ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ TRONG QUÁ TRÌNH THựC HIỆN CỔ pHầN HóA, ĐỔI MớI VÀ THựC HIỆN ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU CÁC DNNN - Pdf 34

ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA, ĐỔI MỚI VÀ THỰC HIỆN
ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU CÁC DNNN
Bộ Xây Dựng

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA CÁC DNNN
THUỘC BỘ XÂY DỰNG TRƯỚC NĂM 2011 - MỘT SỐ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM
Ngay từ năm 1997, Bộ Xây dựng đã quan tâm đến công tác sắp
xếp, đổi mới DNNN với việc thực hiện thí điểm cổ phần hóa theo Quyết
định số 202/CT ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Thủ tướng Chính phủ) tại một số đơn vị. Mặc dù vậy, trong suốt 3
năm từ 1997 đến hết năm 2000, Bộ Xây dựng cũng chỉ cổ phần hóa
được 19 doanh nghiệp và bộ phận DNNN có quy mô nhỏ, hoạt động
chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng và cơ khí
xây dựng.
Sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 9 - Khóa IX của Đảng về sắp xếp, đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN; căn cứ vào Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện các Nghị quyết trên (Quyết định
số 183/2001/QĐ-TTg ngày 20/11/2001 và Quyết định số 51/2004/QĐTTg ngày 31/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ), công tác sắp xếp, đổi
mới DNNN của Bộ Xây dựng có nhiều chuyển biến và rõ nét nhất vào
những năm 2003 - 2006. Được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường
xuyên và lâu dài, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo các Tổng công ty, Công ty
trực thuộc căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu sắp xếp, đổi mới DNNN ở từng
thời kỳ, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đơn vị để tiến hành rà soát, lập
485


phương án sắp xếp, đổi mới DNNN thuộc phạm vi quản lý của mình,
báo cáo Bộ để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện qua nhiều



Lao động tại các DN cổ phần hóa cũng được sắp xếp lại để thích
ứng với nhu cầu sản xuất kinh doanh. Qua cổ phần hóa đã có 188.790
lao động được sắp xếp lại, trong đó có 30.968 lao động không có nhu
cầu sử dụng được hỗ trợ kinh phí với tổng số tiền là 818,656 tỷ đồng,
trong đó kinh phí đề nghị Nhà nước cấp là 758,819 tỷ đồng và khả năng
thanh toán từ Quỹ mất việc làm của doanh nghiệp là 59,836 tỷ đồng.
Các công ty cổ phần hóa đã chủ động huy động được nhiều vốn
ngoài xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ thiết bị,
nâng cao trình độ cho người lao động. Theo báo cáo của Công ty cổ
phần đến năm 2010 cho thấy, vốn ngoài xã hội (trừ phần vốn nhà nước)
được huy động vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là 10.298,47
tỷ đồng (chưa tính đến phần thặng dư vốn khi phát hành thêm cổ phiếu
và bán bớt phần vốn nhà nước). Việc huy động vốn của các Công ty cổ
phần thông qua tăng vốn điều lệ phát hành thêm cổ phiếu và thông qua
việc bán bớt phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã dẫn đến thay đổi
cơ cấu vốn đầu tư của các Tổng công ty. Theo báo cáo của các Công ty
cổ phần cho thấy tại thời điểm phê duyệt phương án cổ phần hóa : Tỷ
lệ DN Nhà nước giữ chi phối là 71,62%, không chi phối là 27,36% và
không nắm giữ 1%. Đến năm 2010, tỷ lệ DN Nhà nước giữ chi phối
giảm xuống còn 51,03%, tỷ lệ DN Nhà nước không chi phối tăng lên
và là 38,27% và tỷ lệ DN Nhà nước không nắm giữ tăng lên chiếm
10,68%.
Trên cơ sở xác định rõ chủ sở hữu, công tác quản trị doanh nghiệp
đã được đổi mới để đáp ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp theo
mô hình mới, nhất là đối với các Công ty cổ phần đã niêm yết, công tác
quản lý tài chính đòi hỏi phải được đổi mới để đáp ứng nhu cầu về tính
minh bạch của tình hình tài chính doanh nghiệp đối với các cổ đông và
các cơ quan quản lý nhà nước.

hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp, đánh giá tình hình quán triệt, triển khai
thực hiện Nghị quyết. Theo đó, nhiều công việc được thực hiện như Bộ
đã tổ chức xây dựng chương trình hành động, trong đó nêu nội dung
công việc cụ thể, chi tiết về tiến độ và phân công trách nhiệm cho từng
đơn vị thực hiện; tổ chức xây dựng Đề án tổng thể sắp xếp DNNN của
Bộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua nhiều giai đoạn; xây dựng
và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật dưới hình
488


thức các Chỉ thị, Quyết định, Công văn hướng dẫn; tổ chức đối thoại
trực tiếp giữa Bộ với Lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp dưới hình
thức các cuộc họp chuyên đề để nhằm cụ thể hóa các nội dung của Nghị
quyết cho phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, phát hiện và
tìm giải pháp xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình thực hiện,
đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến để các đơn
vị cùng học tập.
Tại các Tổng công ty và Công ty trực thuộc Bộ, việc tổ chức quán
triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động của
Chính phủ, của Bộ cũng được thực hiện nghiêm túc với nhiều hình thức
linh hoạt như ban hành Nghị quyết, Chương trình hành động của Tổng
công ty; tổ chức các buổi tập huấn cho Đảng viên, CBCNV trong các
đơn vị thành viên nghiên cứu, quán triệt, học tập; đồng thời phân công
Đảng ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện của các đơn
vị cấp dưới.
Với việc tổ chức thực hiện như trên, đã tạo được sự chuyển biến
tích cực trong nhận thức của Lãnh đạo, CBCNV trong các doanh nghiệp
và vì vậy, Nghị quyết của Đảng về sắp xếp, đổi mới DNNN đã dần đi
vào cuộc sống và thực sự là chủ trương đúng đắn, đem lại hiệu quả thiết
thực không chỉ cho doanh nghiệp mà còn góp phần thực hiện nhiệm vụ

kiện cho cơ quan quản lý nhà nước tập trung hơn vào chức năng quản
lý nhà nước, dần tách bạch rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước
và chức năng quản lý của chủ sở hữu vốn nhà nước của Bộ.
Về phương thức cổ phần hóa: Qua nhiều năm cổ phần hóa DNNN
của Bộ Xây dựng cho thấy, cổ phần hóa chủ yếu thực hiện theo các
phương thức: cổ phần hóa bộ phận DN, cổ phần hóa doanh nghiệp
thành viên và cổ phần hóa Công ty mẹ - Tổng công ty. Việc cổ phần
hóa theo các phương thức như trên đã tạo sự bất cập trong quản lý, điều
hành của Công ty mẹ - Tổng công ty đối với các đơn vị thành viên khi
triển khai các dự án quy mô lớn; đồng thời hạn chế việc thu hút cổ đông
chiến lược tham gia, nhất là cổ đông chiến lược nước ngoài; đặc biệt,
đối với các DNNN quy mô nhỏ, nhiều đơn vị không có cổ đông chiến
lược, do đó không khai thác huy động được thế mạnh của cổ đông chiến
lược vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế hiệu quả
kinh doanh.
490


Các cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần chưa thực sự phát huy
vai trò làm chủ của mình. Cổ đông thiểu số như người lao động còn có
tư tưởng “làm công, ăn lương” là chính; còn cổ đông thiểu số bên ngoài
chỉ quan tâm đến cổ tức và giá cả cổ phiếu trên thị trường. Vì vậy, chưa
phát huy được tác động tích cực của những nhân tố mới đối với hoạt
động quản trị doanh nghiệp.
Nhà nước mặc dù có chính sách bán cổ phần ưu đãi cho Công đoàn
trong DN cổ phần hóa, nhưng do Công đoàn doanh nghiệp không có
Quỹ hợp pháp nên chính sách này hầu hết không thực hiện được đối với
các DNNN của Bộ Xây dựng khi cổ phần hóa, vì vậy vai trò của Công
đoàn tham gia quản lý doanh nghiệp rất hạn chế.
II. KẾT QUẢ CỔ PHẦN HÓA, TÁI CƠ CẤU DOANH

