Mối quan hệ giữa xuất khẩu và GDP - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
===============

TIỂU LUẬN
Mối quan hệ giữa xuất khẩu và GDP, cơ cấu xuất khẩu hiệu
quả cho kinh tế Việt Nam

Nhóm 25 – KTL
GV hướng dẫn: Cô Chu Thị Mai Phương

Hà Nội - 2016

1


LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế có vai trò rất quan trọng với một quốc gia. Hằng ngày, song song với
những hoạt động kinh tế được điều tiết bởi “bàn tay vô hình” thì cũng có những
chính sách của chính phủ góp phần xây dựng kinh tế và phát triển thịnh vượng về
mọi mặt của quốc gia – “bàn tay hữu hình”. Những cơ chế ấy không phải ngẫu
nhiên, mà chúng tuân theo một số lý thuyết và nguyên tắc nhất định. Có một chỉ tiêu
rất quan trọng, đó là chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế - GDP. Và thông qua bài
tiểu luận này, chúng em muốn tìm hiểu một nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu quan
trọng này – đó là giá trị xuất khẩu. Vì vậy chúng em xin chọn đề tài “Mối quan hệ
giữa xuất khẩu và GDP;cơ cấu xuất khẩu hiệu quả cho kinh tế Việt Nam”
I. Bối cảnh
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tích cực, chủ động và sâu
rộng trong nền kinh tế toàn cầu. Đồng thời, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của Việt Nam đặt mục tiêu về cơ bản đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại vào năm 2020. Tất cả các hoạt động kinh tế diễn ra hàng ngày

Phần 1: Cơ sở lý thuyết của mô hình
Phần 2: Mô hình nghiên cứu (gồm hai mô hình)
Phần 3: Kết quả và thảo luận
Phần 4: Chính sách xuất khẩu và cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành, chúng em đã cố gắng tham khảo, tìm
tòi tài liệu và vận dụng những kiến thức đã tích lũy để thực hiện đề tài một cách tốt
nhất. Bên cạnh đó, chúng em cũng nhận được sự giúp đỡ từ phía bạn bè và đặc biệt
là sự tận tình từ cô Chu Thị Mai Phương trong suốt quá trình làm đề tài. Chúng em
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình này.

3


Do vốn kiến thức còn hạn chế cùng với khoảng thời gian hạn hẹp, bài tiểu luận
chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp
của các bạn cũng như thầy cô để đề tài được trở nên hoàn thiện nhất. Mọi ý kiến,
đóng góp xin gửi vào mail:
Chúng em xin chân thành cảm ơn.
I. LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
1. Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương

Tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đã được
các nhà kinh tế học tìm hiểu và lý giải ngay từ những ngày đầu tiên của nền kinh tế
Tư bản chủ chủ nghĩa. Cụ thể là Chủ nghĩa trọng thương đã được hình thành ở
châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ XV và phát triển đến giữa thế kỷ XVIII với
những quan điểm kinh tế đánh giá cao vai trò của tư bản thương nghiệp.
Nói về vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế, Chủ nghĩa trọng thương cho rằng
để có tích lũy tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại, mà trước hết là ngoại
thương. Hơn nữa, trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu. Các nhà kinh tế

có lợi thế tuyệt đối về một mặt hàng nào đó nếu có khả năng sản xuất mặt hàng ấy
với chi phí thấp hơn hay năng suất cao hơn so với nước khác. Khi đó, quốc gia ấy
nên tập trung chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mình có lợi thế và tiến hành xuất
khẩu mặt hàng đó sang nước khác. Việc chuyên môn hóa như vậy góp phần không
nhỏ đến tiết kiệm chi phí sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, thông qua
hoạt động trao đổi mà cả hai quốc gia có quan hệ thương mại với nhau đều có lợi
và trở nên sung túc hơn. Vì vậy, Adam Smith khẳng định thương mại quốc tế
không phải là một trò chơi có tổng bằng không, mà là trò chơi làm lợi cho tất cả
5


