PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời kỳ đổi mới đã đem đến sự “thay da đổi thịt “trên đất nước ta ở tất
cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục. Thành tựu của ngành giáo dục
Việt Nam bắt đầu từ thời điểm đối mới, sau gần 30 năm chúng ta đã đưa tỷ lệ
mù chữ từ 2 con số xuống còn một tỷ lệ rất thấp, từng bước phổ cập giáo dục
tiểu học, tiến tới phổ cập bậc Trung học cơ sở và Phổ thông trung học. Thế
nhưng, đó cũng là một lĩnh vực mà nó chất chứa quá nhiều vấn đề tồn đọng.
Tỷ lệ mù chữ khu vực nông thôn vẫn luôn vượt trên 2 lần so với khu vực đô
thị, đặc biệt là đối với nữ giới. Có nhiều lý do dẫn tới những bất cập về giáo
dục ở khu vực nông thôn. Theo GS.TS Tô Duy Hợp (Viện Xã hội học, Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam) trong bản tham luận tại hội thảo “Vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt
Nam”do Viện Xã hội học tổ chức, đã lý giải về thực trạng bất cập nói
trên:“một trong những thách thức to lớn đối với khu vực nông thôn là do sức
ép trong chi tiêu cho giáo dục”. Khi đời sống của nhân dân nông thôn nhiều
nơi vẫn còn thiếu thốn thì những khoản chi tiêu cho giáo dục trở thành quá
sức. Với một khoản tiền eo hẹp, con em gia đình nghèo có điều kiện học tập
kém hơn, mua sắm sách vở và dụng cụ học tập ít hơn, đi học thêm ít hơn…
Rõ ràng, khi đời sống của người nông dân còn chưa đảm bảo, mức thu nhập
từ nông nghiệp còn quá thấp thì chi tiêu cho giáo dục là vấn đề đáng để quan
tâm giải quyết. Nhưng giải quyết như thế nào thì vẫn còn là một câu hỏi lớn.
Cái gốc của vấn đề ở đâu? Nếu thu nhập từ nông nghiệp của hộ nông dân tăng
cao thì chi tiêu cho giáo dục sẽ như thế nào?
Thu nhập của hộ nông dân có từ nhiều nguồn, nhưng chủ yếu vẫn là từ
sản xuất nông nghiệp. Đối với một xã thuần nông như Tân Kỳ thì điều này
càng chính xác. Hiện nay, xã đang chú trọng phát triển một số cây trồng có
giá trị, chủ yếu là các loại rau như su hào, hoa lơ và bắp cải.
1
2
nhập cho giáo dục ra sao? Phát triển sản xuất rau có ảnh hưởng gì tới chi tiêu
cho giáo dục của hộ nông dân? Việc nghiên cứu về ảnh hưởng của phát triển
sản xuất rau tới chi tiêu cho giáo dục của hộ nông dân tại những địa bàn này
là vô cùng cần thiết.
Nhằm làm rõ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh
hưởng của phát triển sản xuất cây trồng có giá trị tới chi tiêu cho giáo dục
của hộ nông dân xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu những ảnh hưởng của phát triển sản xuất cây trồng có giá
trị nhất là rau tới chi tiêu cho giáo dục của hộ nông dân tại xã Tân Kỳ, huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất
những cây trồng này tại địa phương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu phát triển sản xuất rau trên địa bàn xã và tình hình chi
tiêu cho giáo dục của hộ nông dân xã.
- Nghiên cứu những ảnh hưởng của phát triển sản xuất rau trên địa bàn
xã tới chi tiêu cho giáo dục của hộ nông dân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tăng cường những ảnh
hưởng tích cực và hạn chế bớt những ảnh hưởng tiêu cực trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển cây trồng có giá trị (tại xã Tân Kỳ
là rau, chủ yếu tập trung vào ba loại rau vụ đông là su hào, bắp cải và hoa lơ)
tới chi tiêu cho giáo dục tại các hộ nông dân này ở xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ,
các hoạt động kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan
của một nền sản xuất xã hội. (Nguyễn Hữu Ngoan, 2005)
Khái niệm về HQKT có thể được tóm tắt theo 3 quan điểm sau:
* HQKT theo quan điểm thứ nhất cho rằng: HQKT được xác định
bởi tỷ số giữa kết quả thu được (như các nuồn lực, vật lực, tiền vốn…) và chi
phí bỏ ra để đạt kết quả đó. Theo quan điểm này, HQKT được thể hiện qua
công thức sau:
Kết quả thu được
HQKT = ----------------------Chi phí bỏ ra
H = Q/C
Ưu điểm: Phản ánh rõ việc sư dụng nguồn lực thể hiện thông qua chi
phí sản xuất.
