nhân cao hoặc thấp hơn cấp bậc
công việc được giao làm cho đơn giá sản phẩm thay đổi, sẽ phá vỡ tính thống
nhất của chế độ tiền lương trả theo sản phẩm và tính hợp lý của quy luật phân
phối theo lao động.
Về định mức lao động, khi tính đơn giá ta phải xác định định mức của
công việc đó là mứ
c thời gian hay mức sản lượng để tính cho chính xác.
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp ( không hạn chế ) thích
hợp với những loại công việc có thể tiến hành định mức lao động, giao việc và
nghiệm thu từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm riêng rẽ được. Tùy
theo đặc điểm về tổ chức kỹ thuật sản xuất. N
ếu những công việc mà người
công nhân có thể tiến hành sản xuất độc lập thì có thể quy định mức lao động
và tiến hành thống kê nghiệm thu sản phẩm riêng cho từng công nhân và trả
lương sản phẩm trực tiếp cho từng công nhân. Nếu công việc cần nhiều công
nhân phối hợp, cộng tác với nhau mới sản xuất ra một sản phẩm thì có thể tiến
hành trả lương trực tiếp cho nhóm hoặc t
ổ sản xuất đó.

Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp:

trong tháng
=
Tiền lương được lĩnh của
bộ phận trực ti
ếp
*
tỷ lệ
lương
gián tiếp

Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp cũng được tính cho từng người lao
động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận gián tiếp phục vụ sản
xuất hưởng lương phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản
xuất.
Khi thực hiện chế độ ti
ền lương này thường xảy ra hai trường hợp và
cách giải quyết như sau:
• Nếu bản thân công nhân phục vụ có sai lầm làm cho công nhân chính
sản xuất ra sản phẩm hỏng, hàng xấu thì tiền lương của công nhân phục vụ
hưởng theo chế độ trả lương khi làm ra hàng hỏng, hàng xấu_xong vẫn đảm
bảo ít nhất bằng mức lương cấp bậc của người đó.
• Nếu công nhân đứng máy không hoàn thành đị
nh mức sản lượng thì
tiền lương của công nhân phục vụ sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián
tiếp mà theo lương cấp bậc của họ
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gían tiếp có tác dụng làm cho công
nhân phục vụ quan tâm hơn đến việc nâng cao năng suất lao động của công
nhân chính mà họ phục vụ.
Chế độ tiền lương sản phẩm lũy tiến:
Chế độ tiền lương này được tính như sau:

Q
0
: mức sản lượng
P: đơn giá lương sản phẩm
K: hệ số tăng đơn giá sản phẩm
Tiền lương tính theo sản phẩm lũy tiến là tiền lương tính theo sản phẩm
trực tiếp kết hợp với suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt
mức sản xuất sản phẩm.
Suất tiền thưởng lũy tiến theo mức
độ hoàn thành vượt mức kế hoạch sản
xuất sản phẩmdo doanh nghiệp quy định. Ví dụ cứ vượt 10% định mức thì tiền
thưởng tăng thêm cho phần vượt là 20%, vượt từ 11%-20% định mức thì tiền
thưởng tăng thêm cho phần vượt là 40%…vượt từ 50% trở lên thì tiền thưởng
tăng thêm cho phần vượt là 100%…
Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến cũng được tính cho từng người lao
động hay tập thể người lao động ở những bộ phận sản xuất cần thiết phải đẩy
mạnh tốc độ sản xuất. Nó khuyến khích người lao động phải luôn phát huy
sáng tạo cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động đảm bảo cho đơn
vị thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện. Tuy
nhiên, khi áp dụng tính lương theo sản phẩm lũy tiến doanh nghiệp cần chú ý
khi xây dựng tiền thưởng lũy tiến nhằm hạn chế hai trường hợp có thể xảy ra
đó là, người lao động phải tăng cường độ lao động, không bảo đảm sức khỏe
cho lao động sản xuất lâu dài và tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng
năng suất lao động.
Mu
ốn thực hiện chế độ lương này cần phải chuẩn bị những điều kiện sau:
• Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật, đây là vấn đề quan trọng vì đơn
giá sản phẩm sẽ tăng lũy tiến theo tỉ lệ vượt mức sản lượng
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
14