các bên tham gia. Tuy nhiên, thực tế thương mại quốc tế cho thấy, trong nhiều
trường hợp, khi so sánh chi phí sản xuất để tìm ra lợi thế tuyệt đối, một nước lại
thấy mình có lợi thế về tất cả các mặt hàng so với nước khác. Lý thuyết của Adam
Smith không thể lý giải được tại sao các nước trong trường hợp này vẫn trao đổi
với nhau và cùng có lợi.
Để giải quyết hạn chế trên của Adam Smith, David Ricardo đã đưa ra một khái
niệm có tính khái quát hơn, đó là lợi thế so sánh. Theo ông, một quốc gia có lợi thế
so sánh để sản xuất một hàng hóa khi hàng hóa đó được sản xuất với chi phí cơ hội
thấp hơn so với khi nó được sản xuất ở quốc gia khác. Vì vậy, mặc dù có những
quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong bất cứ hoạt động sản xuất một mặt hàng
nào vẫn có thể tham gia thương mại quốc tế và thu lợi từ nó bằng cách xuất khẩu
hàng hóa hoặc dịch vụ mà quốc gia đó có lợi thế so sánh lớn nhất, nhập khẩu
những hàng hóa mà quốc gia đó có lợi thế so sánh nhỏ nhất.
Adam Smith và David Ricardo đều đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế
có liên quan đến việc chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế. Mặc dù
không trực tiếp nhấn mạnh trả lời cho câu hỏi "Mối quan hệ giữa xuất khẩu và
tăng trưởng kinh tế?", nhưng hai nhà kinh tế học tiêu biểu của trường phái cổ điển
đều đã đưa ra những nhận định sơ lược về mối quan hệ này và hai quan điểm đều
thống nhất ở một ý kiến: xuất khẩu là hoạt động tất yếu khách quan, là một bộ

tiềm năng lao động và tài nguyên của đất nước, chiến lược hướng tới việc kiểm
soát nhập khẩu, tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Chiến
lược này đánh giá cao vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế thông qua
việc tận dụng lợi thế từ thị trường thế giới về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản
lý. Chính nhờ áp dụng chiến lược này mà nền kinh tế nhiều nước đang phát triển
đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao.
Việc phân tích hai loại hình chính sách ngoại thương trên đây chỉ mang tính khái
quát chung những quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại. Ngoài ra có rất
7


nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành nhằm kiểm chứng mối quan hệ giữa
xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.
4. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt

Nam
Ở Việt Nam, trong tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm
2011, Th.S Phan Thế Công có phân tích về mối quan hệ giữa xuất khẩu và GDP.
Bài viết đó đã kiểm định tác động của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế theo dữ
liệu cấp tỉnh ở Việt Nam bằng cách sử dụng các mô hình Feder (1982), Balassa
(1978), Granger (1969) và các mô hình sửa đổi có bổ sung giai đoạn 1996-2006.
Kết quả của việc phân tích cung cấp một bằng chứng thực nghiệm cho học thuyết
tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu; đồng thời chỉ ra rằng, xuất khẩu đóng một
vai trò quan trọng không chỉ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước mà
còn đóng góp tích cực vào phát triển các yếu tố phi xuất khẩu (như cơ sở hạ tầng,
điện, nước, thức ăn chế biến sẵn…) trong nước. Kế thừa bài viết, chúng em muốn
một lần nữa khẳng định mối quan hệ giữa xuất khẩu và GDP, đồng thời mở rộng ra
nghiên cứu cơ cấu xuất khẩu có ảnh hưởng tích cực nhất đến nền kinh tế Việt Nam
qua phân tích ở mô hình thứ 2.
II. MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI TỔNG

mại, thông tin tài chính, vận tải, du lịch,…
- Các quan điểm đã nêu ra ở phần I đều cho rằng giữa xuất khẩu và tăng
trưởng kinh tế có mối quan hệ đồng biến. Thật vậy, mối quan hệ đó được thể
hiện dưới phương trình sau:

Y = C + I + G + NX = C + I + G + ( EX – IM)
Trong đó:
Y: tổng sản phẩm trong nước GDP
C: tiêu dung
9


