CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài : Tự do hóa thương mại trong mối quan hệ với Xuất khẩu và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Sự cần thiết của đề tài
Sau 20 năm mở cửa kinh tế, Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt
lớn là trở thành Viên thứ 150 của WTO, một minh chứng thể hiện quá trình
mở cửa của nền kinh tế Việt Nam. Những thành tựu của quá trình mở cửa
đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là một thực tiễn sinh động cho
thấy vai trò của mở cửa kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế. Và một trong
những mặt quan trọng nhất của quá trình mở cửa đó là chính sách tự do hóa
thương mại. Tự do hóa thương mại là khía cạnh của hội nhập có tác động
quan trọng nhất đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Thực tiễn cho thấy
những chính sách cải cách thương mại đã có những ảnh hưởng lớn đến tăng
trưởng và cơ cấu xuất khẩu, thông qua những ảnh hưởng này đã tác động
đến tăng trưởng và cơ cấu kinh tế. Vì vậy nghiên cứu tự do hóa thương mại
trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu của Việt Nam cho ta
cái nhìn tổng quan hơn về vai trò của tự do hóa thương mại. Từ đó, có
những chính sách phù hợp hơn cho thương mại quốc tế( Hoạt động xuất
nhập khẩu) của Việt Nam
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, tìm hiểu về tự do hóa thương mại, về đặc điểm khái niệm, cũng
như cơ sở lý luận cần thiết cho hoạt động tự do hóa thương mại
Thứ hai, Phân tích thực trạng quá trình tự do hóa thương mại của Việt
Nam
Thứ ba, Phân tích mối quan hệ tự do hóa thương mại với xuất khẩu và
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Thư tư, từ việc phân tích mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại với xuất
khẩu tăng trưởng cho thấy vai trò của tự do hóa thương mại với tăng trưởng
kinh tế, để đưa ra những chính sách thương mại phù hợp với nền kinh tế
Việt Nam
bậc nhất nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hoá giữa các cá
nhân trong một quốc gia, giữa các quốc gia, khu vực khác nhau trên thế
giới. trước thế kỷ XIX chủ nghĩa trọng thương chiếm ưu thế nên hầu như
các nước đều áp đặt mức thuế cao và những hạn chế thương mại với hàng
hoá nhập khẩu. Sau thế kỷ XIX, xu hướng thương mại tự do ngày càng nổi
lên, đặc biệt ở các nước kinh tế phát triển phương Tây như Anh, Hà Lan…
Sau chiến tranh thế giới thứ II các hiệp định thương mại đa phương ra đời
nhằm điều chỉnh, và xây dựng cơ chế thương mại đa phương trên toàn cầu.
Thương mại tự do đang là xu thế phổ biến nhất trên thế giới hiện nay với
việc ký kết hàng loạt các hiệp định song phương đa phương. Bản chất của
tự do hoá thương mại là loại bỏ những rào cản đối với hàng hoá dịch vụ,
hay nói cách khác là giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước lên hoạt động
thương mại. Trên thực tế để có một định nghĩa chuẩn xác về tự do hoá
thương mại là không dễ dàng. Bởi lẽ, tự do hoá thương mại bản thân nó đã
có một nội hàm khá phức tạp với rất nhiều nội dung khác nhau, và thậm chí
có rất nhiều biến đổi theo thời gian. Chẳng hạn như trước đây khi đề cập
đến tự do hoá thương mại người ta chỉ đề cập đến mậu dịch tự do, nhưng
ngày nay khi đề cập đến tự do hoá thưong mại người ta thường đề cập đến
cả tự do hoá đầu tư và sở hữu trí tuệ…Hướng tới tự do hoá thương mại
ngày nay các hiệp định thương mại song phương, khu vực, đa phương
không chỉ quan tâm đến giảm thuế nhập khẩu mà có khi vấn đề dỡ bỏ hàng
rào phi thuế quan còn được quan tâm hơn… Hơn nữa, các nước thực hiện tự
do hoá thương mại trong điều kiện bối cảnh hoàn toàn khác nhau, xuất phát
điểm khác nhau, sự tham gia với tiến trình tự do hoá thương mại khác nhau,
nên lợi ích thu được cũng khác nhau.