Nhược điểm: Không phản ánh được quy mô của HQKT, có thể trong
tực tiễn tỉ lệ có đạt cao, song mức độ đạt được không đáng kể do lượng tuyệt
đói nhỏ và lợi ích kinh doanh mang lại không nhiều. quan điểm này cũng
chưa phân tích được được tác động, sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự
nhiên.
* HQKT theo quan điểm thứ hai cho rằng: HQKT được do bằng
hiệu số giữa giá trị sản xuất dạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả
đó. Theo quan điểm này, HQKT được thể hiện qua công thức sau:
HQKT = Kết qủa thu được – Chi phí bỏ ra
H=Q-C
5
Ở đây nó phản ánh quy mô HQKT song không rõ rệt và chưa phản ánh
hết mong muốn của nhà sản xuất kinh doanh, chưa xác định được năng suất
lao động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của các cơ sở sản
xuất có lợi nhuận như nhau.
- Từ quan hệ tương đối, tuyết đối thì HQKT được thể hiện bằng các giá
trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận, tỷ xuất lợi nhuận.
*Ý nghĩa
+ Hiệu quả kinh tế quyết định lợi ích của người sản xuất, của doanh
nghiệp và của Nhà nước. Trong sản xuất, từ kết quả thu được, trước tiên
người ta phải khấu trừ đi chi phí bỏ ra. Sản xuất có hiệu quả thì phần dư ra
càng lớn. Phần dư ra của kết quả sản xuất chính là lợi ích của người sản xuất,
doanh nghiệp và Nhà nước.
+ Hiệu quả kinh tế được nâng cao thì người sản xuất càng thu được
nhiều lợi nhuận, người tiêu dùng sẽ được cung cấp hàng hoá và dịch vụ với
giá rẻ hơn và chất lượng hàng hoá cao hơn.
Như vậy, hiệu quả kinh tế là vấn đề mà cả nhà sản xuất và người tiêu
dùng, cả xã hội đều quan tâm.
c, Phân loại hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được phân chia theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo
khía cạnh cần phản ảnh.
*Căn cứ theo mức độ khái quát, hiệu quả kinh tế chia ra
+ Hiệu quả kinh tế: là so sánh giữa kết quả kinh tế với chi phí bỏ ra để
đạt được kết quả đó.
+Hiệu quả xã hội: là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía
cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội như tạo việc làm, xoá
đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội…
+ Hiệu quả môi trường: thể hiện ở việc bảo vệ tốt hơn môi trường như
tăng độ che phủ đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí…
7
Trong các loại hiệu quả thì hiệu quả kinh tế quan trọng nhất, nhưng
không thể bỏ qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Vì vậy, nói đến
cầu đề ra.
Giáo dục là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy giáo dục của
một nước". (trích “từ điển tiếng Việt”, 1994)
Các khái niệm trên, về quan điểm chung, đều cùng có một ý nghĩa.
Chúng biểu hiện trên hai mặt, đó là mặt triết lý giáo dục và khoa học giáo
dục. Triết lý giáo dục là sự áp dụng của triết học tự thân đối với việc nghiên
cứu những vấn đề, mà những vấn đề đó nằm trong phạm vi giáo dục và khoa
học giáo dục giúp đỡ với ý nghĩa phương pháp kỹ thuật, công cụ sẽ được
dùng để nghiên cứu những mục đích được hoạch định thông qua triết lý giáo
dục, mối quan hệ giữa khoa học và triết học giáo dục đồng đẳng mật thiết
không thể tách rời. Ðây chính là ý nghĩa đích thực của giáo dục.
* Mục tiêu của giáo dục:
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ( trích “Luật Giáo dục”, 2005).