G: chi tiêu chính phủ
NX: xuất khẩu ròng
NX = EX – IM = Xuất khẩu – nhập khẩu
b) Lý thuyết về mô hình kinh tế lượng và phương pháp luận của kinh tế lượng
Mô hình kinh tế lượng là gì?
Có nhiều định nghĩa về kinh tế lượng, thông qua các định nghĩa nhận thấy đo
lường kinh tế không phải là nội dung duy nhất của kinh tế lượng. Phạm vi của kinh
tế lượng rộng hơn, thể hiện qua một số định nghĩa sau:
- Kinh tế lượng bao gồm việc áp dụng thống kê toán cho các số liệu kinh tế để
củng cố về mặt thực nghiệm cho các mô hình do các nhà kinh tế toán đề
xuất và để tìm ra lời giải bằng số.
- Kinh tế lượng là sự phận tích về lượng các vấn đề kinh tế hiện thời dựa trên
việc vận dụng đồng thời lý thuyết và thực tế được thực hiện bằng các
phương pháp suy đoán thích hợp.
- Kinh tế lượng được các nhà kinh tế học sử dụng như là một công cụ hữu ích
trong việc vừa kết hợp khả năng sử dụng các lý thuyết kinh tế cũng như
phân tích thực nghiệm với việc mô hình hóa lý thuyết, qua đó ước lượng
được các quan hệ kinh tế hoặc dự báo hiện tượng kinh tế.


Thuộc tính biến

Giải thích biến

Đơn vị
Tỉ USD, giá thực
tế theo giá hiện
hành
Tỷ USD, FOB,
giá thực tế theo
giá gốc năm
2000

GDP(MH1)

Biến phụ thuộc

Giá trị GDP

XK

Biến độc lập

Tổng giá trị XK

GDP(MH2)

Biến phụ thuộc


và tiểu thủ CN

11

Nguồn số liệu
worldbank

worldbank

Trăm tỷ VNĐ

Tổng cục thống


Triệu USD

Tổng cục thống


Triệu USD

Tổng cục thống

Tổng cục thống

Tổng cục thống



Tuy nhiên, ngoài xuất khẩu, GDP còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn các

Không có sự tương quan giữa ui với Xi:
Cov [ui/Xi]=0

GT6:
GT7:
GT8:
GT9:
GT10:

Ui có phân phối N(0;δ2)
Mô hình là tuyến tính theo tham số
Số quan sát n lớn hơn số tham số của mô hình (thỏa mãn)
Giá trị của X không đồng nhất ở tất cả các quan sát (thỏa mãn)
Mô hình được xác định đúng. Tức là nó phải tuân theo lý thuyết hoặc giả

thuyết nào đó.
GT11:
Không tồn tại đa cộng tuyến hoàn hảo giữa các biến giải thích.
b) Nguồn số liệu
12


Để ước lượng mô hình, ta sử dụng bảng 1(Phụ lục) về số liệu xuất khẩu và GDP
của Việt Nam từ 1976-2015 (đơn vị GDP: tỉ USD, XK: tỉ USD)
Trước khi đi vào phân tích kết quả thống kê các biến và hồi quy, từ sơ đồ dưới
đây, chúng ta rút ra trực quan rằng giá trị xuất khẩu và giá trị GDP của Việt Nam
giai đoạn 1985-2013 cùng có xu hướng tăng.
Biểu đồ 1: giá trị GDP và xuất khẩu giai đoạn 1985-2013

c) Các chỉ tiêu đánh giá mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế


30
34

55.42198
16.57089

Std. Dev.
51.76773
24.14203

Min

Max

6.293305
.2343412

186.2047
91.46183

 MH1 thỏa mãn 11 giả thiết đã nêu ra ở trên.
 Có 30 quan sát có số liệu về GDP của Việt Nam trong số các năm từ 19762015. Có 34 quan sát có số liệu về giá trị xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới
trong số các năm từ 1976-2015. Trong đó có 29 quan sát có số liệu cả 2 biến
trong giai đoạn từ 1976-2015.
 Giá trị lớn nhất và bé nhất của GDP và giá trị xuất khẩu hết sức khác biệt đã
chỉ ra cho chúng ta con số đáng ngạc nhiên về tốc độ tăng trưởng GDP cũng
như kim ngạch xuất khẩu qua các năm.
Từ biểu đồ 1 ta thấy rằng, nhìn chung, GDP tăng qua các năm, tuy GDP giảm từ
năm 1987 là 36.658 xuống còn 6.293 tỷ USD năm 1989 (giảm gần 6 lần) và đến


