Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phải
quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc
xây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình.
Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp. Có
nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của một
doanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãn
hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp,
hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tố
quan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêu
dùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy
(cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướng
dương
–
sunflower,
ánh
dương
–
sunlight…).
Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, thế nhưng vẫn còn có rất
nhiều trướng hợp các doanh nghiệp mắc phải sai sót trong việc giải quyết các vấn đề
liên quan đến nhãn hiệu. Trong công trình ghiên cứu dưới đây, chúng tôi sẽ đi sâu
phân tích và giải quyết các vấn đề liên quan đến “ nhãn hiệu”,đặc biệt là việc chuyển
giao và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.
1
CHƢƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
chạy được không, có được sự ưa chuộng của người tiêu dùng hay không phụ
thuộc rất nhiều vào độ tin cậy của nhãn hiệu đó. Khác với các tài sản hữu hình,
khi chủ sở hữu khai thác và sử dụng chúng thì một hệ quả tất yếu kéo theo là
sự tiêu hao và cạn kiệt thì tài sản sang tạo trí tuệ khi được khai thác và sử dụng
thì không những không bị giảm sút về số lượng và chất lượng mà giá trị của tài
sản đó còn được nâng cao.
Đặc biệt, với nhãn hiệu thì một nhãn hiệu sẽ càng trở nên nổi tiếng và có giá trị
khi phạm vi sử dụng của nó được mở rộng.
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về nhãn hiệu trong nội dung quyền sở hữu
công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thị
trường và thương mai quốc tế. Nhãn hiệu ngoài chức năng chính là phân biệt
hàng hóa dịch vụ của các nhà sản xuất khác nhau trên thị trường, cung cấp
những thông tin về sản phẩm cho người tiêu dung trong việc lựa chọn còn là
biểu tượng cho hình ảnh và danh tiếng của doanh nghiệp, là yếu tố quyết định
tính cạnh tranh của hàng hóa , dịch vụ trên thị trường và là một tài sản kinh
doanh có giá trị đặc biệt.
Theo khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ, “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để hân
biệt hàng hóa dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Nhãn hiệu thường là các dấu hiệu như một từ, ngữ (một cụm từ), hình ảnh,
biểu tượng, lô gô, hoặc sự kết hợp các yếu tố này được sử dụng trên hàng hóa
3
hoặc dịch vụ để giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được các sản phẩm, dịch
vụ khác nhau trên thị trường.
Nhãn hiệu thuộc các đối tượng sở hữu công nghiệp là các chỉ dẫn thương mại
Nhãn hiệu cũng thuộc các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xác
lập trên cơ sở đăng ký.
nghĩa nhãn hiệu:
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kì, quốc
huy của các nước, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hôi – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế nếu không được cơ
quan tổ chức đó cho phép. Ví dụ như tên viết tắt của tổ chức thương mại thế
giới WTO sẽ không được dùng để làm nhãn hiệu , tên thật, biệt hiệu, biệt danh,
hình ảnh của lãnh tụ, anh hung dân tộc, danh nhân của Việt Nam và của nước
ngoài; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ
chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này
đăng kí các dấu hiệu đó làm nhãn hiệu chứng nhận.
Về tiêu chí bảo hộ thứ hai, nhãn hiệu có khả năng phân biệt là nhãn hiệu bao
gồm các yếu tố đủ để tác động vào nhận thức, tạo nên ấn tượng có khả năng
lưu giữ trong trí nhớ hay tiềm thức con người, bất kì ai khi tiếp xúc với chúng
đều dễ dàng nhận thức và dễ ghi nhớ về chúng khi đặt bên cạnh các nhãn hiệu
khác. Có thể có nhiều yếu tố độc đáo không giống những cái đã có nhưng lại
quá nhiều chi tiết phức tạp hoặc quá nhiều hình vẽ rắc rối khiến cho người tiếp
cận khó nắm bắt và không thể ghi nhớ được nội dung cấu trúc cuả nó.