Dưới đây là một số định nghĩa về tự do hoá thương mại:
Thứ nhất là định nghĩa về tự do hoá thương mại dựa trên cơ sở xác định
tính trung lập của một chế độ thương mại. Theo đó định nghĩa trên đi đến
kết luận: tự do hoá thương mại là một chế độ thương mại hoàn toàn trung
lập, trong đó những khuyến khích như nhau đối với việc bán hàng trong
thuế quan vẫn là vấn đề trọng tâm trên bàn đàm phán.
1.1.2.2. Giảm bớt, tiến tới loại bỏ hang rào phi thuế quan
Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan, các hang rào phi thuế quan từng bước
được nới lỏng, tiến tới dỡ bỏ. Các quốc gia trong quá trình bảo hộ thương mại
của mình, đã tạo dựng nên rất nhiều rào cản phi thuế quan khác nhau, như hạn
ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quản lý ngoại hối …việc nới lỏng hàng
rào phi thuế quan có thể thực hiện bằng hai cách phổ biến. Một là, chuyển từ áp
dụng các biện pháp phi thuế quan sang áp dụng thuế quan ở mức bảo hộ tương
đương. Hai là, xóa bỏ chúng mà không cần sử dụng đến thuế quan như công cụ
thay thế chúng. Do sự đa dạng và hết sức phong phú về hình thức biểu hiện,
việc tiến hành cải cách liên quan đến các hàng rào phi thuế quan là khó khăn
hơn nhưng là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của tiến trình tự do hóa
thương mại
1.1.2.3 .Đảm bảo cạnh tranh công bằng không phân biệt đối sử
Cùng với việc hạ thấp các rào cản thương mại, các quốc gia và các tổ chức
quốc tế đưa ra nhiều biện pháp nhằm giảm bớt những cạnh tranh lành mạnh đối
sử không công bằng. Chẳng hạn trợ cấp về xuất khẩu, hành động bán phá giá
hàng hóa, cấp tín dụng xuất khẩu ưu đãi, những ưu đãi dành cho các nhà cung
cấp nội địa… Trong số đó, bán phá giá hàng hóa và trợ cấp xuất khẩu là hình
thức phổ biến nhất trong chính sách thương mại của các nước nhằm thúc đẩy
xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu nông sản, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất
nước ngoài và cạnh tranh không công bằng trên thị trường quốc tế. Bởi vây,
các nỗ lực tự do hóa thương mại bao gồm việc giảm bớt và tiến tới xóa bỏ các
hành
1.1.3.Các hình thức tự do hóa thương mại
1.1.3.1. Tự do hóa thương mại đơn phương
Nhận thức được những lợi ích mà tự do hóa mang lại, nhiều quốc gia đã tự
nguyện cắt giảm hàng rào nhập khẩu đối với hàng hóa nước ngoài nhưng
không mong đợi các đối tác có hành động tương tự đáp lại, hành động đó được
gọi là tự do hóa thương mại đơn phương. Việc đơn phương loại bỏ các rào cản
do hóa thương mại đang được nhiều nước lựa chọn trong những năm cuối thập
kỷ 90 cho đến nay. Đặc trưng của tiến trình tự do hóa thương mại thông qua
hội nhập là dựa trên nguyên tắc có đi có lại giữa các thành viên và tiến trình tự
do hóa thương mại được tiến hành thông qua các cam kết trên một diện rộng
các vấn đề lien quan đến thương mại. Mục tiêu chủ yếu của các lien kết khu
vực là tạo ra một môi trường thương mại ưu
Hội nhập kinh tế khu vực có thể có nhiều mức độ khác nhau. Các mức
độ đó có thể được chia ra làm nhiều loại hay hình thức từ thấp đến cao như sau
(xem hình 11.1):
- Hiệp định thương mại/thuế quan ưu đãi: là hiệp định ưu đãi một số
nước trong việc tiếp cận một số sản phẩm nhất định thông qua việc giảm thuế
quan nhưng hoàn toàn không dỡ bỏ nó. Các hiệp định ưu đãi bao gồm cả các
hiệp định thương mại song phương đối với một số nhóm hàng hóa. Đây là hình
thức thấp nhất của hội nhập kinh tế. Hiệp định thương mại ưu đãi ASEAN
(APTA) là một ví dụ.
