Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi.
Để thực hiện đề tài, tôi đã tham khảo một số công trình nghiên cứu và đã có
trích dẫn. Các số liệu sử dụng trong khóa luận là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
Thừa Thiên Huế, ngày 05 tháng 4 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Anh Tuấn
BẢNG THỐNG KÊ TRÍCH DẪN
STT
Tác giả tài liệu trích dẫn
1
2
3
4
5
6
7
Hiền Đỗ (2014)
Hoàng Thế Liên (2013)
Đoàn Đức Lương (2012)
Trần Văn Nam (2013)
Chu Mạnh Quân (2013)
Nguyễn Vũ (2014)
Nguyễn Hợp Toàn, Nguyễn Thị
01
MỤC LỤC
Lời cam đoan...................................................................................................1
1.Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................1
5.Phương pháp nghiên cứu.............................................................................4
6.Cơ cấu Khóa luận.........................................................................................5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM.................................6
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN...........................................................6
1.1.1. Khái niệm hợp đồng............................................................................6
1.1.2.Khái niệm quyền tác giả và chuyển nhượng quyền tác giả................7
1.1.2.2. Khái niệm chuyển nhượng quyền tác giả.........................................8
1.1.3. Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả.........................10
1.1.4. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả.....12
1.2. PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN TÁC
GIẢ. 17
1.2.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác
giả
17
1.2.4. Giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả
25
THỰC TIỄN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN
TÁC GIẢ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP..........................................................28
2.1. NHU CẦU CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN TÁC GIẢ TRONG ĐỜI
SỐNG HIỆN NAY.........................................................................................28
HĐDS
: Hợp đồng Dân sự
QTG
: Quyền tác giả
NXB
: Nhà xuất bản
SHTT
: Sở hữu trí tuệ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, kinh tế đất nước đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, đời sống vật chất của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, con
người ngày càng có nhiều điều kiện hơn để quan tâm, chăm lo đến nhu cầu về
tinh thần. Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã tạo ra những
phương tiện hữu ích giúp con người dễ dàng tiếp cận và thụ hưởng các sản phẩm
văn hóa, nghệ thuật và khoa học. Đồng thời, với chính sách nhất quán trong việc
khuyến khích sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, khoa học đã tạo ra động lực to lớn
thúc đẩy nền văn hóa, nghệ thuật và khoa học nước nhà phát triển, nhằm đáp
ứng nhu cầu về đời sống tinh thần ngày một gia tăng của nhân dân.
Chính nhu cầu này đã thúc đẩy cho hoạt động chuyển nhượng quyền tác
quyền tác giả) trong những năm gần đây rất đưọc quan tâm chú ý, bởi quan hệ
xã hội này đang rất là phổ biến cũng như các giá trị kinh tế to lớn mà hoạt
động này mang lại. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, có
thể kể đến các công trình nghiên cứu như: “Hợp đồng sử dụng tác phẩm theo
quy định của Bộ luật Dân sự” của tác giả Lê Đình Nghị (2002); “Một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác chuyển giao quyền tác
giả, quyền liên quan ở nước ta hiện nay” của tác giả Bùi Nguyên Hùng
(2009); “Về khai thác khía cạnh thương mại của quyền tác giả thông qua các
tổ chức quản lý tập thể ở Việt Nam” của tác giả Trần Văn Nam (2009); “Hài
hòa lợi ích bản quyền - Pháp luật và thực thi” của tác giả Vũ Mạnh Chu
(2009); “Hoàn thiện pháp luật về quản lý tập thể quyền tác giả ở Việt Nam
hiện nay” của tác giả Phạm Thanh Tùng (2011)...
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu này đều chỉ tập trung
nghiên cứu trên phương diện chuyển giao quyền tác giả, những lợi ích kinh tế
từ hoạt động này mang lại, cũng như như các vấn đề xâm phạm đến bảo hộ
quyền tác giả trong quá trình chuyển giao quyền tác giả mà không đi sâu
2
nghiên cứu phân tích về các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng
quyền tác giả.
Mặt khác, hoạt động chuyển giao quyền tác giả gồm hai loại: chuyển
nhượng quyền tác giả và chuyển giao sử dụng quyền tác giả. Như vậy, xét
dưới góc độ pháp lý, hoạt động chuyển nhượng quyền tác giả hẹp hơn đối với
chuyển giao quyền tác giả, do đó ít được quan tâm nghiên cứu, gần như chưa
có một công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về hợp đồng chuyển
nhượng quyền tác giả.