Nhãn hiệu không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu là các
hình học đơn giản không có khả năng phân biệt và gây ấn tượng cho thị giác
hoặc quá phức tạp gồm nhiều đường nét rắc rối; hay là các chữ số, chữ cái, chữ
thuộc các ngôn ngữ thông dụng được hiểu là bất kì ngôn ngữ không thông
dụng. Hiện nay, một số dấu hiệu sẽ có khả năng được đăng kí tại Cục sở hữu
trí tuê nếu dấu hiệu này thuộc ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung
Quốc, tiếng Pháp và tiếng Nga.
Tuy nhiên cũng có ngoại lệ đối với những trường hợp nêu trên, đó là trường
hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi
với danh nghĩa là một nhãn hiệu.
5
Nhãn hiệu hình: bao gồm hình vẽ, ảnh chụp, biểu tượng, hình khối (hình
không gian ba chiều)
Nhãn hiệu kết hợp: kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh.
Những nhãn hiệu này có thể được thể hiện đen trắng hoặc kết hợp cả màu sắc.
Căn cứ những quy định về nhãn hiệu thì nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt
hàng hóa và dịch vụ của các cá nhân và tổ chức kinh doanh khác nhau. Như
vậy có thể nói nhãn hiệu gồm 2 loại cơ bản là nhãn hiệu dung cho hàng hóa và
nhãn hiệu dung cho dịch vụ.
Nhãn hiệu dùng cho hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của
các chủ thể khác nhau, nó chủ yếu trả lời cho câu hỏi ai là người sản xuất ra
những loại hàng hóa , chứ không phải trả lời hàng hóa đó là cái gì. Nhãn hiệu
dung cho hàng hóa có thể được gắn ngay trên chính hàng hóa hay trên bao bì
của hàng hóa đó. Hàng hóa được hiểu là những vật phẩm có nguồn gốc tự
nhiên hay được sản xuất, chế tạo để bán.
Nhãn hiệu dung cho dịch vụ là những dấu hiệu để phân biệt dịch vụ của
những chủ thể khác nhau. Dịch vụ được hiểu là các hoạt động thực tế, được
thực hiện theo yêu cầu hay vì lợi ích của bên thuê dịch vụ. Khái niệm dịch vụ
được hiểu là những dịch vụ độc lập, bao gồm một hành vi cụ thể để thực hiện
một yêu cầu nhất định qua đó mang lại lợi ích cho chủ thể phía bên kia. Trong
trường hợp công ty thực hiện hoạt động bảo hành sau khi hoàn thành khâu mua
bán cho khách hàng thì đó không được gọi là hoạt động dịch vụ. Nhãn hiệu
dịch vụ thường được gắn trên các bảng hiệu dịch vụ để người có nhu cầu
hưởng thụ dịch vụ có thể dễ dàng nhận biết.
Trên cơ sở của hai loại nhãn hiệu chính và cơ bản là nhãn hiệu dung cho hàng
hóa và nhãn hiệu dùng cho dịch vụ thì có thể chia ra các loại nhãn hiệu cụ thể
khác với các đặc điểm riêng biệt như: nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận,
nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng. Các nhãn hiệu này đều thuộc về nhãn
hiệu hàng hóa cũng như thuộc về nhãn hiệu dịch vụ.
vụ của họ đáp ứng được các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận
đặt ra. Trong khi nhãn hiệu tập thể chỉ do các thành viên của tập thể sử dụng
thì nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởi bất kỳ ai có sản phẩm dịch
8
vụ đáp ứng được yêu cầu định sẵn. Tiêu chuẩn ISO 9000 được công nhận trên
toàn thế giới, nhãn hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dung bình
chọn là ví dụ cho loại nhãn hiệu chứng nhận.