- Khu vực thương mại tự do (FTA): là khu vực nơi các nước thành
viên dỡ bỏ tất cả các cản trở thương mại để đảm bảo tự do hóa thương mại. Tuy
nhiên, mỗi thành viên vẫn giữ những hàng rào thương mại riêng của mình với
các nước khác không phải là thành viên. Khu vực NAFTA là một ví dụ.
- Liên minh thuế quan: tương đương với khu vực thương mại tự do,
và thêm vào đó, các nước trong liên minh thuế quan áp dụng một chính sách
thuế quan chung hay thực hiện các chính sách và quan hệ đối ngoại chung.
Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) là một ví dụ.
- Thị trường chung: là liên minh thuế quan nhưng cho phép các yếu
tố sản xuất như vốn và lao động được tự do lưu thông qua biên giới giữa các
nước thành viên. Thi trường chung Đông Phi (EACM) là một ví dụ. Thị trường
chung dần dần chuyển sang thị trường thống nhất khi các nước thành viên áp
dụng tiêu chuẩn hóa thống nhất đối với hàng hóa sản phẩm như Liên minh
châu Âu (EU) là ví dụ (Hộp 11.1).
không nên sản xuất tất cả các loại hàng hoá cho mình, mà nên sản xuất
hàng hoá mình có sở trường nhất, đem trao đổi sản phẩm đó lấy sản
phẩm cần dùng, theo cách này tổng sản lượng của các cá nhân cộng lại
sẽ tăng và phúc lợi mỗi cá nhân sẽ tăng
Thương mại tự do có thể làm cho nguồn lực của thế giới được sử
dụng một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa hoá phúc lợi của toàn thế
giới. Việc sử dụng các chính sách hạn chế thương mại tạo ra lợi ích cho
thiểu số nhưng làm tổn thất tới đa số
1.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của David Ricardo
Các quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại với hai lý do cơ bản;
mỗi lý do đều liên quan đến những cái lợi thu được từ thương mại. Cũng
như cá nhân con người, các quốc gia có thể được lợi từ những khác biệt
của họ bằng cách đạt tới một sự dàn xếp theo đó mỗi nước sẽ làm những
gì xét một cách tương đối nước đó làm tốt hơn. Thứ hai, các nước tiến
hành buôn bán với nhau để đạt được lợi thế nhờ quy mô sản xuất. Điều
đó có nghĩa là, nếu như mỗi nước đi vào chuyên môn hoá ở một số hàng
hoá, nó có thể sản xuất hàng hoá ở quy mô lớn hơn và do đó hiệu quả
lớn hơn ở trường hợp nước đó sản xuất tất cả mọi thứ. Tuy nhiên, để tiếp
cận và tìm hiểu nguyên nhân và tác động của thương mại, là cần phải
xem xét những mô hình đã được đơn giản hoá trong đó chỉ có một trong
những lý do trên được thể hiện. Và một mô hình về lợi thế so sánh dựa
trên những khác biệt trong năng xuất lao động của các nước lần đầu tiên
được nhà kinh tế hoc David Ricardo đưa ra vào thế kỷ XIX và vì thế gọi
là mô hình Ricardo.
1.2.2.1 Nền kinh tế có một yếu tố sản xuất.
Để thấy được vai trò của lợi thế so sánh trong việc quyết định
thương mại ta xét nền kinh tế có một yếu tố sản xuất(L). Đồng thời giả
định chỉ có hai hàng hoá là rượu vang và pho mát được sản xuất. Kỹ
thuật sản xuất nội địa có thể tóm tắt bằng năng suất lao động trong từng
ngành công nghiệp. Sẽ thuận tiện hơn nếu chúng ta biểu thị năng xuất
động dùng để sản xuất pho mát là
clc
QA *
. Tổng cung có giới hạn của
nền kinh tế là L. Giới hạn về sản xuất được xác định bằng bất đẳng thức:
LQAQA
w
w
lclc
≤+ **
(1)
Vậy ta thấy khi giới hạn khả năng sản xuất là một đường thẳng thì chi
phí cơ hội là không đổi(được tính bằng độ dốc của đường giới hạn khả
năng sản xuất). Chi phí cơ hội để sản xuất một kg pho mát là
lwlc
AA /
lít
rượu, thật vậy từ (1) ta có:
LxQAQA
w
w
lclc
≤−++ )(*)1(*
Tăng
c
Q
lên một đơn vị với L và năng xuất không đổi ta có:
AP /
và
lcc
AP /
. Khi đó lương trong ngành pho mát cao
hơn nếu
lwlcwc
AAPP // >
và ngược lại. Nhưng mọi người sẽ muốn làm ở
ngành nào trả lương cao hơn. Nền kinh tế sẽ chuyên môn hóa sản xuất
pho mát nếu
lwlcwc
AAPP // >
và ngược lại sẽ chuyên môn hoá sản xuất
rượu vang. Chỉ khi nào mà
lwlcwc
AAPP // =
thì cả hai mặt hàng sẽ được
sản xuất.