Với nhu cầu chuyển nhượng quyền tác giả không ngừng gia tăng hiện nay,
tất yếu dẫn đến việc phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng
chuyển nhượng quyền tác giả, để hợp đồng này trở thành một phương tiện hữu
Một là, khái quát được các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác
giả, chuyển nhượng quyền tác giả, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả.
Hai là, khái quát và phân tích được thực trạng pháp luật về việc thực
hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hiện nay.
Ba là, đề xuất được phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả.
5. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp luận
Để thực hiện đề tài, tác giả dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới.
b) Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp so sánh: Được sử dụng để làm rõ tính đặc thù của pháp
luật về quyền tác giả, chuyển nhượng quyền tác giả và hợp đồng chuyển
nhượng quyền tác giả ở Việt Nam.
4
Phương pháp tổng hợp lý thuyết: Được sử dụng để phân tích các quy
định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, chuyển nhượng quyền tác giả
và hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả ở Việt Nam qua đó tìm ra những
ưu điểm và hạn chế của các quy định này.
Phương pháp đối chiếu: Được sử dụng nhằm làm rõ mối quan hệ nhân
quả giữa những vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật với những
bất cập trong quy định của pháp luật về quyền tác giả, chuyển nhượng quyền
tác giả và hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả ở Việt Nam qua đó xây
dựng đượcphương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
Phương pháp diễn giải: Được dùng đề chia nhỏ các vấn đề nhằm dễ
dàng phân tích và làm rõ nội dung vấn đề.
pháp luật điều chỉnh nhằm phát triển quan hệ xã hội đặc biệt này theo hướng
tích cực nhất có thể. Chế định về hợp đồng đã hình thành từ lâu đời trên thế
giới. Ở Việt Nam, chế định hợp đồng được quy định chi tiết trong Bộ luật
Dân sự 2005 (BLDS) chính vì lẽ đó mà các quy đình về hợp đồng dân sự
được xem là nền tảng pháp lý cho các loại hợp đồng khác.
Điều 388 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Như vậy, thông qua quy định của hợp đồng dân sự thì đặc trưng cơ bản
mà tất cả các loại hợp đồng đều phải có đó là: sự thỏa thuận giữa các bên và
sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ.
6
Việc nghiên cứu khái niệm cũng như đặc điểm của hợp đồng nói chung
sẽ tạo tiền đề cho chúng ta có cơ sở lý luận khi nghiên cứu đối tượng trọng
tâm của đề tài đó là hợp đồng CNQTG. Thông qua việc đối chiếu những đặc
điểm của hợp đồng nói chung chúng ta sẽ tìm ra được những đặc điểm riêng
biệt của hợp đồng CNQTG
1.1.2. Khái niệm quyền tác giả và chuyển nhượng quyền tác giả.
1.1.2.1 Khái niệm quyền tác giả
Quyền tác giả (QTG) trong tiếng Anh là “copyright” về bản chất được
hiểu là quyền sao chép, vì từ “copyright” này là từ được ghép bởi từ “copy”
(sao chép) với từ “right” (quyền) [11, tr. 31].
Về mặt thuật ngữ pháp lý, Công ước Béc-nơ 1971 quy định quyền tác giả
gồm hai loại là quyền tinh thần và quyền kinh tế [8, Điều 6 bis ], trong khi đó
pháp luật Việt Nam lại có quy định quyền tác giả khác với Công ước Béc-nơ.
Điều 738 BLDS và Điều 18 Luật SHTT hiện hành quy định quyền tác
giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, theo đó, quyền tác giả được
hiểu trên hai phương diện:
quyền tác giả hoặc hợp đồng sử dụng quyền tác giả.
Với tư cách là một loại tài sản nên QTG là đối tượng của giao dịch dân
sự. Và các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với quyền tác giả hoàn toàn có
đầy đủ các quyền sở hữu đối với loại tài sản này: có quyền nắm giữ, sử dụng,
định đoạt đối với QTG.
Xuất phát từ bản chất là một loại tài sản đặc biệt khác với tài sản thuần
túy thông thường, nên QTG khi tham gia vào giao dịch dân sự thường thông
qua hình thức chuyển giao. Theo đó, chuyển nhượng QTG chính là một trong
những hình thức chuyển giao thông dụng trong thực tế.
