TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA: KINH TẾ LUẬT
MÔN HỌC: LUẬT HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN:
HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TP. HỒ CHÍ MINH – 12.2011
Môn học: Luận hành chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến
đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa,
kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.
Trong quá trình đổi mới đất nước, và qua các lần ban hành hiến pháp, mới nhất là
hiến pháp năm 1992 và được sữa đổi năm 2002, bộ máy Nhà Nước Cộng Hòa XHCN Việt
Nam ngày càng toàn diện và theo đó thể chế hành chính của các cơ quan Nhà nước đã được
thay đổi khá nhiều phù hợp với việc quản lý xã hội, đáp ứng được công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước XHCN và đi chung đó là hệ thống cơ quan quản lý nhà nước được toàn diện
hơn, nâng cao hơn, hệ thống đó còn được gọi là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.
Hệ thống cơ quan quản lý hành chính đã được điều chỉnh, giảm bớt sự cồng kềnh
giảm thiểu sự quan liêu để tiến tới sự một xã hội công bằng văn minh và phát triển. Việc xây
dựng hệ thông các cơ quan hành chính mới không làm thay đổi hoặc suy giảm quyền lực và
nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước. Mặt khác hệ thống các cơ quan quản lý được đề
cao, tăng cường kiểm tra giám sát đối với từng bộ phận, hiểu được đường lối chỉ đạo hợp lý
của Nhà nước và vai trò tích cực của các cơ quan quản lý Nhà nước. Chính vì vậy, hệ thống
2.4.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền............................................................................................................... 6
2.4.2. Bộ và cơ quan ngang Bộ................................................................................................................................................. 9
2.4.2.1. Vị trí và vai trò........................................................................................................................................................... 9
2.4.2.2. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng.............................................................................................. 10
2.4.2.3. Cơ cấu tổ chức của Bộ.......................................................................................................................................... 13
2.4.3. Ủy ban nhân dân các cấp............................................................................................................................................. 14
2.4.3.1. Vị trí và vai trò......................................................................................................................................................... 14
3.4.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn....................................................................................................................................... 14
Cơ quan hành chính nhà nước
Môn học: Luận hành chính
2.4.3.3. Hình thức làm việc................................................................................................................................................. 15
2.4.4. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.................................................................................................................. 16
2.4.4.1. Vị trí và vai trò......................................................................................................................................................... 16
3.4.4.2. Nhiệm và quyền hạn............................................................................................................................................. 16
2.4.4.3. Chế độ làm việc........................................................................................................................................................ 17
2.5. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC QUẢN LÝ CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC...............................18
2.5.1. Khái niệm và hệ thống các phương pháp quản lý của các CQHCNN........................................................18
2.5.1.1. Khái niệm phương pháp quản lý..................................................................................................................... 18
3.5.1.2. Hệ thống các phương pháp quản lý............................................................................................................... 19
2.5.2. Khái niệm và hệ thống các hình thức quản lý của các CQHCNN................................................................21
2.5.2.1. Khái niệm hình thức quản lý............................................................................................................................. 21
2.5.2.2. Hệ thống các hình thức quản lý....................................................................................................................... 22
2.6. CẢI TỔ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA...................24
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN....................................................................................................................................................................... 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................................................................................ 27
Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 1
Môn học: Luận hành chính
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
2.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
2.1.1. Khái niệm
Các cơ quan hành chính nhà nước là các chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hành
chính. Các cơ quan này là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước thành lập để thực
hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Đó là những cơ quan thực hiện các hoạt động
chấp hành, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Chính vì vậy, hệ thống các cơ
quan hành chính nhà nước cũng chính là hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước.
2.1.2. Đặc điểm
Cơ quan nhà nước là một tập thể người hoặc một người, có tính độc lập tương đối về
cơ cấu tổ chức. Cơ cấu tổ chức bộ máy và quan hệ công tác của cơ quan do chức năng,
nhiệm vụ của nó quy định, có tính độc lập và có quan hệ về tổ chức và hoạt động với cơ
quan khác trong một hệ thống, với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước nói chung, quan
hệ đó do vị trí chính trị-pháp lý của nó trong hệ thống cơ quan nhà nước quyết định.