Ví dụ một số nhãn hiệu được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ như: nhãn
hiệu Bình Thuận Dragon Fruit của Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận,
nhãn hiệu Catba Archipelago Biosphere Reserve Haiphong – Vietnam của Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng…
Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc
tương tự nhau dùng cho sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại hoăc tương tự nhau
hoặc có lien quan đến nhau. Việc đăng ký nhãn hiệu lien kết mang lại nhiều lợi
ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Chủ sở hữu các nhãn hiệu lien kết được độc
quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ. Nhãn hiệu liên kết tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng khi lựa chọn sản
phẩm hay dịch vụ mới bởi họ biết được về nguồn gốc, xuất xứ hay mỗi liên kết
với các sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã dung trước đây
Nhãn hiệu nổi tiếng là loại nhãn hiệu luôn thu hút được sự quan tâm của hầu
hết mọi người từ các chủ thể kinh doanh tới người tiêu dung. Thuật ngữ “nhãn
hiệu nổi tiếng” đã từng được đề cập trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu
công nghiệp và tiếp tục được ghi nhận sửa đổi nhằm hoàn thiện hơn trong Hiệp
định TRIPs. Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn
hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”, ví dụ
như nhãn hiệu Trung Nguyên cho sản phẩm và dịch vụ bán cà phê, Biti’s cho
giầy dép, Vietnam Airline cho dịch vụ vận chuyển hàng không…
Quy định nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập thông qua thủ tục công nhận của cơ
gôc hàng hóa, dịch vụ, có khả năng ảnh hưởng đến sự phân biệt của nhãn hiệu
nổi tiếng hoặc làm giảm danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng.
Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
áp dụng biện pháp chống lại các hành vi như sau: sử dụng dấu hiệu trùng hoặc
tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, sử dụng dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên
âm từ nhãn hiệu đó cho hàng hóa dịch vụ không cùng loại, không tương tự và
không lien quan tới hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nếu việc sử
10
dụng đó có khả năng nhầm lẫn về nguôn gốc hàng hóa, dịch vụ, hoặc gây ấn
tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu với chủ thể có nhãn
hiệu được công nhận là nổi tiếng.
11
2. Những vấn đề cơ bản về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
Trong bối cảnh thương mại hiện đại, quyền sở hữu đối tượng sở hữu công
nghiệp là loại tài sản có giá trị kinh tế to lớn. Chủ sở hữu các đối tượng này có
quyền tiến hành các hành vi để trực tiếp sử dụng, khai thác sang tạo trí tuệ của
mình hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cho chủ thể khác. Hiện nay,
việc chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng này là rất phổ biến và quan trọng,
đặc biệt trong số các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thì chuyển giao
nhãn hiệu là diễn ra nhiều nhất và cũng chính ở lĩnh vực này xảy ra nhiều tranh
chấp nhất trong quá trình chuyển giao.
Để hợp pháp hóa việc chuyển giao nhãn hiệu thì việc giao kết và thực hiện hợp
đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là điều tất yêú
Theo Điều 753, Bộ luật Dân sự quy định: “ Quyền sở hữu công nghiệp đối với
cách chuyển quyền , và trên thực tế, việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu diễn
ra phổ biến hơn.
2.1 Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu
2.1.1 Khái niệm
Chủ sở hữu các đối tượng công nghiệp trong đó có nhãn hiệu có quyền năng
quan trọng nhất là độc quyền sử dụng đối tượng đó trong thời hạn hiệu lực của
văn bằng bảo hộ. Chủ sở hữu có quyền khai thác lợi ích, sử dụng dưới nhiều
hình thức khác nhau (đối với nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể tự gắn nhãn hiệu của
mình đã đăng ký lên trên bề măt sản phẩm và lưu thông sản phẩm đó), hoặc có
thể được thỏa mãn lợi ích vật chất của mình dưới hình thức thực hiện quyền
định đoạt các đối tượng sở hưu công nghiệp như thông qua hợp đồng chuyển
nhượng hay đơn giản là tuyên bố từ bỏ độc quyền cảu mình.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là sự thỏa thuận giữa hai
bên, theo đó một bên (gọi là bên chuyển nhượng) chuyển quyền sở hữu độc
quyền sở hữu công nghiệp sang cho bên kia (gọi lầ bên được chuyển giao), còn
bên được chuyển giao phải thanh toán tiền cho bên chuyển giao theo thỏa
thuận
Tương tự như vậy, hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu là văn bản ghi nhận sự
thỏa thuận của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc chuyển giao toàn bộ quyền sở
hữu của mình đối với nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân khác. Bên được chuyển
13
nhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu kể từ thời điểm hợp đồng được đăng ký
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyển và có nghĩa vụ trả phí chuyển nhượng.