hạn hoặc giảm bớt số người không cần thiết.
Trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, tiền lương
khoán có thể thực hiện theo cách khoán từng phầ
n công việc hoặc khoán thu
nhập ( khoán gọn ) cho người lao động.
Trong các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng có thể thực hiện theo
cách khoán gọn quỹ lương theo hạn mục công trình cho đội sản xuất.
Khi áp dụng chế độ lương khoán cần phải làm tốt công tác thống kê và
định mức lao động cho từng phần việc, tính đơn giá từng phần việc rồi tổng
hợp lại thành khối lượng công việc, thành đơn giá cho toàn bộ công việ
c. Cần
phải xây dựng chế độ kiểm tra chất lượng trong quá trình sản xuất, vì trong
thực tế khi áp dụng lương khoán công nhân không chấp hành nghiêm chỉnh
chế độ lao đông để xảy ra hiện tượng công nhân tự ý làm thêm giờ để mau
chóng hoàn thành công việc chung nhưng không ghi vào phiếu giao khoán làm
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
15
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

cho việc thống kê phân tích năng suất lao động của công nhân không chính
xác, làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, ảnh hưởng đến sức khỏe và các
mặt sinh hoạt của công nhân.
Chế độ tiền lương theo sản phẩm có thưởng và chế độ lương khoán có thưởng:
• Chế độ lương khoán sản phẩm có thưởng là chế độ lương khoán kết
hợp với khen thưởng khi công nhân đạt những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng
hay thời gian đã quy định. Nhưng nếu vượt được các chỉ tiêu đã quy định về
chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguyên liệu bảo đảm an toàn hoặc nâng
cao năng suất máy móc, thiết bị,…thì đượ

trong trường hợp tính lương theo sản phẩm cuối cùng, tiền lương phải trả cho
người lao động không thuộc chi phí sản xuất mà nằm trong thu nhập còn lại
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
16
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

sau khi trừ đi các khoản chi phí hợp lý và các khoản phân phối lợi nhuận theo
quy định.
Tiền lương tính theo sản phẩm nếu tính cho tập thể người lao động thì
doanh nghiệp cần vận dụng những phương án chia lương thích hợp để tính
chia lương cho từng người lao động trong tập thể, đảm bảo nguyên tắc phân
phối theo lao động và khuyến khích người lao động có trách nhiệm với tập thể
cùng lao động. Tính chia lương cho t
ừng người lao động trong tập thể có thể
được tiến hành theo các phương án khác nhau:
- Chia lương theo cấp bậc tiền lương và thời gian lao động thực tế của từng
người lao động trong tập thể đó. Các bước tiến hành như sau:
• Xác định hệ số chia lương:

Tổng tiền lương thực tế được lĩnh của tập thể
Hệ số chia
lương
=
Tổ
ng tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc
của các công nhân trong tập thể
• Tính tiền lương chia cho từng người:
Tiền lương được lĩnh
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
17
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

Tổng tiền lương do tăng năng suất
của tập thể
Tiền lương
năng suất
của từng
người
=
Tổng số điểm được bình của tập thể
*
số điểm được
bình mỗi
người
• Xác định tiền lương được lĩnh của từng người là số tổng cộng phần
lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc với phần lương được
lĩnh do tăng năng suất lao động.
- Chia lương theo bình công chấm điểm hàng ngày cho từng người lao động
trong tập thể đó.
Tùy thuộc vào tính chất công việc được phân công cho từng người lao
động trong tập thể lao động có phù h
ợp giữa cấp bậc kỹ thuật công nhân với
cấp bậc công việc được giao; lao động giản đơn hay lao động có yêu cầu kỹ
thuật cao… để lựa chọn phương án chia lương cho thích hợp nhằm động viên,
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
18
-
Trong đó n là số công nhân trong nhóm
Tổng thời gian =

=
n
i
Tci
1

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

Tiền công của mỗi công nhân sẽ được xác định trên cơ sở số tiền khoán
chung cho cả nhóm và thời gian làm việc chuẩn của mỗi người, theo công
thức:

Số tiền khoán cho cả nhóm * Tc
i
Wi =
Tổng thời gian chuẩn
Ví dụ: sau khi giám định mức độ hư hỏng của một chiếc máy tiện ,
phân xưởng khoán cho 3 công nhân thực hiện với tổng số tiền thù lao là
60.000đồng. 3 người thợ sửa chữa trong nhóm sẽ được trả lương tương ứng
với các hệ số lương, thời gian làm việc thực tế và mức độ tích cực của mỗi
người như trong bảng 9.1
Bảng 9.1 : trả lươ