Nhà nước thành lập cơ quan nhà nước để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước. Vì vậy, nhà nước trao cho các cơ quan nhà nước thẩm quyền nhất định. Thẩm
quyền của cơ quan nhà nước là phương tiện pháp lý để thực hiện nhiệm vụ và chức năng
được trao. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước là tổng thể những quyền, nghĩa vụ mang tính
quyền lực - pháp lý do pháp luật quy định. Các quyền là yếu tố quan trọng nhất của thẩm
quyền, quyết định tính chất quyền lực của cơ quan nhà nước, nghĩa là cơ quan nhà nước có
quyền ra những mệnh lệnh, chỉ thị buộc đối tượng (cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải thực
hiện. Bởi vì khi thực hiện các quyền, cơ quan nhà nước nhân danh nhà nước, đại diện cho
quyền lực nhà nước. Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt cơ quan nhà nước với tổ chức xã
hội, cơ quan xã hội. Quyền ban hành quyết định pháp luật là yếu tố quan trọng nhất trong
thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp, luật, quyết định của cơ quan nhà
hành chính nhà nước phải chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Để đảm bảo tính chất chấp hành này các cơ quan hành chính phải báo cáo công việc
của mình trước cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực.
-
Hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước có quan hệ trực thuộc với
nhau: Đó có thể là các quan hệ trực thuộc dọc, quan hệ trực thuộc ngang hoặc quan
hệ trực thuộc hai chiều (chế độ song trùng trực thuộc). Trong hệ thống đó, chính phủ
là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Toàn bộ hệ thống và mối quan hệ chặt chẽ
giữa các cơ quan hành chính nhà nước tạo thành bộ máy hành chính quốc gia, bộ
phận quan trọng của bộ máy nhà nước.
2.2. PHÂN LOẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Các cơ quan hành chính nhà nước có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau
2.2.1. Cơ sở pháp lý của việc thành lập
Các cơ quan hành chính bao gồm
Các cơ quan hành chính được thành lập bởi Hiến pháp: Các cơ quan thành lập trên
cơ sở Hiến pháp có vị trí pháp lý khá ổn định được gọi là các cơ quan hiến định, gồm:
-
Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.
-
Ủy ban nhân dân các cấp là các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Các cơ quan hành chính được thành lập bởi các luật, các văn bản dưới luật: Đó là
các tổng cục, cục, vụ, các sở, ban trực thuộc các cơ quan hiến định nói trên. Các cơ quan
thành lập trên cơ sở các luật và các văn bản dưới luật thường ít ổn định, nhưng có tính năng
Các cơ quan hành chính theo chế độ lãnh đạo cá nhân: Việc quyết định trong các
cơ quan này do người đứng đầu cơ quan quyết định. Thông thường, các cơ quan hành chính
có thẩm quyền chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo cá nhân.
Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001, thì có sự kết hợp
giữa chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ cá nhân lãnh đạo trong họat động của Chính phủ và
Ủy ban nhân dân các cấp. Các cơ quan này thường quyết định những vấn đề quan trọng có
liên quan đến nhiều lĩnh vực, do vậy, cần có sự đóng góp trí tuệ tập thể trong bàn bạc và ra
quyết định. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch ủy ban nhân dân cũng có quyền
quyết định những vấn đề thuộc phạm vi chức trách của mình, căn cứ vào nhiệm vụ quyền
hạn được giao.
Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn tổ chức và họat động
theo chế độ cá nhân lãnh đạo, theo đó người đứng đầu mỗi cơ quan như Bộ trưởng, Thủ
trưởng các cơ quan ngang bộ có quyền ra các quyết định cá nhân để đặt ra những quy tắc
quản lý nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực cũng như để thực hiện chức năng nhiệm vụ mà
pháp luật quy định.