Vậy ta có thể kết luận: nền kinh tế sẽ chuyên môn hoá sản xuất pho
mát nếu giá tương đối của pho mát cao hơn chi phí cơ hội; và nền kinh tế
sẽ chuyên môn hoá sản xuất rượu vang nếu giá tương đối của pho mát
thấp hơn chi phí cơ hội của nó.
Khi không có thương mại quốc tế, nền kinh tế Nội địa phải sản xuất
cả hai mặt hàng trên. Mặt khác chi phí cơ hội bằng với tỷ lệ yêu cầu lao
động theo một đơn vị sản phẩm của hai mặt hàng nên ta có kết luận: Khi
không có thương mại quốc tế, giá cả tương đối các hàng hoá phải bằng
yêu cầu tương đối về lao động các đơn vị sản phẩm.
1.2.2.2 Thương mại quốc trong nền kinh tế có một yếu tố sản xuất
Giả thiết tồn tại thị trường nước ngoài cũng với một yếu tố sản xuất
lllclc
AAAA <
Năng suất lao động tương đối trong ngành pho mát của nội địa cao hơn
rượu vang hay nội địa có lợi thế so sánh trong sản xuất pho mát(ở
đây
*
/
lclc
AA
là năng xuất lao động tương đối của ngành sản xuất pho
mát)
Khi không có thương mại quốc tế, theo kết luận trên giá tương đối của
pho mát ở thị trường nội địa là
w
/
llc
AA
và thị trường nước ngoài sẽ là .
Tuy nhiên, một khi tiến hành thương mại quốc tế, giá cả sẽ thay đổi, có
sự di chuyển luồng hàng hoá từ nơi rẻ sang nơi đắt hơn. Vậy giá cả
tương đối sẽ được xác định như thế nào sau khi có thương mại ?
Cũng như những loại giá khác, giá cả của hàng hoá buôn bán trên
quốc tế được quyết định bởi cung và cầu. Vì vậy ta xây dựng đường
cung và cầu của thế giới trong điều kiện có thương mại quốc tế
Đưòng cầu tương đối(D) : Giống như đương cầu thông thường về hàng
hoá có độ dốc âm biểu thị mối quan hệ nghịch chiều giữa lượng cầu
tương đối và giá cả tương đối.
Đường cung tương đối(S): có hình dáng đặc biệt như bậc thềm, khi hiểu
được hình dáng của đường cung ta sẽ hiểu được mô hình xác định giá cả
tương đối của thế giới với hai thị trường nội địa và nước ngoài.
*
w
//
llcllc
AAAA <
. Vậy
nếu giá tương đối thấp hơn mức
w
/
llc
AA
thì các nước đều tập trung vào
sản xuất rượu vang mà không sản xuất pho mát. Khi
lwlcwc
AAPP // =
thu
nhập của công nhân trong hai ngành sản xuất là ngang nhau nên ở mức
giá tương đối đó nội địa sẵn sàng cung cấp bất kỳ lượng tương đối nào
Giá tương đối
sản lượng rượu vang/sản
lượng pho mát
w
/
llc
AA
*
w
*
/
llc
*
/
l
AL
)
Ở mức giá
*
w
*
//
lLCwc
AAPP >
nước ngoài sẵn sàng cung cấp bất kỳ
lượng tương đối nào cả hai loại hàng hoá, do vậy ta có một phần nằm
ngang tiếp theo của đường cung.
Giá tương đối và lượng tương đối cân bằng được xác định là điểm
giao nhau của hai đường D và S.