hoàn thành những công việc chủ yếu như sau :
2. Kết quả cổ phần hóa, tái cơ cấu DNNN
2.1. Kết quả cổ phần hóa
Tháng 10/2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1428/QĐTTg về việc kết thúc thí điểm Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn Phát triển
nhà và đô thị, theo đó đã chuyển 07 Tổng công ty là doanh nghiệp 100%
vốn nhà nước và 02 Tổng công ty cổ phần về trực thuộc Bộ Xây dựng.
Do việc ổn định lại công tác tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh của
các Tổng công ty nên tiến độ cổ phần hóa còn chậm so với kế hoạch cổ
phần hóa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tính đến hết năm
2012, Bộ Xây dựng chỉ hoàn thành cổ phần hóa 01 doanh nghiệp thuộc
Tổng công ty Lắp máy Việt Nam.
Tính đến đầu năm 2013, Bộ Xây dựng còn 14 Công ty mẹ - Tổng
công ty và 17 công ty con trực thuộc các Tổng công ty phải cổ phần
hóa. Trong năm 2013, Bộ Xây dựng đã thực hiện cổ phần hóa được 12
DN gồm: 05 Công ty mẹ Tổng công ty (Viglacera, Viwaseen, Xây dựng
Hà Nội, Xây dựng Bạch Đằng và LICOGI) và 07 Công ty con (03 DN
thuộc LICOGI, 02 DN thuộc HUD và 02 DN thuộc VNCC).
Trong 09 tháng đầu năm 2014, Bộ Xây dựng đã rà soát, đẩy mạnh
công tác cổ phần, đồng loạt triển khai tại 19 DN gồm 09 Công ty mẹ
- Tổng công ty và 10 công ty con cổ phần hóa cùng Công ty mẹ. Đến
nay, Bộ Xây dựng đã thành lập Ban chỉ đạo và phê duyệt kế hoạch cổ
phần hóa của 09/09 Tổng công ty; hoàn thành phê duyệt giá trị doanh
492


nghiệp và đang thẩm định phương án cổ phần hóa của 01 Tổng công ty
và 02 công ty con. Đang xác định giá trị doanh nghiệp tại 05 Tổng công
ty (gồm: FiCO, CC1, COMA, SÔNG ĐÀ, LILAMA) và tiến hành xử
lý tài chính trước khi xác định giá trị doanh nghiệp tại 04 Tổng công ty
(gồm: VICEM, IDICO, HUD, VNCC).

doanh nghiệp.
Hiện nay, các Tổng công ty đang tích cực thực hiện theo đề án tái
cơ cấu đã được phê duyệt, trong đó trọng tâm là công tác cổ phần hóa
và thoái vốn. Đến quý II/2014, các Tổng công ty đã và đang thực hiện
thoái vốn tại 42 danh mục với giá trị 2.172,11 tỷ đồng, chiếm 43,22%
kế hoạch thoái vốn, trong đó đã thoái vốn thành công tại 19 danh mục
(tăng 03 danh mục so với năm 2013) với tổng giá trị là 497,16 tỷ đồng,
đạt 9,89% kế hoạch thoái vốn và đang thực hiện thoái vốn tại 23 danh
mục (tăng 5 DN so với năm 2013) với tổng giá trị 1.674,95 tỷ đồng,
chiếm 33,33% kế hoạch thoái vốn.
Cùng với công tác thoái vốn, Bộ Xây dựng cũng đã trình Thủ tướng
Chính phủ phương án tái cơ cấu một số doanh nghiệp xi măng đang gặp
khó khăn. Cùng với đó, các Tổng công ty thuộc Bộ đã chủ động thực
hiện sáp nhập một số công ty con, công ty liên kết; sáp nhập, giải thể chi
nhánh, văn phòng đại diện nhằm làm tinh gọn bộ máy quản lý, nâng cao
năng lực quản trị doanh nghiệp; sáp nhập các công ty cấp II vào công
ty cấp I, thực hiện giảm dần giá trị vốn góp của nhà nước tại các công
ty cổ phần mà nhà nước không cần thiết nắm giữ cổ phần chi phối theo
nội dung đề án tái cơ cấu được phê duyệt.
Đồng thời, các Tổng công ty cũng xây dựng các kế hoạch tái cơ
cấu quản trị doanh nghiệp tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ
Tổ chức và hoạt động, hệ thống nội quy, quy chế, quy định quản lý
nội bộ, hoàn thiện Chiến lược phát triển đến năm 2015, tầm nhìn đến
2020. Sắp xếp, kiện toàn mô hình tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành
theo hướng tinh gọn, chuyên môn hóa. Áp dụng các nguyên tắc quản trị
doanh nghiệp theo thông lệ quản trị doanh nghiệp quốc tế; tăng cường
công tác kiểm soát nội bộ; Tăng cường trách nhiệm, quyền hạn, kiểm
tra và giám sát của Công ty mẹ đối với người đại diện phần vốn tại các
doanh nghiệp khác.
494