2.3. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Sự hình thành và phát triển của các cơ quan hành chính nhà nước phụ thuộc vào đặc
điểm tổ chức quyền lực nhà nước, đặc điểm phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, địa lý, dân
cư, khoa học kỹ thuật... Nói gọn lại là tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý hành chính nhà nước
của từng giai đoạn
Các cơ quan hành chính nhà nước tạo thành một chính thể thống nhất, toàn vẹn, có
quan hệ chặt chẽ, ràng buộc với nhau. Mỗi cơ quan hành chính là một khâu, mắt xích không
thể thiếu được trong hệ thống. Tính thống nhất cao của nó được thể hiện bằng sự bền chặt,
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 4
Môn học: Luận hành chính
liên tục, thường xuyên hơn bất kỳ một hệ thống cơ quan khác của Nhà nước (cơ quan quyền
Theo Điều 112 Hiến pháp 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ (2001), Chính
phủ còn có toàn quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước trên phạm vi cả
nước, trừ các công việc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và chủ
tịch nước. Với vị trí trên, Chính phủ là cơ quan điều hành cao nhất của quyền lực nhà nước
trong hệ thống các cơ quan quản lý (hành chính) nhà nước, chỉ đạo tập trung, thống nhất các
Bộ và các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cấp chính quyền địa
phương.
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 5
Môn học: Luận hành chính
Chính phủ do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội. Trong
kỳ họp này Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước và giao cho
Thủ tướng đề nghị danh sách các Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội
phê chuẩn. Quy định pháp lý này vừa xác định vai trò và trách nhiệm tập thể của Chính phủ
trước Quốc hội; vừa xác định vai trò cá nhân của Thủ tướng là người lãnh đạo toàn bộ công
việc của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, đồng thời cũng là xác định vai trò
và trách nhiệm của Bộ trưởng trong tập thể của Chính phủ và trách nhiệm của cá nhân Bộ
trưởng về lĩnh vực mình phụ trách.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chính phủ và các Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ
quan ngang Bộ chịu sự giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trực tiếp
hoặc thông qua các Ủy ban thường trực của Quốc hội. Chất vấn của đại biểu Quốc hội đối
với Chính phủ là một hình thức giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ; Chính phủ và
các thành viên phải trả lời trong các kỳ họp của Quốc hội các điều chất vấn của đại biểu
Quốc hội.
Chính phủ lãnh đạo họat động của các Bộ, của chính quyền địa phương, thể hiện trên
hai mặt:
Trang 6
Môn học: Luận hành chính
sách lớn về đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước.
b) Quyền lập quy (quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật) : là quyền đặt ra những
văn bản dưới luật có tính chất quy phạm pháp luật, quyết định các chủ trương, biện
pháp nhầm thực hiện chính sách, pháp luật, bảo vệ lợi ích nhà nước, trật tự xã hội,
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các văn bản pháp quy của Chính
phủ có giá trị pháp lý trong cả nước, Chính phủ ban hành nghị quyết, nghị định, Thủ
tướng ban hành quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc chấp hành các văn bản đó của
mọi cơ quan ở trung ương và chính quyền địa phương.
c) Quyền quản lý và điều hành tòan bộ công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội:
Theo đúng đường lối chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước và hệ thống pháp
quy của Chính phủ.
d) Quyền xây dựng và lãnh đạo tòan bộ hệ thống các tổ chức, các cơ quan quản lý (hành
chính) nhà nước, thành lập các cơ quan trực thuộc Chính phủ và cơ quan giúp việc
Thủ tướng, lãnh đạo các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do HĐND bầu
ra; chỉ đạo việc tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương.
e) Quyền tổ chức những đơn vị sản xuất, kinh doanh, theo những hình thức thích hợp,
lãnh đạo dơn vị ấy kinh doanh theo định hướng kế hoạch, đúng cơ chế, đúng pháp
luật.