1.2.2.3. Lợi ích thu được từ thương mại quốc tế
Nếu không có thương mại quốc tế nội địa phải sản xuất rượu vang trực
tiếp, nhưng buôn bán với nước ngoài cho phép nội địa sản xuất rượu
vang thông qua việc sản xuất pho mát và sau đó đổi pho mát lấy rượu
vang. Và cách sản xuất gián tiếp này thì hiệu quả hơn. Nội địa có thể
dùng một giờ công lao động để sản xuất ra 1/
wl
A
lít rượu vang. Hay
dùng một giờ đó để sản xuất ra 1/
lc
A
kg pho mat đem đổi lấy rượu vang
đơn vị hàng hóa.
Như vậy Nội địa sẽ có lợi hơn khi chỉ chuyên môn hóa vào sản xuât
pho mát rồi đem đổi rượu vang lấy pho mát thay vì tự sản xuất rượu
vang. Điều ngược lại với nước ngoài là chỉ chuyên môn hoá sản xuất
rượu vang.
Như vậy, theo Ricardo thì thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho cả
hai bên tham gia
1.2.3. Mô hình H-O-S
Nếu lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, như mô hình Ricardo giả
thiết, và lợi thế so sánh có thể tồn tại chỉ vì sự khác biệt quốc tế về năng
xuất lao động. Tuy nhiên, trong thế giới thực thương mại quốc tế phần
nào phản ánh sự khác biệt về nguồn lực giữa các nước. Một cách nhìn
hiện thực về thương mại quốc tế phải tính đến tầm quan trọng không chỉ
của lao động mà cả của các yếu tố sản xuất khác như đất đai vốn tài
nguyên khoáng sản.
Khẳng định thương mại quốc tế được đẩy mạnh phần lớn là do khác
biệt về nguồn lực giữa các nước là một trong những luận thuyết có ảnh
hưởng nhất của kinh tế học quốc tế. Lý thuyết do hai nhà kinh tế học
Thụy điển Eli Hecks và Bertil Ohlin do đó nó thường được gọi là lý
thuyết Heckscher-Ohlin. Và lý thuyết này tiếp tục được phát triển bởi
Samuelson
Những giả thiết của mô hình :
- Có hai quốc gia như ta gọi ở mô hình Ricardo là nội địa và nước
ngoài, với hai nhân tố sản xuất là lao động(L) và vốn (K), và hai loại
hàng hóa X và Y
- Sử dụng kỹ thuật như nhau trong sản xuất. Giả thiết này nhằm thoả
mãn cách giải thích rằng nếu giá cả các nhân tố là như nhau, người sản
xuất trong cả hai quốc gia có thể sử dụng lượng vốn và lao động như
nhau trong việc sản xuất mỗi hàng hoá. Nhưng giá cả nhân tố khác nhau
có thương mại
- Không có chi phí vận tải, thuế quan và các trở ngại thương mại khác.
Giả thiết này tạo cho quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất diễn ra
đến khi giá cả tương đối của hàng hoá là cân bằng nhau giữa hai quốc
gia khi có thương mại. Nếu có chi phí vận tải hay các trở ngại thương
mại, chuyên môn hóa sẽ diễn ra đến khi giá cả tương đối giữa hai quốc
gia chênh lệch bằng phần chênh lệch do chi phí vận tải và thương mại
tạo nên.
- Các nguồn lực được sử dụng đầy đủ trong hai quốc gia
- Thuơng mại quốc tế giữa hai quốc gia là cân bằng
Từ những giả thiết trên thì mô hình H-O được xây dựng
1.2.3.1. Xây dựng mô hình
Xem xét hai nền kinh tế Nội địa và nước ngoài, cũng với hai loại
hàng hoá là pho mát và rượu vang như đã xét ở mô hình Ricardo, có hai
nhân tố sản xuất là lao động(L) và vốn(T). Giả sử ở nội địa pho mát cần
nhiều lao động hơn rượu vang điều đó có nghĩa nó đòi hói tập trung sản
xuất nhiều lao động hơn, tỷ lệ lao động trên vốn cao hơn so với rượu
vang.