lợi nhuận bình quân 3 năm gần nhất là chưa phản ánh đúng lợi thế kinh
doanh do khoảng thời gian quá ngắn, không phù hợp với doanh nghiệp
495


kinh doanh sản phẩm có tính chất chu kỳ; tại thời điểm bàn giao doanh
nghiệp, trong khi các tài sản khác không định giá lại thì việc phải định
giá lại các khoản đầu tư tài chính là không phù hợp về tính chất tài
chính, việc này có thể dẫn tới việc điều chỉnh lại quy mô vốn điều lệ của
công ty cổ phần và xử lý rất phức tạp; (ii) Sự khó khăn chung của nền
kinh tế, khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sự suy giảm
của thị trường chứng khoán tác động lớn đến việc thu hút nguồn vốn từ
bên ngoài khi thực hiện cổ phần hóa, đặc biệt là việc tìm kiếm nhà đầu
tư chiến lược rất khó khăn.
Trong công tác thoái vốn: (i) Tiến độ thực hiện thoái vốn còn chậm
do những vướng mắc như tình hình thị trường chứng khoán khó khăn
nên ít nhà đầu tư quan tâm mua cổ phần; (ii) chưa có đầy đủ văn bản
hướng dẫn Nghị quyết 15/NQ-CP ngày 06/3/2014 của Chính phủ về một
số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp
nên việc triển khai còn lúng túng, rụt rè; (iii) Chưa có văn bản hướng dẫn
việc chuyển giao vốn, chuyển giao nguyên trạng doanh nghiệp.
3. Kế hoạch cổ phần hóa và tái cơ cấu DNNN đến hết năm 2015
và một số giải pháp thực hiện
Định hướng của Bộ Xây dựng đến năm 2015 là quyết tâm thực
hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa, thoái
vốn đầu tư ngoài ngành và bán phần vốn mà Nhà nước không cần nắm
giữ theo nguyên tắc thị trường, bao gồm cả doanh nghiệp đang kinh
doanh có hiệu quả. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra các doanh
nghiệp trực thuộc. Chỉ đạo quyết liệt việc kiện toàn cán bộ quản lý và
nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, thực hiện công khai minh

hợp hơn; (iii) Phê duyệt kế hoạch, tiến độ cổ phần hóa cụ thể, bao gồm
cả mốc thời gian cho từng bước công việc; Thường xuyên chỉ đạo, đôn
đốc, đánh giá mức độ hoàn thành tiến độ cổ phần hóa theo kế hoạch đề
ra; (iv) Chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động chuẩn bị hồ sơ, tài liệu pháp
lý để cổ phần hóa; áp dụng các biện pháp xử lý linh hoạt, hữu hiệu, dứt
điểm đối với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn lớn về tài chính, lao
động; (v) Thường xuyên chỉ đạo, phối hợp với doanh nghiệp cổ phần
hóa giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình cổ
phần hóa, nhất là đối với các doanh nghiệp có nhiều tài sản là đất đai,
nhà cửa, máy móc thiết bị v.v… khi xác định giá trị doanh nghiệp; (vi)
497


Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan như Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch đầu tư, Ủy ban nhân dân các tỉnh v.v… để giải quyết các vấn
đề vướng mắc khi cổ phần hóa như việc xác định giá trị doanh nghiệp,
phương án sử dụng đất, phương án cổ phần hóa; (vii) Tăng cường quan
tâm, hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát đối với các doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp sau cổ phần hoá; (viii) Chỉ đạo các đơn vị chủ động rà
soát và lập kế hoạch, lộ trình bán tiếp phần vốn nhà nước tại các công ty
cổ phần xét thấy không cần thiết nắm giữ; (ix) Xây dựng kế hoạch thực
hiện đề án tái cơ cấu của các DNNN theo từng quý; thường xuyên chỉ
đạo, đôn đốc và phối hợp giải quyết các công việc phát sinh trong quá
trình tái cơ cấu, nhất là trong việc thoái vốn tại các khoản đầu tư kém
hiệu quả, ngoài ngành nghề kinh doanh chính.
III. Kiến nghị
Để đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn, giải quyết những
khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện, Bộ
Xây dựng kiến nghị:
(i) Đối với công tác cổ phần hóa: sửa đổi một số quy định tại Nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status