f) Quyền hướng dẫn, kiểm tra HĐND: Chính phủ hướng dẫn và kiểm tra HĐND trong
việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ,
quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra tính hợp pháp của các nghị
quyết của HĐND. Thủ tướng có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của
HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn
Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, năm năm,
hàng năm, các công trình quan trọng; dự toán ngân sách nhà nước, dự kiến phân bổ
ngân sách trung ương và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa
phương; tổng quyết tóan ngân sách nhà nước hàng năm trình Quốc hội;
Đề án chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo trình Quốc hội;
Các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế – xã hội, tài chính, tiền tệ, các vấn đề tiền
tệ, các vấn đề quan trọng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại;
Các đề án trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể Bộ, cơ quan ngang Bộ;
việc thành lập mới, nhập, chia điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, việc thành lập hoặc giải thể các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; quyết
định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Quyết định việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ;
Các báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch
nước.
2.4.1.4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, có những nhiệm vụ quyền hạn, thẩm
quyền quy định trong Điều 114 Hiến pháp 1992 và Chương III Luật tổ chức Chính phủ gồm:
Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Chính phủ.
Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.
Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị thông tư của Bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, quyết định, chỉ thị của UBND và chủ tịch UBND tỉnh, thành
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 8
Môn học: Luận hành chính
phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà
chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật. Phạm
vi quản lý (hành chính) nhà nước của bộ đối với ngành hoặc lĩnh vực được phân công, bao
gồm hoạt động của mọi tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội ... hoặc mọi tổ chức hành chính, sự
nghiệp thuộc các thành phần khác nhau và trực thuộc các cấp chính quyền, các đòan thể, các
tổ chức xã hội khác nhau, hoạt động của mọi công dân, cũng như hoạt động của mọi tổ chức
và của người nước ngoài tại Việt Nam trên lĩnh vực thuộc Bộ quản lý. Bộ trưởng, một mặt là
thành viên của Chính phủ, cơ quan hành pháp cao nhất, tức là mang tính quyền lực chính trị
trong quyền lực thống nhất; mặt khác, là người đứng đầu bộ thực hiện quyền hành pháp, tức
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 9
Môn học: Luận hành chính
là người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực, để quản lý các
ngành hay lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước.
Có hai loại bộ: bộ quản lý nhà nước đối với ngành, và bộ quản lý đối với lĩnh vực
(cũng có thể gọi là bộ quản lý tổng hợp, hay quản lý chức năng, hay quản lý liên ngành).
Bộ quản lý theo lĩnh vực là cơ quan nhà nước trung ương của Chính phủ thực hiện sự
quản lý hành chính nhà nước theo từng lĩnh vực lớn (kế hoạch, tàichính, khoa học – công
nghệ, lao động, ngoại giao, nội vụ ... ) liên quan đến hoạt động của tất cả các bộ, các cấp
quản lý hành chính nhà nước, các tổ chức trong xã hội và công dân. Bộ quản lý lĩnh vực
có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế – xã hội chung;
xây dựng các dự án kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành; xây dựng các quy định
chính sách, chế độ chung (tham mưu cho Chính phủ), hoặc tự mình ra những pháp quy
về lĩnh vực mình phụ trách, và hướng dẫn các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế,
văn hóa, xã hội thi hành; kiểm tra và bảo đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật nhà
nước trong hoạt động của các Bộ và các cấp về lĩnh vực mình quản lý, đồng thời có trách
nhiệm phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho bộ quản lý ngành hòan thành nhiệm vụ.