Ta quy định các ký hiệu như sau:
lc
A
là số giờ lao động để sản xuất ra môt kg pho mát
kc
A
là số đơn vị vốn cần thiết để sản xuất ra một kg pho mat
wl
A
Và nền kinh tế cũng sử dung
kc
A
Qc +
wk
A
Qw đơn vị vốn và lượng vốn
này không vượt quá tổng sô vốn cung ứng K. Khi đó ta có
lc
A
Qc +
wl
A
Qw
≤
L
kc
A
Qc +
wk
A
Qw
≤
K
Như vậy ta có đường ràng buộc về lao động và vốn như sau:
Hình vẽ minh họa 3: Đường giới hạn khả năng sản xuất
Đường tô đậm cho biết hai đường ràng buộc kết hợp lại quyết định khả
năng sản xuất của nền kinh tế như thế nào. Nếu nền kinh tế sản xuất một
w +
kc
A
r (a)
Pw =
wl
A
w +
wk
A
r (b)
Hình vẽ minh họa 4 : xác định giá cả của các yếu tố
Nền kinh tế chỉ sản xuất cả hai mặt hàng khi giá của chúng bằng với
chi phí sản xuất trong cả hai ngành. Điểm cắt nhau giữa hai đường (a) và
(b) cho phép xác định giá cả của các yếu tố. Vậy khi biết giá cả của các
hàng hóa ta sẽ xác định được giá cả của các yếu tố. Khi giá hàng hoá
thay đổi thì giá của các yếu tố cũng sẽ thay đổi. Việc giá các yếu tố thay
đổi thì lại có tác động đến phân phối thu nhập.
Việc lên giá của Pho mát dẫn đến sự giảm giá của vốn và tăng giá lao
động. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người sở hữu
vốn cũng như người sở hữu lao động
r
w
Pc/
Pw/
Pc/ Pw/
a
b
Tác động của thương mại quốc tế giữa hai nền kinh tế có hai yếu tố
sản xuất
các mức giá tương đối của chúng sẽ hội tụ lại, mức giá tương đối của
pho mát ở nội địa sẽ tăng, ở nước ngoài sẽ giảm, và hội tụ tại điểm số 2.
Từ những phân tích trên ta có thể có một kết luận khái quát: các nước
có thiên hướng xuất khẩu hàng hoá cần nhiều yếu tố mà nước họ dồi
dào.
Thương mại và sự phân phối thu nhập
Thương mại dẫn đến sự hội tụ các giá tương đối. Sự thay đổi giá tương
đối lại tác động mạnh đến thu nhập tương đối của lao động và vốn(như
đã phân tích ở trên). Ở nội địa, nơi mà mức giá tương đối của pho mát
tăng lên, những người có thu nhập từ lao động sẽ được lợi từ thương
mại, những ai có thu nhập từ vốn sẽ bị thiệt hại. Điều này xảy ra ngược
lại với nước ngoài.
Vậy ta có kết luận chung về tác động thương mại đến phân phối thu
nhập là: những người sở hữu các yếu tố dồi dào của một nước được lợi
*
RS
RS
lượng tương đối của pho mát
1
3
2
từ thương mại, nhưng người sở hữu các yếu tố khan hiếm bị thiệt hại bởi
thương mại.
Cân bằng hóa giá cả nhân tố
Samuelson đã chứng minh một cách chặt chẽ định lý cân bằng hóa giá
cả nhân tố
Thứ nhất, nội dung định lý phát biểu: Thương mại quốc tế sẽ làm cân
bằng hóa các thu nhập tuyệt đối và tương đối của các nhân tố sản xuất
đồng nhất giữa các quốc gia.
T
i
=
(1)
Trong đó
ij
T
là kim ngạch thương mại song phương từ quốc gia i tới
các đối tác thương mại của nó là quốc gia j, A là một hằng số về tỷ lệ
nhất định,
i
Y
và
j
Y
là quy mô của nền kinh tế hai quốc gia.
i
Y
và
j
Y
thông thường là tổng thu nhập quốc dân( GDP).
ij
D
là khoảng cách giữa
hai quốc gia. Từ phương trình trên có thể thấy rằng thương mại song
phương giữa hai quốc gia có mối liên hệ cùng chiều với tổng thu nhập và
ngược chiều với khoảng cách giữa hai nước. Khoảng cách giữa hai nước
đại diện cho một trong những rào cản thương mại
số được đưa vào để giải thích các dòng thương mại song phương. Các
biến số cơ bản như ta thấy đó là thu nhập của các quốc gia, khoảng cách.
