GIÁO ÁN MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức : Giúp học sinh:
- Hiểu được quan niệm của Hoài Thanh về “tinh thần thơ mới” trong ý nghĩa
văn chương và xã hội.
- Thấy rõ nghệ thuật nghị luận văn chương khoa học, chặt chẽ, thấu đáo và
cách diễn đạt tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc của tác giả.
2. Kĩ năng : Giúp học sinh:
Có kĩ năng đọc hiểu một bài nghị luận văn chương.
3. Tư tưởng : Giúp học sinh:
Có thái độ nâng niu, trân trọng những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc.
II. CHUẨN BỊ
1. Chuẩn bị của giáo viên :
Những kiến thức cơ bản trong SGK và SGV.
2. Chuẩn bị của Trò :
Đọc trước bài Một thời đại trong thi ca, soạn bài, SGK.
III. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN GIẢNG DẠY
- Phương pháp : Phát vấn, thảo luận nhóm, tạo tình huống có vấn đề, thuyết
trình.
- Phương tiện : Giáo án, SGK, SGV Thi nhân Việt Nam, Máy chiếu.
IV. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY :
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài
3. Lời vào bài : Hoài Thanh là nhà phê bình văn học xuất sắc đầu thế kỷ XX.
Suốt cuộc
đời lao động say mê và nghiêm túc, ông đã cống hiến cho nền văn học VN
nhiều tác phẩm phê bình, nhiều công trình nghiên cứu văn học có giá trị. Một
thời đại trong thi ca của ông là tác phẩm tiêu biểu.
4. Nội dung bài dạy
- Văn nghiệp:
- Hoài Thanh bước vào nghiệp văn từ
rất sớm. Từ viết báo, sau viết văn
(Chủ yếu là các bài tranh luận về
GV: Giới thiệu về văn nghiệp của
Hoài Thanh?
HS: Dựa vào sách giáo khoa trình
bày
GV: Em hãy nêu một số tác phẩm
chính trước và sau cách mạng của
Hoài Thanh
HS: Trả lời, GV nhận xét và bổ sung
quan điểm nghệ thuật cùng với một
số văn nghệ sĩ khác), Hoài Thanh dần
đi sâu vào con đường nghiên cứu, phê
bình văn học. Ông đặc biệt chú ý đến
những tác phẩm văn học có giá trị và
những hiện tượng, những hệ quan
điểm, những xu hướng văn học nổi
bật của văn học đương thời.
Ông say mê theo dõi phong trào Thơ
mới khởi lên từ năm 1932, đến năm
1941 thì cùng Hoài Chân (người em
trai) xuất bản tập Thi nhân Việt Nam
nổi tiếng.
- Tác phẩm chính trước cách mạng:
giáo điều, máy móc, nhưng dù sao
cũng có thể xem là tiêu biểu cho ý
thức văn học một thời.
- Tác phẩm chính sau cách mạng:
. Có một nền văn hóa VN (1946)
. Quyền sống của con người trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949)
. Nói chuyện thơ kháng chiến (1951)
. Tuyển tập Hoài Thanh (Tập I 1982; Tập II - 1983).
- Phong cách phê bình của Hoài
Thanh:
- Nhắc tới Hoài Thanh, người ta nghĩ
ngay đến một nhà phê bình văn học
tài năng và có uy tín, có vị trí vững
chắc trong nền văn học hiện đại.
- Sở trường của Hoài Thanh là phê
bình thơ. Ông có khả năng thẩm thơ
chính xác, tinh tế, chắc chắn và hầu
như chỉ bình chứ không phê. Hoài
Thanh thường bình một cách ngắn
gọn mà nói trúng được cái thần độc
đáo, cái đặc sắc căn bản của mỗi hồn
thơ, mỗi câu thơ.
GV: Cho biết xuất xứ của tác phẩm?
GV: Theo em, bài phê bình này đã
Hoài Thanh có tài phân biệt được
những câu thơ, bài thơ hay nằm lẫn
giữa hàng trăm vần điệu tầm
nhàng, giọng điệu nhỏ nhẹ, dịu dàng,
nhận xét tinh tế, tài hoa và thường
thấp thoáng một nụ cười hóm hỉnh rất
có duyên
2/ Tác phẩm:
a/ Xuất xứ
- Bài viết Một thời đại trong thi ca
nằm trong tập Thi nhân Việt Nam
(1941 1944).
b/ Giá trị nội dung:
- Bài viết này tổng kết 10 năm phong
trào Thơ mới lãng mạn VN, bắt đầu
từ lúc ra đời vào năm 1932 cho đến
năm 1941.