Bộ quản lý ngành, là cơ quan nhà nước trung ương của Chính phủ có trách nhiệm quản lý
hội.
d) Quan hệ giữa các Bộ trưởng
Các Bộ trưởng có trách nhiệm tôn trọng quyền quản lý của nhau; tùy thuộc lẫn nhau,
phối hợp với nhau, và khi cần thì ra những văn bản liên bộ; có quyền hướng dẫn và kiểm tra
các bộ thực hiện các nhiệm vụ công tác thuộc ngành hay lĩnh vực, có quyền kiến nghị bộ
khác đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quy định của cơ quan đó trái với các văn bản
pháp luật của nhà nước hoặc của bộ, tức là trái với nội dung quản lý thống nhất của ngành
hoặc lĩnh vực mình phụ trách; nếu yêu cầu đó không được chấp nhận thì trình lên Thủ tướng
xem xét và quyết định.
e) Quan hệ với chính quyền địa phương
Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, Bộ trưởng có quyền chỉ
đạo, hướng dẫn, kiểm tra UBND các cấp thực hiện các nhiệm vụ công tác ngành, lĩnh vực
theo đúng nội dung quản lý theo ngành, lĩnh vực, có quyền đình chỉ việc thi hành và đề nghị
Thủ tướng bãi bỏ những quy định của UBND và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trái với các văn
bản của bộ về ngành, lĩnh vực do bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách và chịu trách nhiệm về
quyết định đình chỉ đó.
Trong trường hợp UBND tỉnh, thành phố không nhất trí với quyết định đình chỉ việc
thi hành của Bộ trưởng thì vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Thủ tướng.
Bộ trưởng có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ thi hành nghị quyết
của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc thuộc trung ương trái với các văn bản pháp luật của
nhà nước hoặc của bộ về ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách.
Về phía mình, bộ phải tôn trọng quyền quản lý trên lãnh thổ của chính quyền địa
phương theo pháp luật quy định, và phải xem xét ý kiến, kiến nghị của UBND các vấn đề về
chính sách, chế độ ngành, lĩnh vực để điều chỉnh, sửa đổi nếu cần thiết.
f) Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý của Bộ được quy định trong điều 22
Chương IV Luật Tổ chức Chính phủ, và Nghị định số 86/2002/NĐ – CP ngày 05 tháng 11
năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
bộ, cơ quan ngang bộ, bao gồm:
-
hoạch tài chính toàn ngành hoặc lĩnh vực gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội,
chương trình mục tiêu bao gồm phần do bộ quản lý và thực hiện.
-
Để đề cao trách nhiệm quyền hạn của bộ trong phạm vi tổng mức thu, chi được duyệt, Bộ
trưởng có quyền điều chỉnh chi tiết để thực hiện nhiệm vụ được giao, nhưng không được
thay đổi mục tiêu kế hoạch đã được duyệt. Bộ phải rất quan tâm quản lý hạch tóan, kế
tóan, kiểm tóan, đánh giá việc bảo tồn vốn, sử dụng vốn và tài sản được nhà nước giao
cho bộ, các tổ chức sự nghiệp và các doanh nghiệp do bộ trực tiếp quản lý về mặt nhà
nước.
-
Xây dựng trình Chính phủ kế hoạch hợp tác quốc tế và tổ chức chỉ đạo thực hiện kế
hoạch ấy; trình Chính phủ việc ký kết, tham gia, phê duyệt các điều ước quốc tế; tổ chức
thực hiện và hướng dẫn các bộ, các UBND thực hiện việc hợp tác quốc tế theo kế hoạch
và sự phân công của Chính phủ; theo dõi, chỉ đạo các đơn vị tổ chức thuộc ngành hoặc
lĩnh vực triển khai các quan hệ hợp tác quốc tế trong hoạt động kinh doanh, sự nghiệp
theo các hiệp định ký kết với nước ngoài.
-
Các bộ quản lý ngành cũng như lĩnh vực có trách nhiệm lớn, và đây là một nhiệm vụ đặt
ra nhiều vấn đề mới và đòi hỏi kiến thức, năng lực mới.
-
Về tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước: xây dựng và hòan thiện bộ máy tổ chức quản lý
ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ; trình Chính phủ quyết định phân cấp
-
Ngoài ra bộ còn quản lý (hành chính) nhà nước các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp nhà
nước thuộc ngành, lĩnh vực; bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các cơ sở theo quy
định của pháp luật; bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu nhà nước của
ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.