Ngoài ra còn có các biến khác bao gồm dân số, diện tích đất đai, hạ tầng
kinh tế, tỷ giá hối đoái. Đáng chú ý là hàng loạt các biến số giả định
cũng thường xuyên được sử dụng để giải thích các nhân tố riêng biệt có
thể cản trở hoặc giúp cho các dòng thương mại song phương biên giới
chung, ngôn ngữ, lịch sử thuộc địa và các hiệp định thương mại( thành
viên của các khu vực thương mại ưu đãi), các nhân tố riêng có của từng
quốc gia như các đặc điểm về thể chế chính trị.
1.2.4.2. Mô hình Gravity được xây dựng trên cơ sở lý thuyết mô hình H-
S-O
Phương trình của mô hình trọng lực có thể biến đổi từ nhiều lý thuyết
thương mại khác nhau, Deardoff(1995) đã bổ sung một số điều chỉnh
dựa trên mô hình H-O-S về thương mại với việc có hoặc không các trở
ngại về thương mại( Tự do hóa thương mại hoàn toàn).
Quay trở lại với các giả thiết của mô hình H-O-S ở phần trên mà ta đã
xem xét. Mô hình giả thiết không có cản trở thương mại giữa các quốc
gia, tức là không có chi phí vận tải, thuế quan và các trở ngại thương mại
khác.... Giả thiết này tạo cho quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất
diễn ra đến khi giá cả tương đối của hàng hoá là cân bằng nhau giữa hai
quốc gia khi có thương mại. Nếu có chi phí vận tải hay các trở ngại
thương mại, chuyên môn hóa sẽ diễn ra đến khi giá cả tương đối giữa hai
quốc gia chênh lệch bằng phần chênh lệch do chi phí vận tải và thương
mại tạo nên. Trong cách tiếp cận của mình Deardoff đã xây dựng mô
hình Gravity dựa trên mô hình H-O-S từ hai trường hợp của thương mại
là có cản trở và không có cản trở thương mại.
Trường hợp không có cản trở thương mại
Ta lại trở lại với những giả thiết của mô hình H-O-S, giả thiết nói rằng
giả sử hai đối tác thương mại có cùng sở thích, thị hiếu, hay có cùng
đường bàng quang xã hội. Tức là với mức giá tương đối như nhau thì
lượng tiêu dùng hàng hóa k của nước j là:
kjkjk
pYc /
β
=
Ta lại có tỷ lệ đóng góp hàng hóa k của nước i trong tổng lượng hàng
hóa k của thế giới sẽ là:
hk
h
ikik
xx ∑= /
γ
,
h
là số nước tham gia thương
mại trong hệ thống thương mại quốc tế, lượng hàng hóa k mà nước j
mua từ nước i là
kjkikijk
pYc /
βγ
=
. Sản phẩm đầu ra hàng hóa k của thế
giới sẽ là
ik
i
xx ∑=
w
k
. Vậy ta có
ww
k k
k
ik
kikijkk
k
i
∑∑ ∑
====∑=
βγ
(1)
Như vậy, khi không có cản trở thương mại và có sở thích là đồng nhất
giữa các quốc thì mô hình Gravity giải thích các dòng thương mại trở
nên đơn giản hơn so với mô hình cơ bản với hằng số
w
/1 YA =
. Và
khoảng cách( hay những yếu tố cản trở thương mại) không đóng vai trò
giải thích các dòng thương mại.
Khi sở thích là không đồng nhất: Thì tỷ lệ tiêu dùng hàng hóa k trong tổng thu
nhập là không giống nhau giữa các nước.