Nhãn hiệu là tài sản phi vật chất mà ít ai nhận biết được giá trị của chúng nếu
không có sự hiểu biết sâu rộng về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp. Để định
giá đúng và chính xác giá trị của nhãn hiệu không những phải xem xét hệ thống
sổ sách rõ ràng mà còn phải thực hiện các nghiên cứu và đánh giá thị trường
một cách nghiêm túc, bài bản. Vì vậy khi thự c hiện ký kết hợp đồng các bên
quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu của nhiều người thì việc chuyển
nhượng phải được sự đồng ý của tất cả đồng sở hữu (sở hữu chung theo phần
hay sở hữu chung hợp nhất).
Bên được chuyển nhượng là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng, khai
thác nhãn hiệu. Thông qua hợp đồng chuyển nhượng thì bên được chuyển
nhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu, và có các quyền của chủ sở hữu theo
quy định của pháp luật. Đối với việc chuyển nhượng nhãn hiệu, bên được
chuyển nhượng phải đáp ứng các yêu cầu nộp đơn mà pháp luật quy định đối
với từng loại nhãn hiệu tương ứng.
2.1.4 Đối tƣợng của hợp đồng
Về đối tượng của hợp đồng là nhãn hiệu, việc chuyển nhượng quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu không được gây nên sự nhầm lẫn về nguồn gốc,
đặc tính của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Đối với việc doanh nghiệp có
nhãn hiệu trùng với tên thương mại của mình thì việc chuyển nhượng riêng
nhãn hiệu có thể bi từ chối đăng ký bởi lẽ việc chuyển nhượng riêng đó có thể
khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm mang
nhãn hiệu. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu liên kết chỉ được thực
hiên đồng thời với tất cả nhãn hiệu lien kết. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu
nhãn hiệu nổi tiếng phải đảm bảo duy trì uy tín của hàng hóa, dịch vụ mang
15
nhãn hiệu nổi tiếng đó. Luật pháp một số quốc gia chỉ cho phép việc chuyển
nhượng nhãn hiệu cùng với việc chuyển nhượng cả danh tiếng và cơ sở sản
xuất, kinh doanh gắn với nhãn hiệu đó với lập luận rằng việc chỉ chuyển
nhượng nhãn hiệu sẽ gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dung. Tuy nhiên xu
hướng phổ biến là cho phép tự do chuyển nhượng nhãn hiệu miễn là bên được
chuyển nhượng vẫn bảo đảm chất lượng ổn định của sản phẩm hoặc dịch vụ sử
dụng nhãn hiệu.
2.1.5 Nội dung của hợp đồng
nhận chuyển nhượng phải chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hóa mang nhãn
hiệu được chuyển nhượng nếu điều đó là cần thiết và phải đảm bảo chất lượng
hàng hóa như hàng hóa do bên chuyển nhượng sản xuất. Hơn nữa, bên nhận
chuyển nhượng phải cam kết bảo đảm hàng sản xuất ra có gắn nhãn hiệu sẽ có
chất lượng không kém với chất lượng của hàng hóa gắn nhãn hiệu trước đó.
Cam kết này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho những người tiêu dung đang
đặt niềm tin vào nhãn hiệu đó.