-
Đối với các tổ chức sự nghiệp trực thuộc bộ thì bộ có nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn:
Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, tách, nhập, giải thể hoặc chuyển quyền sở
hữu tài sản.
Quy định nhiệm vụ và cấp kinh phí.
Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra.
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ lãnh đạo.
-
Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc quyền địa phương. Bộ trưởng có quyền ra những
quy định pháp lý mà UBND phải thi hành.Theo hệ thống tổ chức hành chính hiện hành,
thì các sở và cơ quan quản lý ngành hay lĩnh vực ở các tỉnh và thành phố là cơ quan
chuyên môn thuộcUBND tỉnh, thành phố giúp UBND thực hiện chức năng quản lý hành
chính nhà nước các ngành hay lĩnh vực ở địa phương; đồng thời cơ quan này chịu sự chỉ
đạo của bộ về chuyên môn. Đó là chế độ song trùng phụ thuộc, trừ những ngành có tính
sự nghiệp thống nhất đọc trong cả nước, như hải quan, thuế, bưu điện, ngân hàng Nhà
nước, đường sắt ...
-
Thanh tra bộ có chức năng thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước
của bộ theo quy định của pháp luật về thanh tra.Cục thuộc bộ được tổ chức để thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; cục
không ban hành văn bản quy phạm pháp luật ... Cục được thành lập phòng và đơn vị trực
thuộc; cục có con dấu và tài khỏan riêng.
Tổng cục thuộc bộ được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên
ngành lớn, phức tạp không phân cấp cho địa phương, do Bộ trực tiếp phụ trách và theo hệ
thống dọc từ trung ương đến địa phương trong phạm vi toàn quốc; tổng cục không ban hành
văn bản quy phạm pháp luật. Tổng cục có cơ cấu tổ chức gồm: cơ quan tổng cục và cục ở
cấp tỉnh, chi cục ở cấp huyện (nếu có). Cơ quan tổng cục gồm văn phòng, ban và đơn vị trực
thuộc. Tổng cục có con dấu và tài khoản riêng.
Tổ chức sự nghiệp thuộc bộ được thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước
thuộc bộ hoặc để thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng cần thiết
do bộ trực tiếp thực hiện.
2.4.3. Ủy ban nhân dân các cấp
2.4.3.1. Vị trí và vai trò
Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân
dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,
luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Như
vậy, Ủy ban nhân dân có hai tư cách:
-
Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân : Ủy ban nhân dân có nghĩa vụ chấp hành
các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội
đồng nhân dân, chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân, chịu sự đôn đốc, kiểm tra của
thường trực Hội đồng nhân dân.
-
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương : Ủy ban nhân dân có trách nhiệm chấp hành
dựng, giao thông vận tải; thương mại, dịch vụ, du lịch; giáo dục, đào tạo; văn hóa, thông tin,
thể dục thể thao; y tế và xã hội; khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường; quốc phòng,
an ninh và trật tự, an tòan xã hội; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa
giới hành chính; Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh
vực : kinh tế; nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và tiểu thủ công nghiệp; xây
dựng, giao thông vận tải; giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa và thể dục thể thao; quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phươn; thực hiện chính sách dân tộc
và chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật.