8
Căn cứ theo Điều 45 Luật SHTT hiện hành, ta có khái niệm như sau:
chuyển nhượng QTG là việc chủ sở hữu QTG chuyển giao quyền sở hữu đối
với một, một số quyền hoặc toàn bộ các quyền có thể chuyển giao được, bao
gồm: quyền công bố tác phẩm thuộc quyền nhân thân, các quyền tài sản
thuộc QTG theo quy định của Luật SHTT cho các cá nhân, tổ chức khác theo
hợp đồng hoặc quy định của pháp luật có liên quan.
QTG là một tài sản trí tuệ đặc biệt, khi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
tiến hành chuyển giao cho các chủ thể khác khai thác thì chỉ có thể chuyển
giao các quyền nhân thân được chuyển giao được quy định tại khoản 3, Điều
19 và các quyền tài sản được quy định tại Điều 20 của Luật SHTT hiện hành.
Còn đối với các quyền nhân thân không thể chuyển giao tại khoản 1, khoản 2,
khoản 4 Điều 19 của Luật SHTT hiện hành thì sẽ vẫn thuộc về tác giả, dù cho
quyền tác giả có được chuyển giao cho người khác hay không. Đặc điểm này
khiến cho khái niệm “chuyển nhượng” quyền tác giả trong hợp đồng chuyển
nhượng quyền tác giả khác biệt hoàn toàn với khái niệm “mua bán” trong
hợp đồng mua bán tài sản.
Cũng như các hình thức chuyển giao trong giao dịch dân sự, chuyển
Do Luật SHTT hiện hành và BLDS 2005 không đưa ra một khái niệm
về loại hợp đồng này dẫn đến có khá nhiều khái niệm, định nghĩa về hợp
đồng CNQTG, nhưng nhìn chung đều phù hợp với tinh thần của Điều 388
BLDS 2005, đó là đảm bảo hai yếu tố “sự thỏa thuận” và “phát sinh
quyền, nghĩa vụ”.
Dựa vào cơ sở đó, tác giả đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát về
loại hợp đồng này như sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng (chủ sở hữu quyền tác
giả) chuyển giao cho bên nhận chuyển nhượng (cá nhân, tổ chức có nhu cầu)
một, một số hoặc toàn bộ các quyền tác giả của mình (bao gồm quyền nhân
thân có thể chuyển giao và quyền tài sản) để hưởng một số lợi ích vật chất
nhất định dựa trên sự thỏa thuận của các bên.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả là một loại hợp đồng dân sự, do
đó cũng mang các đặc điểm phổ biến của HĐDS như mang tính chất song vụ,
10
có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí, tính chất đền bù hay không đền bù...nhưng
hợp đồng CNQTG cũng có những đặc điểm khác biệt với HĐDS như:
- Đối tượng của hợp đồng CNQTG là quyền nhân thân và quyền tài sản,
nhưng không phải tất cả các quyền nhân thân đều là đối tượng của hợp đồng này
mà chỉ có quyền nhân thân gắn liền với tài sản mới có thể được chuyển giao.
- Hợp đồng CNQTG cũng là hợp đồng chuyển giao quyền tác giả, do đó
sự chuyển giao các quyền tác giả chỉ là sự chuyển giao về mặt pháp lý, xuất
phát từ bản chất của đối tượng hợp đồng là các quyền năng mang tính chất vô
hình, không thể trực tiếp nắm giữ, chiếm hữu như các loại tài sản thuần túy
thông thường.
Nếu như trong hợp đồng mua bán tài sản (một trong những hợp đồng
thông dụng và phổ biến của hợp đồng dân sự), bản chất của mua bán tài sản là
việc bên bán chuyển giao hoàn toàn cho bên mua tài sản của mình và nhận lại
chuyển nhượng kết thúc, các quyền năng đã được chuyển giao của NXB bên
phía Việt Nam sẽ không còn nữa.
Các cơ sở trên đây lý giải cho việc vì sao người ta chỉ dùng thuật ngữ
“Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả” chứ không phải là “hợp đồng mua
bán quyền tác giả”.
1.1.4. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả
Hợp đồng CNQTG có đối tượng đặc thù là tài sản vô hình, khác với các
loại hợp đồng khác. Do đó nó có những đặc trưng cơ bản như sau:
Một là, giá trị của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả mang tính
định tính chứ không mang tính định lượng
Với tài sản là vật thể, người ta có thể đánh giá được giá trị kinh tế của nó
qua một số tiêu chí như khả năng sinh lợi của nó trong tương lai do giá cả thị
trường lên xuống, do công năng của nó có thể vận hành để ra lợi nhuận…
tương đối chính xác thì với quyền tác giả thì khía cạnh vật chất của nó không
dễ dàng đánh giá được. Nó có thể đem lại rất nhiều tiền, nhưng cũng có thể
không mang lại bất kỳ lợi ích nào.