Người thứ ba trong hợp đồng chuyển nhượng có thể là các chủ thể đã được
cấp li-xăng đối với nhãn hiệu đó. Khi đó hai bên có thể thỏa thuận rằng các
quyền và nghĩa vụ của hợp đồng li-xăng đang tồn tại sẽ được chuyển giao cho
sang cho bên nhận chuyển nhượng. Khi đó hợp đồng li-xăng vẫn tiếp tục có
hiệu lực cho đến hết hạn.
Ngoài ra hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu còn bao gồm điều kiện sửa đổi,
chấm dứt, vô hiệu hợp đồng; cách thức giải quyết khiếu nại tranh chấp; ngày và
nơi ký kết hợp đồng; chữ ký của các bên hoặc đại diện có thẩm quyền của các
bên kèm theo họ tên, chức vụ của người ký và xác nhận chữ ký.
2.1.6 Hình thức của hợp đồng
17
Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu phải được lập dưới hình thức bằng văn
bản. Mọi thỏa thuận miệng, công văn, thư từ, điện báo đều không được coi là
hợp đồng chuyển nhượng và không có giá trị pháp lý.
2.1.7 Đăng ký hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu
Để hoàn tất việc chuyển nhượng nhãn hiệu các bên phải tiến hành thủ tục đăng
ký hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu theo quy định của pháp luật tại Cục sở
hữu trí tuệ mới có hiệu lực. Yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký, thủ thục đăng ký
hợp đồng chuyển nhượng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định,
khi các bên muốn thay đổi hay bổ sung nội dung hợp đồng thì thỏa thuận thay
nghiệp trên thị trường dồng thời làm tăng danh tiếng thông qua sự công nhận
nhãn hiệu sản phẩm. Bên nhận quyền sử dụng có thể thu được những lợi ích
vật chất lớn từ việc chuyển quyền sử dụng, không cần chi phí cho việc đầu tư,
nghiên cứu và phát triển sang tạo trí tuệ đó, tránh được các rủi ro và dễ dàng có
được một vị trí trên thương trường. Đây cũng là cách thức cơ bản để các doanh
nghiệp nội địa được sử dụng nhãn hiệu của các công ty nước ngoài, đặc biệt là
các nước đang phát triển được nhận li-xăng từ các nước phát triển.
2.2.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
Là hợp đồng chuyển quyền sử dụng, nhưng có tính chất khác với hợp đồng
chuyển quyền sử dụng tài sản thông thường như hợp đồng thuê tài sản. Trong
hợp đồng thuê tài sản, bên cho thuê được chuyển giao tài sản cho bên thuê để
sử dụng trong một thời hạn và bên thuê được sử dụng một cách tuyệt đối, bên
cho thuê không có khả năng sử dụng, khai thác tài sản này.Còn đối với hợp
đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp,bên chuyền quyền
có thể vừa khai thác đối tượng này đồng thời cho người khác cùng sử dụng.
Quyền sử dụng được chuyển giao bị giới hạn về không gian và thời gian
Thời hạn của hợp đồng có thể do các bên thỏa thuận nhưng luôn bị giới hạn bởi
thời hạn bảo hộ nhãn hiệu. Trong hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công
nghiệp nói chung luôn có điều khoản về lãnh thổ, nhằm xác định giới hạn về
19
mặt không gian bảo hộ trong đó bên được chuyển quyền được phép tiến hành
việc sử dụng nhãn hiệu.
2.2.3 Chủ thể của hợp đồng
Bên chuyển quyền: là chủ sở hữu nhãn hiệu – người được cơ quan nhà nước
cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc được chuyển giao quyền sở hữu hợp pháp
nhãn hiệu đó. Bên chuyển quyền cũng có thể là người được chủ sở hữu nhãn
hiệu chuyển quyền sử dụng độc quyền nhãn hiệu và được phép chuyển giao
quyền sử dụng cho bên thứ ba.