*Ðối tượng của giáo dục:
+ Quá trình giáo dục là đối tượng của giáo dục học: Quá trình giáo dục
là quá trình hình thành cá nhân con người được tổ chức một cách có mục đích
và có kế hoạch, căn cứ vào những mục đích và những điều kiện do xã hội quy
định, được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục và học tập trong một
thời gian và không gian nhất định; nhằm giúp người học chiếm lĩnh những
kinh nghiệm xã hội của loài người, nhờ đó mà hình thành các phẩm chất năng
lực của cá nhân theo những yêu cầu của xã hội. Quá trình giáo dục theo quan
niệm trên đây chính là đối tượng nghiên cứu của giáo dục học.
9
nhiệt lượng tiêu dùng một người một ngày là 2100 Kcal.
- Chuẩn nghèo chung được xác định bằng chuẩn nghèo lương thực, thực
phẩm cộng với mức chi tối thiểu cho các mặt hàng phi lương thực, thực
12
phẩm, gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn hoá giải trí, y tế,
đi lại, thông tin liên lạc, v.v...
Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm là phần trăm số hộ có mức thu
nhập/chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo lương thực, thực
phẩm, được tính theo công thức sau:
Tỉ lệ nghèo lương thực,
=
thực phẩm trong kỳ (%)
Số hộ nghèo lương thực,
thực phẩm trong kỳ
x 100
Tổng số hộ trong kỳ
Tỷ lệ nghèo chung là phần trăm số người có mức chi tiêu bình quân
đầu người thấp hơn chuẩn nghèo chung, được tính theo công thức sau:
Tỉ lệ nghèo chung
trong kỳ (%) =
Số người nghèo chung
trong kỳ
x 100
nghiệp thì sự dồi dào về nguồn lực (điều kiện tự nhiên, lao động, vốn, đất đai,
kiến thức thị trường, khả năng quản lý…) đều có ý nghĩa quyết định đến
thắng lợi cuối cùng. Trong sản xuất rau cũng vậy, nếu chủ động về nguồn lực
thì sẽ có điều kiện để thực hiện tốt hơn quá trình sản xuất do phải áp dụng
nhiều quy trình kỹ thuật phức tạp.
* Các nhân tố về kỹ thuật
- Giống: là yếu tố góp phần lớn tới việc tăng năng suất cây trồng, ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất. Nếu giống cây tốt thì khả năng thích
nghi, khả năng chống chịu và năng suất cao, chất lượng tốt. Nhất là đối với
những cây ngắn ngày như rau. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp người
nông dân nâng cao trình độ canh tác giống, tăng hiệu quả khai thác giống. Tại
xã Tân Kỳ, vấn đề này cũng chưa thực sự làm tốt.
- Thời vụ gieo trồng: Cây rau thông thường là những loại cây ngắn
ngày. Mỗi loại cây trồng nói chung cũng như mỗi loại cây rau nói riêng đều
có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng. Mỗi loại rau lại có thời vụ gieo
trồng khác nhau. Thời vụ gieo trồng của rau được tính từ khi đặt hạt giống,
gieo hạt cho tới hết thời gian thu hoạch. Chỉ khi gieo trồng đúng thời vụ thì
14
sản xuất mới thuận lợi và cho năng suất, chất lượng cao. Nếu trái vụ thì sản
xuất sẽ gặp nhiều khó khăn, cây sinh trưởng và phát triển chậm do thời tiết
không thuận lợi. Do vậy, để nâng cao năng suất và chất lượng rau, người dân
ngoài việc phải chăm sóc đầy đủ, hợp lý còn cần phải bố trí cơ cấu cây trồng
đúng mùa vụ.
- Kỹ thuật làm đất: Làm đất là khâu đầu tiên tuy đơn giản nhưng không
thể thiếu trong sản xuất cây vụ đông và đặc biệt là sản xuất rau. Rau có thể
sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau. Nhưng với mỗi
loại rau khác nhau, yêu cầu kỹ thuật làm đất, thiết kế rãnh luống cũng khác
học tốn tiền còn đi làm ngay thì kiếm được tiền nên chỉ học hết lớp 9 hay là ở
nhà thiếu người làm nên ở nhà đi làm đỡ phải thuê người khác… khiến cho
người nông dân ngừng chi tiêu cho giáo dục, nhất là với con gái. Điều này do
quan niệm trọng nam khinh nữ, và tâm lý người nông dân thường không nhìn
xa trông rộng.