- Dù tổng kết vắn tắt, chưa phải hoàn
toàn đầy đủ, trọn vẹn, triệt để nhưng
bài viết đã tạo được cái nhìn tổng
quát cho độc giả về diễn biến của một
phong trào thơ ca đặc biệt, độc
đáo trong nền văn học VN đầu thế kỷ
XX. Đánh giá thành tựu của nó trong
cuộc cách tân hiện đại
hóa thơ VN. Quan trọng, nó đã giúp
cho người đọc nhìn nhận đúng đắn về
một phong trào thơ của những nhà
thơ mong muốn làm một cuộc cách
tân thơ theo hướng hiện đại hóa, thoát
khỏi những ràng buộc của lối thơ cũ.
Hoạt động 2: Tìm hiểu văn bản
3. Đoạn trích:
a/ Vị trí của đoạn trích:
- Đoạn trích là đoạn cuối của bài tiểu
GV: Luận đề được nêu ra nghị luận ở luận Một thời đại trong thi ca. Tác giả
đây là gì ? Nhận xét về cách thức đặt bàn đến
vấn đề của người viết ?
cái căn bản làm nên thơ mới:tinh thần
thơ mới và nêu dự cảm về sự bế tắc
tất yếu của thơ mới.
như thế nào đối với việc xác định thơ
mới?
+ Phần 1: Từ đầu đến ---các thời đại
vẫn liên tiếp cùng nhau và muốn rõ
đặc sắc thời phải nhìn vào cái đại thể:
Đặt vấn đề nghị luận: Tinh thầnthơ
mới.
+ Phần 2: Tiếp đến Ta ngơ ngẩn buồn
hồn ta cùng Hoài Chân: Thế nào là
tinh thần thơ mới.
+ Phần 3: Còn lại: Dự cảm về số
phận bi kịch của tinh thần thơ mới.
II.ĐỌC HIỂU:
1. Đặt vấn đề
GV: Tóm lại nhận xét như thế nào về
khi không rành mạch.
hình thức thơ mới và cũ có chỗ
giao tranh...
Nó là tiêu chí quan trọng, thì dĩ nhiên
để xác định được nó không phải là
điều dễ dàng.
- Ngay từ phần đặt vấn đề nhà
nghiên cứu phê bình Hoài Thanh đã
vừa giới thiệu được luận đề, vùa đề
xuất được phương pháp và biện pháp
lôgíc, khoa học để khám phá một vấn
đề văn học có tính phức tạp mới mẻ.
Đó cũng là điều tác giả định hướng
cho ngòi bút của mình ở những
phần sau.
- Theo lôgic lập luận, tác giả tập
trung lí giải tinh thần thơ mới.
2. Giải quyết vấn đề: Bản chất tinh
thần thơ mới
GV: Nhận xét gì về câu văn, giọng
văn của Hoài Thanh khi nêu lên
những khó khăn ?
HS: Nhận xét về giọng văn của Hoài
Thanh khi nêu lên những khó khăn.
- Rất khó để cắt nghĩa, luận giải về
tinh thần thơ mới. Bởi lẽ có những
Người giai nhân: bến đợi dưới cây
già;
Tình du khách: thuyền qua không
buộc chặt.
+ Còn, đại diện của những nhà thơ cũ
lại có câu thật nhí nhảnh là lơi, tình
biết bao!
Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ ?
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ ?
Hoài Thanh nêu lên khó khăn mà
viết dưới dạng những câu giả định:
Giá các nhà thơ mới cứ viết những
câu như hai câu vừa trích trên này thì
tiện cho ta biết mấy. Giá trong thơ cũ
chỉ có những trần ngôn sáo ngữ...Xen
với những từ cảm thán Khốn nỗi ,
biết mấy.
=> Ta thấy Hoài Thanh viết mà như
tâm sự gần gũi, giọng thật tha thiết và
bức xúc mà chân thành về cái khó mà
cũng là cái khao khát của kẻ yêu văn
quyết tìm cho được tinh thần thơ mới
- So sánh bài hay với bài hay mới có
thể hiểu cho đúng và đủ về tinh thần
thơ mới. Không căn cứ vào cái dở. Vì
cái dở chanửg tiêu biểu cho cái gì hết.