Mặt khác, giá trị của hợp đồng CNQTG còn phụ thuộc vào giá trị của
tác phẩm mang các quyền tác giả dùng để chuyển nhượng. Giá trị của tác
12
phẩm thể hiện trên khá nhiều phương diện nhưng tựu chung lại nó thể
hiện rõ ở hai giá trị đó là giá trị tinh thần và giá trị kinh tế (hay còn gọi là
giá trị vật chất).
Giá trị tinh thần ở đây chính là khả năng thỏa mãn nhu cầu về tinh
thần của tác phẩm cho chính tác giả và của những người khác. Thước đo
cho giá trị tinh thần của tác phẩm thể hiện ở sự đánh giá, nhận xét sau khi
thưởng thức tác phẩm của công chúng; cũng có thể là sự đánh giá, phê
bình nghệ thuật của các nhà chuyên môn; cũng có thể là kết quả của
những cuộc thi, những giải thưởng trong nước và quốc tế để vinh danh tác
sáng tạo và phản ánh những ý tưởng, mong muốn của tác giả. Việc tác
động vào nội dung của tác phẩm sẽ làm sai lệch đi kết cấu tác phẩm, làm
méo mó đi ý đồ ban đầu của tác giả, làm giảm đi giá trị nghệ thuật, giá trị
thương mại của tác phẩm, nghiêm trọng hơn còn ảnh hưởng đến danh dự,
uy tín cũng như sự nghiệp của tác giả-người sáng tạo ra tác phẩm. Do đó
không ai có quyền tác động vào tác phẩm và làm thay đổi nội dung của nó
khi chưa có sự đồng ý của tác giả.
Để bảo vệ sự nguyên vẹn của tác phẩm trước sự xâm hại từ những chủ
thể khác, vừa đảm bảo cho tác giả có thể yên tâm khai thác các giá trị kinh tế
của tác phẩm nhằm tái sản xuất sức lao động để sáng tạo những tác phẩm có
giá trị tiếp theo, pháp luật về SHTT cho phép tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
chuyển giao các quyền tài sản và quyền nhân thân có thể chuyển giao cho các
chủ thể khác khai thác. Các chủ thể này có đầy đủ các quyền sở hữu đối với
các quyền đã đượcc chuyển giao nhưng không có bất cứ quyền sở hữu nào đối
với tác phẩm. Trong quá trình khai thác các quyền này, mọi hành vi tác động
vào nội dung tác phẩm của các chủ thể được chuyển giao khi chưa có sự đồng
ý của tác giả đều bị xem là xâm hại đến sự toàn vẹn của tác phẩm, đều là hành
vi trái pháp luật.
14
Ba là, chủ thể đã được chuyển giao chỉ có quyền tài sản (Điều 20) và
quyền nhân thân được chuyển giao (quyền công bố theo Điều 19 Luật SHTT).
Trong hợp đồng CNQTG, đối tượng được chuyển giao chính là các
quyền tài sản (Điều 20 LSHTT) và quyền nhân thân được chuyển giao (quyền
công bố theo Điều 19 Luật SHTT). Bên được chuyển giao có đầy đủ các
quyền sở hữu đối với các quyền này.
Nếu trong hợp đồng mua bán tài sản, bên mua chỉ có quyền sở hữu đối
với tài sản mình được chuyển giao, còn đối với những tài sản khác mà mình
năm, kể từ khi tác phẩm công bố lần đầu. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi
được định hình, nếu tác phẩm loại này chưa công bố thì thời hạn bảo hộ là
100 năm, tính từ khi tác phẩm được định hình. Quy định như vậy nhằm
khuyến khích tác giả sớm công bố tác phẩm phục vụ xã hội. Đối với tác
phẩm khuyết danh, khi danh tính của tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ
được tính theo nguyên tắc đời người, có nghĩa thời hạn bảo hộ là suốt
cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Thời điểm kết thúc thời
hạn bảo hộ vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm kết thúc thời hạn bảo
hộ [5, Điều 27.2].
Căn cứ theo điều 43 LSHTT hiện hành quy định: Tác phẩm đã kết thúc
thời hạn bảo hộ theo quy định của Điều 27 LSHTT hiện hành thì thuộc về
công chúng. Mọi tổ chức cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm tại khoản 2
Điều 27 nhưng phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả tại khoản 1, khoản
2, khoản 4 Điều 19 LSHTT hiện hành.