2.4.3.3. Hình thức làm việc
Ủy ban nhân dân làm việc thông qua kỳ họp của Ủy ban nhân dân, thông qua hoạt
động của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên Ủy ban nhân dân. Những vấn đề quan
trọng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phải được thảo luận tập thể và quyết
định theo đa số như: lập chương trình làm việc, kế hoạch và ngân sách, các biện pháp thực
hiện nghị quyết của HĐND về kinh tế – xã hội, thông qua báo cáo của UBND trước HĐND,
đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn; phân vạch và điều chỉnh
địa giới đơn vị hành chính ở địa phương …
Chủ tịch Ủy ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân
dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, cùng với tập
thể Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước Hội đồng nhân dân
cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền
của UBND trừ những vấn đề phải giải quyết trên phiên họp của Ủy ban nhân dân; đồng thời
Chủ tịch Ủy ban nhân dân có những quyền hạn riêng của mình do pháp luật quy định; tổ
chức tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của
pháp luật; triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban nhân dân; phê chuẩn kết quả bầu
các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; điều động, đình chỉ công tác, miễn
nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn
việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của UBND cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm,
miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức nhà nước theo sự
phân cấp nhà nước quản lý; đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của cơ
mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương
và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp
và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc
lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở hoặc địa phương.Các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân
dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp
trên .
3.4.4.2. Nhiệm và quyền hạn
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện có những nhiệm
vụ, quyền hạn tương tự nhau, cụ thể là:
-
Trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định, chỉ thị về lĩnh lực quản lý được
giao.
-
Trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về
lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.
-
Trình Ủy ban nhân dân cùng cấp chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
về cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 16
-
Kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá
nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống
tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật hoặc phân công của Ủy ban nhân dân.
-
Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, thực hiện chế độ, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen
thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công
chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của cơ quan chuyên môn cấp huyện theo quy định
của pháp luật, theo sự phân công của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
-
Quản lý tài chính, tài sản của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quy định của pháp luật
và phân công của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
-
Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cùng cấp giao. Ngòai những nhiệm
vụ, quyền hạn chung nói trên, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
một nhiệm vụ, quyền hạn khác với nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn cấp
huyện do địa bàn và phạm vi quản lý của cấp tỉnh rộng lớn hơn so với cấp huyện.
2.4.4.3. Chế độ làm việc
Cơ quan chuyên môn là cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực hoạt động
theo chế độ thủ trưởng. Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là người
đứng đầu và chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp
chính nhà nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, đời sống nhà nước, đặc biệt
là giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự ổn định và
năng động của hệ thống các quan hệ xã hội hình thành trên cơ sở nền kinh tế thị trường tuỳ
thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Để quản lý tất
cả các quá trình xã hội trong điều kiện mới, cần tăng cường hiệu lực bộ máy nhà nước nói
chung và bộ máy hành chính nhà nước nói riêng. Gắn với việc tăng cường hiệu lực hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước, một trong những vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện
các phương pháp quản lý của những cơ quan đó. Phương pháp quản lý của các cơ quan hành
chính nhà nước, cũng chính là những phương pháp được áp dụng trong quản lý hành chính
nhà nước.
Phương pháp quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước là những phương thức mà
các cơ quan nhà nước đó sử dụng để tác động lên khách thể của quản lý (hành vi, hoạt động,
cách xử sự của đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích đã đề ra.
Các phương pháp quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước là phương pháp thực
hiện quyền lực nhà nước trong quản lý. Điều này thể hiện ở chỗ:
-
Các phương pháp đó được áp dụng trong hoạt động chấp hành và điều hành, tức là một
loại hoạt động có tính nhà nước chứ không phải là hoạt động có tính chất xã hội của các
tổ chức xã hội.
-
Trong các phương pháp đó thể hiện ý chí của Nhà nước;
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 18
chính nhà nước tới các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý mà còn là phương thức,
cách thức tổ chức, hoạt động trong nội bộ một cơ quan, công sở nhất định. Những phương
thức, cách thức này chưa biểu hiện sự tác động của cơ quan, công sở đó ra bên ngoài hệ
thống. Ví dụ: để bảo đảm chế độ trách nhiệm rõ ràng trong một cơ quan, người ta ban hành
văn bản phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cho mỗi bộ phận, mỗi công chức. Một
ví dụ khác: để ban hành một quyết định nhằm thiết lập tổ chức, trật tự trong nội bộ một công
sở, thủ trưởng công sở đó sử dụng phương pháp xã hội học cụ thể để tham khảo ý kiến cá
nhân, tổ chức có liên quan. Những hoạt động trên là những phương pháp quản lý nội bộ. ở
đây chưa nói lên sự tác động của các cơ quan hành chính nhà nước tới các cá nhân, tổ chức
thuộc đối tượng quản lý. Do chưa thể hiện mối liên hệ của các cơ quan hành chính nhà nước
với các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý nên nhiều nhà khoa học cho rằng những
phương pháp trên chưa phải là phương pháp quản lý.