Gọi
ik
β
là tỷ lệ tiêu dùng vào hàng hóa k trong thu nhập của nước i trong điều
kiện có cân bằng thương mại, và gọi
ik
α
là tỷ lệ trong thu nhập của nước i thu
được từ việc sản xuất hàng hóa k
Khi đó ta có giá trị sản phẩm đầu ra của hàng hóa k của thế giới là:
jk
h
hhk
iik
ijk
β
α
α
∑
=
Tổng giá trị hàng hóa mà nước i bán cho nước j:
∑ ∑ ∑
∑
===
k k k
kk
jkik
jijjk
h
hhk
iik
ijkij
xp
YYY
Y
Y
TT
w
βα
1=
∑
k
ik
α
và
1=
∑
k
ik
β
. Trong trường hợp ta có:
kik
λα
=
hoặc
kik
λβ
=
, khi đó (2) trở thành phương trình của mô hình Gravity
hay đây là trường hợp có sở thích đồng nhất.
Đặt
k
kik
ik
λ
λα
α
−
=
+−−
k k
k
k
jk
k
ik
k
jkik
αβα
λ
βα
1−=
∑
k
k
jkik
λ
βα
Vậy ta có (2) được biến đổi là:
+=
∑
k
1.3. Kết luận về vai trò của tự do hóa thương mại với một nền kinh tế và
với các nước đang phát triển
Từ những học thuyết thương mại trên có thể kết luận rằng: thương mại quốc
tế đem lại lợi ích cho các bên tham gia. Vì vậy mở cửa kinh tế, tự do hóa
thương mại sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế được coi như một nhân
tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.
Bắt đầu từ quan điểm của Adam Smith, ông cho rằng thương mại quốc tế sẽ
giúp cho nâng cao năng suất lao động bằng việc mở rộng quy mô thị trường,
bằng việc đạt hiệu xuất theo quy mô. Về cơ bản, Smith cho rằng lợi ích quan
trọng nhất của việc mở cửa thị trường là có thể phân công hóa lao động tốt hơn
và khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa mở cửa kinh tế đối với sự giàu có của
một quốc gia
David Ricardo cho rằng “ Thương mại giữa hai nước mang lại lợi ích cho cả
hai bên, nếu một nước xuất khẩu hàng hóa thì trong trường hợp đó họ có được
lợi thế so sánh”. Như vậy, theo ông vai trò quan trọng của thương mại khi mà
mỗi quốc gia có thể đạt được hiệu quả cao hơn nếu tiến hành chuyên môn hóa
những hàng hóa mà mình có lợi thế so sánh. Do đó, mở cửa thương mại trở
thàng một nhân tố quan trọng để các quốc gia có thể chuyên môn hóa sản xuất
những loại hàng hóa mà mình có lợi thế so sánh để trao đổi với các quốc gia
khác. Một số học giả khác còn cho rằng quá trình mở cửa kinh tế sẽ giúp cho
các quốc gia có thể tiếp cận các nguồn lực với chi phí thấp. Bên cạnh đó, việc
mở rộng hoạt động xuất khẩu có thể giúp cho việc tiếp cận với các nguồn vốn
và công nghệ từ nước ngoài một cách dễ dàng. Chính vì lẽ đó, quá trình mở cửa
thương mại, tăng cường xuất khẩu có thể đem lại mức tăng trưởng kinh tế cao
hơn và tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn cho các quốc gia.
Tiếp tục khẳng định lợi ích quan trọng của mở cửa thương mại, trong mô
hình (H-O-S), đã đề cập đến hai yếu tố sản xuất giữa hai quốc gia, và phân tích
dựa trên quan điểm lợi thế cạnh tranh. Mô hình H-O-S cho rằng những nước có
lợi thế về vốn có xu hướng tập trung những hàng hóa cần nhiều vốn, và xuất
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì tự do hóa thương mại có
mối quan hệ như nào với xuất khẩu và tăng trưởng ? Vấn đề này sẽ được
nghiên cứu trong chương II
CHƯƠNG II
TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI XUẤT
KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
2.1. Thực tiễn của tự do hóa thương mại trong những năm vừa qua
2.1.1. Những cải cách trong chính sách thương mại của Việt Nam theo hướng
tự do hóa
2.1.1.1. Đổi mới chính sách thị trường theo hướng đa phương hóa đa dạng
hóa
Với chủ trương đa phương hóa đa dạng hóa kinh tế đối ngoại. Trong
những năm vừa qua Việt Nam đã chủ động tích cực tham gia đàm
phán, ký kết, triển khai các hiệp định song phương và đa phuơng
nhằm mở đường cho các doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường khu
vực và thế giới. Tự do hóa thương mại gắn liền với tiến trình hội