Như vậy, hết thời hạn bảo hộ tác phẩm thì các chủ thể có quyền khai
thác tác phẩm mà không cần thông qua hợp đồng. Bởi khi đó, tác phẩm thuộc
sở hữu chung của công chúng, bất cứ ai cũng có thể khai thác, sử dụng mà
không cần thông qua việc ký kết hợp đồng.
16
1.2. PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN
TÁC GIẢ.
Hợp đồng CNQTG là một trong những công cụ hữu hiệu cho các chủ thể
tham gia hoạt động chuyển nhượng quyền tác giả. Pháp luật về SHTT ở Việt
Nam hiện nay đã có những quy định nhằm điều chỉnh đối với loại hợp này
như sau:
1.2.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền
tác giả
tuân thủ các quy định của pháp luật về tính tự nguyện khi giao kết, thực
hiện hợp đồng.
Cụ thể, các bên khi tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, không
bị ép buộc, lừa dối, đe dọa hay nhầm lẫn khi xác lập hợp đồng.
Nếu không tuân thủ các điều kiện trên, hợp đồng CNQTG có thể bị vô
hiệu theo quy định của BLDS 2005:
- Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131)
- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132)
- Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được
hành vi của mình (Điều 133)
c) Nội dung của hợp đồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Theo quy định của pháp luật về hợp đồng, hợp đồng CNQTG cũng giống
như tất cả các hợp đồng khác phải tuân thủ quy định về điều kiện có hiệu lực
về nội dung.
Điều 46 Luật SHTT hiện hành, thì hợp đồng CNQTG phải được lập
thành văn bản và nội dung của hợp đồng phải đảm bảo các nội dung sau:
- Các bên tham gia hợp đồng: Tên, địa chỉ, chứng minh thư/ hộ chiếu/
giấy phép đăng kí kinh doanh...một số trường hợp, hợp đồng phải có giấy ủy
quyền kèm theo.
- Đối tượng của hợp đồng: Các quyền nào được chuyển nhượng (nêu cụ
thể các quyền), các quyền được chuyển nhượng đó được gắn liền hay liên
quan đến tác phẩm nào.
18
- Căn cứ chuyển nhượng: Bên chuyển nhượng là chủ sở hữu quyền tác
giả hay do chủ sở hữu quyền tác giả ủy quyền.
- Giá, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm thanh toán: Do các
bên tự thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng.
- Quyền và nghĩa vụ các bên: Các bên được tự do thỏa thuận các quyền
Nếu không tuân thủ các quy định về hình thức, hợp đồng CNQTG có thể
bị tuyên bố vô hiệu [5, Điều 134].
1.2.2. Một số vấn đề quan trọng trong hợp đồng chuyển nhượng
quyền tác giả
a. Điều khoản về giá
Như đã nói ở trên, giá trị của hợp đồng CNQTG chỉ mang tính định tính
chứ không mang tính định lượng, do đó không có một mức giá chung hay cụ
thể nào cho cho từng hợp đồng. Chính vì vậy điều khoản về giá thường do các
bên thỏa thuận với nhau căn cứ vào việc thẩm định giá trị của quyền tác giả
đối với tác phẩm được chuyển giao.
Bên chuyển nhượng (tác giả, chủ sở hữu tác phẩm) thường căn cứ vào
các tiêu chí hình thành nên tác phẩm: lượng chất xám bỏ ra, thời gian, công
sức, tiền của...trong suốt quá trình tạo ra tác phẩm nhằm đưa ra mức giá phù
hợp, vừa bù đắp những hao tổn khi sáng tạo ra tác phẩm, vừa thu lợi để làm
cơ sở cho việc tái sản xuất sức lao động.
Bên nhận chuyển nhượng thường căn cứ vào giá trị kinh tế mà quyền tác
giả được chuyển giao có thể đem lại lợi nhuận khi khai thác trong thực tế.
Căn cứ này được dựa vào quá trình thẩm định, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu
của thị trường và khả năng đáp ứng những nhu cầu đó.
Các nội dung chủ yếu trong điều khoản về giá bao gồm:
- Các hạng mục công việc và các đối tượng cần phải trả tiền cho Bên
chuyển nhượng.
- Đơn giá, nếu không xác định được đơn giá thì nguyên tắc xác định giá.
20