* Điều kiện kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi vùng là khác nhau. Yếu tố này là yếu tố
tác động từ cộng đồng. Tác động của yếu tố này tới chi tiêu cho giáo dục theo
nhiều hướng. Nhiều khi theo xu hướng tâm lý đám đông. Tại các thành phố
lớn điều kiện kinh tế, xã hội tốt thì lại có điều kiện chi tiêu cho giáo dục nhiều
hơn. Người dân sẵn sang chi tiêu cho giáo dục lại là đa số. Trái lại theo tâm lý
chung thì ở những vùng nông thôn chi tiêu cho giáo dục sẽ ít hơn. Có thể do
chi phí cho giáo dục rẻ hơn ở những nơi kinh tế xã hội phát triển hơn như
tỉnh, thành phố…
* Chính sách của Nhà nước
Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn trên tầm vĩ mô tới chi tiêu của hộ nông
dân cho giáo dục. Đối với giáo dục, hệ thống chính sách của Nhà nước có tác
động tới sự sinh tồn, phát triển, hoạt động của hệ thống giáo dục. Thông qua
hệ thống chính sách, Nhà nước quản lý chi tiêu chung của chính phủ cũng như
mỗi người dân cho giáo dục như điều chỉnh học phí, khuyến khích trợ cấp cho
người nghèo đi học...
16
2.1.3 Một số chủ trương, chính sách của Nhà nước liên quan
*Về sản xuất rau: Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ Về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu
thụ rau, quả, chè an toàn đến năm 2015 Ban hành một số chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đến năm 2015, với
biến rau, quả, chè an toàn thuộc thẩm quyền của Bộ.
*Về giáo dục: Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ
về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.
Nội dung như sau:
1, Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần quán triệt sâu sắc
quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu; tập trung triển khai thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, đào tạo, nhằm thực hiện
mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá của đất nước.
2, Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là
mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước
ta. Cần đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài gắn với xây dựng môi
trường giáo dục lành mạnh, với phong trào làm kinh tế giỏi, xóa đói, giảm
nghèo và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, học đi đôi với hành. Phát triển
các hình thức học tập chính quy đi đôi với phát triển, đa dạng hóa các hình
thức học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được học tập thường
xuyên, học suốt đời.
3, Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần tập trung chỉ đạo
xác định, cụ thể hóa các mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp triển khai các hoạt
động xây dựng xã hội học tập theo Đề án của Chính phủ về việc xây dựng xã
hội học tập giai đoạn 2005 - 2010, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác
khuyến học, khuyến tài, trong đó lưu ý xây dựng tổ chức Hội Khuyến học
Việt Nam vững mạnh, hoạt động thiết thực, có hiệu quả.
18
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất rau tại Việt Nam
đạo của cơ quan chuyên ngành, đảm bảo được hiệu quả cao và an toàn cho
người sử dụng và nông sản, người dân đã ý thức hơn về môi trường trong việc
sử dụng thuốc trừ sâu và BVTV.
- Hiện nay số lượng nông dân được tập huấn về thuốc bảo vệ thực vật, quản lý
dịch hại tổng hợp trên cây rau ngày càng tăng cao.
Khó khăn
- Quy mô sản xuất rau còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa hình thành những
vùng sản xuất lớn nên đầu tư và ứng dụng khoa học kĩ thuật khó khăn.
- Khi triển khai các dự án sản xuất, nông hộ tham gia còn trông chờ, ỷ lại
vào sự hỗ trợ của Nhà nước, sự dao động của hộ tham gia mô hình khi so sánh
hiệu quả giữa trồng rau với trồng cây khác.
- Nguồn nước tưới trong thời gian qua thiếu trầm trọng do tình trạng
hạn hán kéo dài.
- Giá vật tư nông nghiệp còn cao, nhiều hàng kém chất lượng.
2.2.2 Tình hình giáo dục tại Việt Nam
Năm học 2008-2009, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng
2,86% so với năm học 2004-2005; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,14
lần; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,41 lần; số sinh viên cao đẳng,
đại học tăng 1,75 lần, nâng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân
tăng 1,6 lần; số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng 2,5 lần.
Hiện nay, cả nước có trên 9.000 trung tâm học tập cộng đồng, gần 700
trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và huyện, 1.300 trung tâm tin học,
nhiều trường đại học triển khai các chương trình đào tạo từ xa. Ngoài ra, có
nhiều cơ sở đào tạo ngoại ngữ và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ có yếu tố nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Một xã hội học
tập đã hình thành rõ nét ở Việt Nam.