Tuy nhiên để hình thức tính lương theo s
ản phẩm có thể áp dụng một
cách thuận lợi vá phát huy đầy đủ những ưu điểm của hình thức này doanh
nghiệp phải xây dựng được một hệ thống định mức lao động thật hợp lý, xây
dựng được đơn giá tiền lương trả cho từng loại sản phẩm, từng loại công việc,
lao vụ một cách khoa học, hợp lý. Bên cạng đó doanh nghiệp phải xây dự
ng
được chế độ thưởng phạt rõ ràng, xây dựng suất thưởng lũy tiến thích hợp với
từng loại sản phẩm, công việc lao vụ. Việc nghiệm thu sản phẩm, công việc
lao vụ hoàn thành cũng phải được tổ chức quản lý chặt chẽ, đảm bảo đủ, đúng
số lượng, chất lượng theo quy định. Các điều kiện cần thiết cho quá trình sản
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
19
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

xuất cũng phải được đảm bảo như cung cấp vật tư, thiết bị, điện, các điều kiện
về an toàn, vệ sinh công cộng,…
4. Hình thức tiền lương theo thời gian:
Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động
theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương của người lao động.
Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày ho
ặc giờ
làm việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời
gian lao động của doanh nghiệp.
Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn hoặc
thời gian có thưởng.
• Tiền lương thời gian giản đơn: tính theo thời gian làm việc và đánh giá
lương thời gian.

đó,
nên hình thức tiền lương theo thời gian đã không mang lại cho người công
nhân sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình, không tạo điều
kiện thuận lợi để uốn nắn kịp thời những thái độ sai lệch và không khuyến
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
20
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tiết kiệm thời gian, vật tư trong quá
trình công tác.
Thông thường ở doanh nghiệp, người ta sử dụng hình thức tiền lương
theo thời gian cho những bộ phận mà quá trình sản xuất đã được tự động hóa,
những công việc chưa xây dựng được định mức lao động, những công việc mà
khối lượng hoàn thành không xác định được hoặc những loại công việ
c cần
thiết phải trả lương thời gian nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm như công
việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, công việc sửa chữa thiết bị máy móc.
Do những hạn chế trên, khi áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian
cần thực hiện một số biện pháp phối hợp như: giáo dục chính trị tư tưởng,
động viên khuyến khích v
ật chất, tinh thần dưới các hình thức tiền thưởng;
thường xuyên kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động và sử dụng thời gian
lao động. Việc phối hợp nhiều biện pháp sẽ tạo cho người lao động tự giác lao
động có kỷ luật, có kỷ thuật và có năng suất cao.
5. Chế độ phụ cấp, tiền thưởng:
5.1 Phụ cấp:
Điều 04 nghị định số 26/CP ngày 23/05/1993 quy
định các khoản phụ

việc họ tiến hành và trong mối tương quan với nhau. Các nhân viên có thể biết
trước được thu nhậ
p nếu như kết quả làm việc của họ thỏa mãn nhu cầu và
những người quản lý không phải phán đoán tiền lương hoặc không phải tính
toán mức tăng lương cho mỗi lần nâng bậc. Như vậy, kế toán tiền lương cung
cấp các thông tin cần thiết về việc trả lương cho ban giám đốc doanh nghiệp .

- Ngân sách cấp 3.302.860.440 3.302.860.440
- Tự bổ sung 1.985.754.605 3.339.553.933
C/ Vốn xây dựng cơ bản 955.720.058 1.295.295.570
D/ Vốn góp liên doanh 7.956.213.357 7.956.213.357
- Các đơn vị trực thuộc:
 Xí nghiệp cơ khí Long Xuyên: 28/1 đường Trần Hưng Đạo, phường
Mỹ Phước, TPLX, tỉnh An Giang.
 Xí nghiệp cơ khí Chợ Mới: ( cổ phần hóa 1/9/2002 ) đường Trần
Hưng Đạo, ấp Thị i- thị trấn Chợ Mới, tỉnh An Giang.
 Xí nghiệp cơ khí Tân Châu: ( giải thể 31/12/2001 ) đường 1/5, thị
trấn Tân Châu, tỉnh An Giang.
 Cửa hàng vật tư công nghiệp và thiết bị
văn phòng: 103 đường
Nguyễn Huệ B, TPLX, tỉnh An Giang.
 Công ty liên doanh khai thác chế biến đá Antraco: núi dài lớn, xã
Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
23
-

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang

2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Cơ Khí An Giang trước đây là Xí Nghiệp Cơ Khí quốc doanh
được thành lập theo quyết định số 117/QĐ.UB ngày 04/09/1976 của UBND
tỉnh An Giang. Quyết định số 572/QĐ.UB ngày 21/11/1992 của UBND tỉnh
An Giang thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo nghị định 388/CP. Quyết
định số 764/QĐ.UB ngày 20/04/1999 của UBND tỉnh An Giang đổi tên doanh
nghiệp thành Công Ty Cơ Khí An Giang.
Cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu lúc mới thành lậ
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -
24
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status