P-value

(95% Conf.Interval)

1.816

0.059

0.000

(1.695 ; 1,938)

15.738

1.857

0.000

(11.929 ; 19.548)

R -Squared

0.9721

Như vậy, hàm hồi quy biểu diễn tác động của xuất khẩu lên GDP thực tế có
dạng:

GDP= 15,738 + 1.816XK
 Để kiểm định xem mô hình có ý nghĩa không, từ bảng 3 ta thấy:





Nhóm 1: XK1 hàng công nghiệp nặng và khoáng sản
Nhóm 2: XK2 hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
Nhóm 3: XK3 nông sản
Nhóm 4: XK4 thủy sản
Bảng 4: Kết quả hồi quy mô hình 2

GDP

Coef.

Std.Err.

P-value

(95% Conf.Interval)

XK1

11.15

-5.038

0.043

(0.411 ; 21.889)



(-242.375 ; 32.036)

139.171

64.7834

0.048

(1.089 ; 277.254)

R -Squared

0.9961

Hàm hồi quy biểu diễn tác động của giá trị xuất khẩu các nhóm hàng lên GDP có
dạng:
GDP=139.171+11.15XK1+57.723XK2+37.481XK3-105.1696XK4
 Do P-value1 < 0,05 và P-value2 < 0,05 nên giá trị của XK1 và XK2 ảnh
hưởng đến GDP. Cụ thể tác động ở đây là tác động thuận chiều.
P-value3 > 0,05 và P-value4 > 0,05 nên XK3 và XK4không ảnh hưởng đến
GDP
 Mô hình 2 vẫn giải thích được tác động của tổng giá trị xuất khẩu đến GDP,
tổng hợp tất cả tác động của giá trị xuất khẩu 4 nhóm ngành: hàng công
nghiệp nặng và khoáng sản, hàng CN nhẹ và tiểu thủ CN, hàng nông sản và
hàng thủy sản lên GDP là 99,61%.
 Tác động của xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp lên
GDP là rõ rệt nhất. Với độ tin cậy 95%, các yếu tố khác không đổi, nếu xuất
khẩu hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng 1 tỉ USD thì giá trị
trung bình của GDP tăng trong khoảng từ 24.614 đến 90.832 trăm tỉ VNĐ.

(Nguồn:

). Điều này cho thấy không phải kim ngạch xuất khẩu cứ tăng
nhanh thì nền kinh tế cũng sẽ tăng trưởng và ngược lại, không phải kinh tế tăng
trưởng cao mà kim ngạch xuất khẩu nhất thiết sẽ tăng.
 Sự chênh lệch biến động
Sự chênh lệch trong nhịp độ tăng trưởng của xuất khẩu và GDP còn thể hiện ở
khoảng cách giữa hai chỉ tiêu này. Tăng trưởng xuất khẩu thường có nhiều biến
động hơn so với tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu còn chứa nhiều yếu tố bất ổn định
18


rất lớn. Thông thường xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao hơn rất nhiều so với tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Ví dụ như giá trị xuất khẩu của Mỹ năm 2014 về máy móc, hạt nhân, lò phản ứng
và thiết bị công nghiệp điện tử lần lượt là 324,309,315 nghìn USD và 314,770,007
nghìn USD. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế thường niên vào giai đoạn
năm 2010 – 2014 của hai ngành hàng mà Mỹ xuất khẩu này lại là 6% và 5%
(Nguồn: )
Ngoài ra, nói về các nhóm ngành xuất khẩu, còn có một ngành nữa là xuất khẩu
dịch vụ. Tuy nhiên, xuất khẩu dịch vụ còn chưa phát triển ở Việt Nam và không có
đủ số liệu nên tạm thời chưa đưa vào mô hình được.
Tuy tồn tại một số hạn chế như vậy, nhưng nhóm em tin rằng mô hình này không
phải là vô nghĩa khi ước lượng được mối quan hệ, mức độ tác động của xuất khẩu
đến GDP, cũng như mức độ tác động của giá trị xuất khẩu theo 4 nhóm ngành
chính lên GDP Việt Nam, từ đó tìm ra xu hướng giúp tăng trưởng kinh tế Việt
Nam.
IV. CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CẤU XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Kết quả ước lượng đã đưa ra mối quan hệ khá thuyết phục giữa tổng giá trị xuất
khẩu, giá trị xuất khẩu của từng nhóm ngành và tăng trưởng kinh tế. Sau đây là