20
càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, giám sát, đánh giá và hiến kế
cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đầu tư mở trường, đóng
góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngân sách Nhà
nước đầu tư cho giáo dục tăng liên tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm
2007. Trong năm 2007, khoảng 25% tổng chi phí của xã hội cho học tập là
đóng góp của người dân. Bên cạnh đó, cũng đã huy động được sự đóng góp
của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội và đầu tư nước ngoài.
Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển. Vào năm học
2008-2009, cả nước có gần 6.000 cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu
học, 33 trường THCS, 651 trường THPT, 308 cơ sở dạy nghề, 72 trường
trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở giáo dục
ngoài công lập. Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công
lập ngày càng tăng. Năm học 2008-2009, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công
lập là 15,6% (năm 2004 là 11,8%), trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%;
học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 18,2%; học nghề là 31,2%; sinh viên cao
đẳng, đại học là 11,8%.
Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội
học tập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc, con em các gia đình nghèo và trẻ
em khuyết tật. Việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ
khác đã tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính
sách được học tập, trước hết ở các cấp học phổ cập. 53% số học sinh sinh viên
cả nước được miễn giảm học phí.
Từ năm học 2008-2009, học sinh học nghề, sinh viên cao đẳng, đại học có
hoàn cảnh khó khăn được vay để chi trả cho việc học hành (752.000 người
được vay với mức tối đa 800.000 đồng/tháng).
Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến
bộ rõ rệt. Đến năm học 2008-2009 có 278 trường dân tộc nội trú của trung
22
23
nhà giáo từ mầm non đến đại học dẫn đến tình trạng đội ngũ nhà giáo vừa
thừa, vừa thiếu, vừa không đồng bộ về cơ cấu. Bên cạnh sự nỗ lực của tuyệt
đại bộ phận, một số nhà giáo còn có biểu hiện vi phạm đạo đức lối sống, làm
ảnh hưởng xấu tới uy tín của người thầy trong xã hội.
Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu. Mặc dù
tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường trong những năm gần đây đã có
nhiều cải thiện rõ rệt nhưng tính đến năm 2008 vẫn còn 11% số lớp học ở tình
trạng lớp học tạm, phòng học cấp 4 cũ nát, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; thư
viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học còn
thiếu và lạc hậu, nhất là ở các trường đại học.
2.2.3 Ảnh hưởng của phát triển sản xuất rau tới chi tiêu cho giáo dục tại
một số địa phương
Tại nhiều địa phương, phát triển sản xuất rau đã có những ảnh hưởng
không nhỏ tới chi tiêu cho giáo dục của hộ nông dân. Một trong số đó là xóm
Sơn Thành, xã Tam Hợp (Quỳ Hợp, Nghệ An).
Xóm Sơn Thành có tổng diện tích đất tự nhiên trên 87ha, trong đó đất
sản xuất nông nghiệp chiếm hơn một nửa với 41 ha, dân số có 189 hộ với gần
980 nhân khẩu, chủ yếu là bà con từ huyện Quỳnh Lưu lên khai hoang xây
dựng vùng kinh tế mới từ những năm 1980. Ông Hồ Đình Lý (Bí thư chi bộ
kiêm xóm trưởng Sơn Thành) cho biết: trước đây toàn bộ diện tích đất này
chủ yếu là sản xuất cây lúa nhưng năng suất thấp, năm 2005-2006 hưởng ứng
phong trào xây dựng cánh đồng cho thu nhập 50 triệu/ha do Bộ NN- PTNT,
được chính quyền địa phương vận động, bà con nhân dân đã mạnh dạn
chuyển đổi từ sản xuất cây lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây rau thực
phẩm mang lại giá trị thu nhập cao, đến năm 2007-2008 xóm đã xây dựng
học, cao đẳng là kết quả cao nhất từ trước tới nay. Đặc biệt trong phong trào
"Toàn dân đoàn kết xây dựng thôn văn hoá ở khu dân cư", bà con nhân dân ở
đây đã góp công, góp của xây dựng đường giao thông nông thôn, xây dựng
cổng chào, nhà văn hoá xóm với số tiền lên đến gần 300 triệu đồng; nguời dân
còn tự giác thực hiện tốt các chỉ tiêu, các khoản nghĩa vụ đối với nhà nước
(Xuân Thống, 2010) .
25