Tóm lại, trong hoạt động chấp hành và điều hành, các cơ quan hành chính nhà nước sử
dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một bộ phận trong số những phương pháp đó được coi
là những phương pháp tổ chức nội bộ. Những phương pháp này có vai trò trợ giúp cho sự tác
động của các cơ quan hành chính nhà nước tới các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý.
Lựa chọn tối ưu những phương pháp quản lý trong điều kiện cụ thể, tình hình cụ thể là yếu
tố cực kỳ quan trọng để các cơ quan hành chính nhà nước giải quyết tốt những nhiệm vụ,
chức năng của mình, nâng cao tính tổ chức, kỷ luật trong hoạt động chấp hành và điều hành.
3.5.1.2. Hệ thống các phương pháp quản lý
Các phương pháp quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước rất đa dạng, được
phân loại dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau.
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 19
Môn học: Luận hành chính
Hai phương pháp chung nhất có tính đặc trưng tổng hợp của hoạt động chấp hành và
điều hành là phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế. Quan hệ tối ưu giữa
Phương pháp lãnh đạo chung thể hiện ở việc đưa những đường lối chung trong việc
phát triển ngành, lĩnh vực quản lý vào thực tiễn, vạch ra những nhiệm vụ có tính chất định
hướng cho những cá nhân, tổ chức thuộc khách thể. Phương pháp này thường được thực
hiện thông qua việc ban hành các quyết định, chính sách.
Phương pháp quản lý trực tiếp là sự tác động trực tiếp, thường xuyên lên các hành vi
của cá nhân hoạt động của tổ chức thuộc đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục
tiêu đã đề ra, nó còn được gọi là phương pháp quản lý tác nghiệp mang tính liên tục. Phương
Tiểu luận: Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 20
Môn học: Luận hành chính
pháp này thường được áp dụng ở các cơ quan hành chính cấp thấp, các tổ chức cơ sở, các xí
nghiệp, công ty, thông qua việc ban hành các quyết định cá biệt cụ thể hoặc hoạt động chỉ
đạo, tổ chức trực tiếp.
- Xuất phát từ mục đích được chỉ ra, những phương pháp quản lý của các cơ quan hành
chính nhà nước được chia thành: phương pháp lập chương trình mục tiêu, phương pháp phân
tích đánh giá những kết quả nhận được.
Trong một số ngành và lĩnh vực quản lý, phương pháp quản lý theo chương trình mục
tiêu đang được áp dụng. Triển vọng nó sẽ trở thành phương pháp chung. Thí dụ: quản lý
chương trình điện khí hoá, chương trình lương thực, thực phẩm v.v... Chương trình được
thực hiện do sự phối hợp của nhiều cơ quan, nhiều ngành, trong đó có cơ quan chủ trì do
Nhà nước cử ra.
Phương pháp kiểm tra nhằm bảo đảm tính ổn định của khách thể, để nó phát triển
đúng theo dự kiến ban đầu, theo định hướng đã định. Khác với phương pháp theo dõi, quan
sát kiểm tra còn bao hàm cả sự tác động, chỉnh lý, chấn chỉnh hoạt động của các cá nhân, tổ
chức thuộc đối tượng quản lý. Hoạt động kiểm tra như một thuộc tính của quản lý.
Phương pháp phân tích, đánh giá những kết quả nhận được cũng là phương pháp rất
quan trọng. Thông qua thực hiện phương pháp này, các cơ quan hành chính nhà nước biết