Và phải nhìn vào đại thể, đồng loại,
so sánh thời đại cùng thời đại, không
+ Tinh thần của thơ xưa là gồm ở chữ
Ta.
+ Tinh thần của thơ mới là gồm ở chữ
Tôi.
=> Chữ tôi gắn liền với cái riêng, cá
nhân, cá thể. Cái ta gắn liền với cái
chung, cái đoàn thể, cộng đồng.
Nghĩa là thơ cũ là tiếng nói của cái ta,
thơ mới là tiếng nói của cá nhân.
=> Cách diễn đạt, nêu ý kiến ngắn
gọn, dứt khoát, chứng tỏ sự tự tin
trong khám phá và kết luận khoa
học.
+ Về thời điểm: Chữ tôi xuất hiện
trong lịch sử thơ văn VN từ khi nào :
diễn đạt nào?
không ai biết đích xác vào ngày nào.
Chỉ biết rằng ban đầu tâm thế xuất
hiện của nó thật bỡ ngỡ ngỡ, lạc loài
nơi đất khách.
. Vì quá mới mẻ, vì nó thể hiện một
quan niệm chưa từng thấy ở xứ này:
quan niệm cá nhân.
. Vì xã hội việt Nam xưa nay chỉ co
cái đoàn thể... cái cá nhân chỉ là giọt
nuớc trong bể cả. . Xưa nay cái tôi
vẫn đắm chìm trong cái chung (gia
- Ý 2: Khái quát những biểu hiện
chung riêng, gần nhau và khác nhau
của cái tôi. ...trong
thơ mới bằng một lối văn giàu hình
ảnh và nhịp điệu, khiến văn phê bình
mà chanửg khác gì thơ.
Điểm chung của chữ Tôi:
Cái riêng: Mỗi nhà thơ một khác ...
- Nguyên nhân: Mất bề rộng.
- Thế Lữ: lên tiên - động tiên đã
khép.
- Con đường vượt thoát: Tim bề sâu.
Tuy nhiên xét đến cùng phân tích về
lịch sử xuất hiện chữ tôi... tác giả đi
đến khẳng
định điều gì ?
Luận cứ 2: Chữ tôi của thời đại thơ
mới? Theo Hoài Thanh chữ tôi ấy của
thời bây giờ ở thi đàn VN như thế
nào ?
- Ý 1: Về vị trí và đặc điểm của chữ
Tôi trên thi đàn thơ Mới?. Làm sáng
tỏ điều này tác giả đưa ra luận chứng
nào ?
Em có ấn tượng gì về hình thức ngôn
- LTLư: phiêu lưu trong trường tình nhưng
t/y không bền.
_ Kết quả càng đi sâu càng lạnh, bế
bỏ như cô phụ
thấy ndung nào nữa trong chữ tôi của bên bến Tầm Dương mà vẫn còn có
thời đại này ?
bến bờ nương tựa...
Niềm tin ấy, hi vọng ấy, tình yêu ấy
được diễn đạt bằng những câu văn
nào ?
GV: Qua những phân tích ở trên, em
trình bày nội dung và nghệ thật của
đoạn trích
Khẳng định một phương diện tình
cảm biểu hiện trong Thơ mới: tình
cản dân tộc
sâu kin và niềm khát khao cái Đẹp.
Đồng thời, dự cảm về sự bế tắc tất
yếu của phong trào Thơ
mới.
Chính những bế tắc trong cuộc sống,
trong tâm hồn đã đẩy họ vào tình
trạng bi kịch.
Vũ Hoàng Chương đau đớn "Lũ
chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ", Chế
Lan Viên cũng thất vọng vô cùng:
"Với tôi tất cả như vô nghĩa
- Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau",
Xuân Diệu thì bức bối, ngột ngạt
"Tôi là con nai bị chiều đánh lưới -
Đây là biểu hiện đầy trong trẻo
của tình yêu quê hương, đất nước,
dân tộc. Và "những cái bất diệt" của
truyền thống ấy phải chăng chính là
cái cớ để họ vin vào mà bảo đảm cho
ngày mai?
- Một loạt những câu khẳng định
mạnh mẽ, chưa bao giơ...
III. Kết luận:
- Nội dung: Đoạn văn đã định nghĩa
lại một cách đúng đắn tinh thần thơ
mới. Đoạn văn trở thành một chỉ dẫn