Hợp đồng li-xăng chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý nếu bên chuyển quyền có tư
cách chuyển quyền sử dụng. Nếu bên chuyển quyền là chủ sở hữu thi hợp đồng
phải xác định rõ văn bằng bảo hộ thuộc sở hữu của bên chuyển quyền (tên văn
bằng bảo hộ, số văn bằng, ngày cấp, thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ).
Phạm vi chuyển quyền sử dụng
Điều khoản về phạm vi chuyển giao chỉ rõ: điều kiện giới hạn quyền sử dụng
của bên được chuyển quyền (dạng sử dụng độc quyền hay không độc quyền);
phạm vi đối tượng mà bên được chuyển quyền được sử dụng (toàn bộ hay một
phần khối lượng bảo hộ được xác lập thep văn bằng bảo hộ); giới hạn hành vi
sử dụng của bên được chuyển quyền (được thực hiện toàn bô hay một số hành
vi sử dụng).
Giới hạn lãnh thổ:
Điều khoản về giới hạn lãnh thổ xác định phạm vi về mặt không gian trong đó
bên được chuyển quyền được phép tiến hành việc sử dụng nhãn hiệu. Các bên
có thể thỏa thuận bên được chuyển quyền được phép sử dụng nhãn hiệu trong
một phần hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hoặc giới hạn trong một không gian
nhất định.
21
Thời hạn hợp đồng:
Thời hạn hợp đồng phải thuốc thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hoặc nếu hợp đồng sử
dụng nhãn hiệu thứ cấp thì thời hạn của nó phải trong thời hạn của hợp đồng
cấp trên.
Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng
Nghĩa vụ của bên chuyển quyền:
Chỉ được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc độc quyền trong phạm vi
được pháp luật bảo hộ và trong thời hạn bảo hộ.
Bảo đảm việc chuyển quyền sử dụng không gây tranh chấp với bên thứ ba, nếu
tranh chấp xảy ra phải giải quyết vì lợi ích của bên được chuyển quyền.
Sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi, thời hạn và điều kiện ghi trong hợp đồng.
Giá chuyển giao quyền sử dụng và phương thức thanh toán
Sửa đổi, đình chỉ , vô hiệu hợp đồng
Hợp đồng chuyển quyền mặc nhiên bị đình chỉ nếu quyền sở hữu công nghiệp
của bên chuyển quyền bị đình chỉ hoặc xảy ra sự kiện bất khả kháng làm cho
hợp đồng không thể được thực hiện. Hợp đồng mặc nhiên bị vô hiệu nếu quyền
sở hữu công nghiệp của bên chuyển quyền bị huy bỏ.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng
Các bên thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp hợp đồng theo phương thức
tự thương lượng, thông qua trọng tài hoặc giải quyết ở tòa án hoặc kết hợp các
phương thức trên.
23
Trong chiến lược giao kết sử dụng nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu của các đối
tác nước ngoài thì các đối tác Việt Nam cần chú ý xem xét các yêu tố quan
trọng như sau: nguy cơ phải chia sẻ thị trường với các đối thủ cạnh tranh khác
trong trường hợp nhận li-xăng không độc quyền, tác động đến doanh thu và lợi
nhuận kỳ vọng của dòng hàng hóa nhập khẩu song song, sự gia tăng giá trị
nhãn hiệu cho đối tác nước ngoài từ các nỗ lực tiếp thị, quảng bá của đối tác
Việt Nam.
2.2.6 Hình thức của hợp đồng
Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải được lập bằng văn bản với
thỏa thuận của các bên, mọi hình thức giao kết khác đều không có giá trị pháp
lý.
2.2.7 Thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn
hiệu
Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có hiệu lực theo thỏa thuận của các
bên nhưng chỉ có giái trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại
ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền
và nghĩa vụ nhất định.
Theo nghĩa khách quan (rộng): hợp đồng là 1 chế định pháp luật bao gồm hệ
thống quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trên thỏa thuận, làm
phát sinh một hậu quả pháp lý.
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều
mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những
25