Trung Quốc.
25/12/2008: Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (JVEPA).
05/05/2015: Hiệp định FTA Việt Nam-Hàn Quốc.
29/05/2015: FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á – Âu.
02/12/2015: Hiệp định thương mại tự do VIệt Nam - EU (EVFTA) đã

được ký kết.
• 31/12/2015: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được hình thành.
• 04/02/2016: 12 nước ký kết xác thực lời văn Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP).
b) Thực trạng xuất khẩu

20


Giai đoạn 1986-2000 đã đánh dấu những kết quả đầu tiên từ việc mở rộng buôn
bán và hợp tác kinh tế với các nước (bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ) và các
tổ chức kinh tế (ký hiệu định hợp tác thương mại với EU, gia nhập ASEAN).
Bảng 5: Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1986-2000
(giá thực tế, năm gốc 2009)

Giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tính theo giá gốc và giá hiện
hành nhìn chung tăng qua các năm, chỉ riêng năm 1989 và 1993 có hiện tượng
giảm. Tốc độ tăng trưởng không ổn định: có những năm tăng cao đột biến (1996
giá trị danh nghĩa tăng 48.1%), lại có những năm tăng trưởng thấp thậm trí là âm.
Giai đoạn 2001-2006: giai đoạn đầu thực hiện Chiến lược phát triển xuất khẩu
của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, phát triển mạnh quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ; bất

2000.Tuy kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên nhưng tỉ lệ tăng trưởng trong
những năm gần đây lại ngày càng giảm sút. Năm 2015 đánh dấu bước ngặt mới
trên con đường hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, chúng ta có quyền hi vọng
những cái bắt tay, những bản hiệp định sẽ tạo đà cho xuất khẩu Việt Nam tăng
trưởng mãnh liệt trong tương lai.
Hàng hóa của Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường EU, Hoa Kỳ, ASEAN,
Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Châu Úc. Sau hiệp định thương mại song
phương Việt-Mỹ được ký kết năm 2001, Mỹ đã vươn lên trở thành nhà nhập khẩu
lớn nhất của hàng hóa Việt Nam liên tục nhiều năm. Tuy nhiên, từ năm 2012 trở
lại đây EU và Mỹ một chín một mười về kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Việt
Nam.
Kim ngạch xuất khẩu đến các thị trường lớn này đều tăng trưởng qua các năm
cho thấy Việt Nam đã hội nhập sâu rộng. Bên cạnh các thị trường truyền thống,
Việt Nam đã thành công trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang châu Phi,
châu Mỹ La Tinh,…
Bảng 6: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam theo từng thị trường 1995-2014(triệu USD)
Năm

ASEAN

EU

Nhật Bản

23

Trung Quốc

Hoa Kỳ


2.953,3
4.056,1
5.743,5
6.632,6
8.110,3
10.337,7
8.761,3
10.364,7
13.656,0
17.426,5
18.584,4
19.118,3

664,2
848,5
1.607,8
2.079,0
2.515,3
2.845,1
3.002,9
3.162,5
3.852,6
4.968,4
5.517,0
7.094,0
9.096,4
10.895,8
9.402,3
11.385,5
16.541,3

1.536,4
1.417,4
1.518,3
1.883,1
2.899,1
3.228,1
3.242,8
3.646,1
4.850,1
5.403,0
7.742,9
11.613,3
12.836,0
13.177,7
14.930,9

169,7
204,2
286,7
468,6
504,0
732,8
1.065,3
2.452,8
3.938,6
5.024,8
5.924,0
7.845,1
10.104,5
11.886,8

triển mạnh mẽ như lý thuyết không, thì chúng ta chưa thể khẳng định như vậy.
Điều đó phản ánh rằng, Việt Nam áp dụng rất tốt lý thuyết, nhưng thực tế, kết quả
chúng ta đạt được lại không tốt như lý thuyết đã phân tích.
Về cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, cơ cấu theo nhóm hàng. Hàng xuất khẩu Việt
Nam chia thành các nhóm:





Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản
Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
Hàng nông sản
Hàng thủy sản.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status