MỤC LỤC
TT
Nội dung
I
1
2
3
4
5
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
II
1
2
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
3
3.1
3.2
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
23
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
24
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
24
4
Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu.
III PHẦN KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
24
25
1 Kết luận
25
2 Kiến nghị
26
tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi
của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.
+ Chăm chỉ, tự tin, cẩn thận ham hiểu biết và học sinh có hứng thú học
toán.
Những năm gần đây đã có nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường
miệt mài với đề tài nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”
mang lại kết quả khả quan nhưng kết quả đó bao hàm với mọi đối tượng học
sinh. Dựa trên hoàn cảnh thực tế tại đơn vị tôi với tỉ lệ trên 75% là học sinh
đồng bào dân tộc thiểu số thì tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để học sinh
đồng bào dân tộc thiểu số lớp Một làm được các phép tính cộng, trừ đã khó việc
giải toán có lời văn thì càng khó hơn. Vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài “Một số
biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 dân
tộc thiểu số”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu:
+ Áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn.
+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung và dạy giải toán
có lời văn nói riêng.
2
- Nhiệm vụ: Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp học sinh:
+ Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn.
+ Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng
hoặc một phép tính trừ.
+ Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả năng
diễn đạt đúng.
3. Đối tượng nghiên cứu,
Biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình
lớp 1 ở Tiểu học.
3
tạo của người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện
đại vào quá trình dạy học”. Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24 đã ghi:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đổi
mới cách thực hiện phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi
mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới cách thực hiện
phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ
học trò - chủ nhân tương lai của đất nước. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy
học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo. Nó tạo ra sự
hiện đại hoá của quá trình này. Đổi mới phương pháp dạy học thực chất không
phải là sự thay thế các phương pháp dạy học cũ bằng một loạt các phương pháp
dạy học mới. Về mặt bản chất, đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách
tiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phương
pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm các phương pháp cũ và vận dụng linh
hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học. Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học chính là
làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở
tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách
thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình.
Mặt khác môn toán thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
theo đặc trưng và khả năng của môn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinh
những tri thức, kỹ năng toán học cơ bản cần thiết cho việc học tập hoặc bước
vào cuộc sống lao động. Đối với môn Toán lớp Một, môn học có vị trí nền tảng,
là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học. Môn Toán mở đường
cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học. Rồi mai đây, các em lớn lên,
b. Khó khăn
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học Ea Bông, kể từ khi về trường tới nay
tôi luôn được phân công dạy học sinh dân tộc thiểu số. Vì vậy, qua thời gian
giảng dạy tôi nhận thấy các em phát âm đa số là số là thiếu dấu, viết sai lỗi chính
tả. Đặc biệt học sinh lớp Một và hầu hết giáo viên đều phàn nàn khi dạy đến
phần giải toán có lời văn ở lớp Một. Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải,
thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu
tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu lời
giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo
quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm
sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các
em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên
phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này.
2.2. Những thành công và hạn chế
a. Những thành công
Trong những năm học qua, đã có một vài đồng nghiệp cũng trăn trở về
các biện pháp “giải toán có lời văn” và bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức các
cuộc thi và giao lưu giữa các lớp trong tổ khối nhằm phát hiện học sinh năng
khiếu môn Toán và đạt kết quả như sau.
Kết quả điều tra năm học 2013 – 2014
TT
1
Lớp
sĩ
số
1A
3
1B
1C
26
22
12
10
46,2%
38,5%
18
13
69,2%
49,9%
14
19
53,8%
73,1%
12
10
46,2%
lời giải
10 71.4% 12 85,7% 12 85,7% 10
71,4%
15 75%
17
85%
17
85%
15
75%
14 70%
16
80%
16
80%
14
70%
Qua cuộc khảo sát trong bài kiểm tra của học sinh cho thấy chất lượng
giải toán có lời văn được nâng lên rõ rệt. Lỗi của học sinh trong bài khảo sát Tỷ
lệ Giỏi 9,10 đạt 29/54 trình bày còn bẩn. Khá 7,8 đạt 39/54 em trình bày còn
bẩn, câu lời giải chưa chuẩn. Trung bình 5,6 đạt 45/54 em chỉ làm đúng phép
tính và đáp số, sai tên đơn vị, sai câu lời giải. Yếu dưới 5 đạt 9 em không biết
làm bài.
Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn, kết quả của bài toán đúng.
Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải toán cơ lời
văn” nói riêng. Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế.
b. Những hạn chế
Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học
thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối
tế mà chưa thực sự quan tâm tới việc học tập và giúp đỡ các em tháo gỡ kịp thời
những khúc mắc, khó khăn trong học tập khiến các em bỡ ngỡ khi làm bài, đặc
biệt là giải toán có lời văn dẫn đến sự chán nản, thiếu tự tin, từ đó tạo nên những
lỗ hổng kiến thức trong học tập của các em.
Bên cạnh những thành công mà đồng nghiệp tôi đã thực hiện được thì
không ít mặt hạn chế và tồn tại cần được khắc phục. Chính vì vậy tôi đã xây
dựng sáng kiến riêng cho bản thân mình nhằm sử dụng các biện pháp để nâng
cao chất lượng “giải toán có lời văn”.
2.3. Những mặt mạnh, mặt yếu
a. Mặt mạnh
Khi thực hiện đề tài này được sự ủng hộ và động viên của Lãnh đạo nhà
trường, cha mẹ học sinh và đa số giáo viên trong tổ khối I nhằm mang đến cho
cả giáo viên và học sinh kết quả cao nhất.
b. Mặt yếu
Thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế.
Tài liệu phục vụ cho đề tài chưa đáp ứng được yêu cầu đạt ra.
2.4. Nguyên nhân, các yếu tố tác động
+ Nguyên nhân từ phía HS:
Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học
thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối
với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một. Bởi vì học sinh
lớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của
các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay nói chung học sinh chưa biết
cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài toán có lời
văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời
hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay
cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn, diễn đạt vụng về,
7
luyện tập thực hành giải toán có lời văn mọi lúc mọi nơi. Kiên trì, bền bỉ là yếu
tố góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo
viên từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Để nâng cao chất lượng giảng dạy thì việc Tăng cường sử dụng phương
pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh càng không
thể thiếu trong mỗi bài dạy, tiết dạy học toán.
Thường xuyên đánh giá để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời đây là
yếu tố vô cùng quan trọng góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giải
toán có lời văn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Việc thường xuyên
8
đánh giá nhằm phát huy năng lực của từng học sinh, và kịp thời động viện khích
lệ tinh thần học tập của các em.
Đồng thời việc kết hợp giữa Gia đình – Nhà trường- Xã hội cũng là vấn đề
lớn để nâng cao chất lượng giảng dạy.
3. Giải pháp, biện pháp.
3.1. Mục tiêu của giải pháp:
Chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trong hai năm
qua đã có những chuyển biến đi lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đạt được mức
chất lượng tối thiểu theo quy định của trường, ngành Giáo dục đề ra. Để tiếp tục
nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trường Tiểu
học Ea Bông trong giai đoạn hiện nay nhằm đạt chất lượng tối thiểu, mục tiêu
chính của tôi như sau:
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp
- Nắm bắt nội dung chương trình Để dạy tốt môn Toán lớp Một nói chung,
“Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật
chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa. Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu
học, và đặc biệt là toán lớp Một thì ai mà chả dạy được. Đôi khi chính giáo viên
đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự như
Kết quả đạt được là:
1
+
2
=
3
Và yêu cầu tăng dần, học sinh có thể nhìn từ một tranh vẽ bài 4 trang 77
diễn đạt theo 2 cách .
Cách 1: Có 8 hộp thêm 1 hộp, tất cả là 9 hộp.
8
+
1
=
9
Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp, tất cả là 9 hộp.
1
+
8
Giáo viên hướng dẫn để các em biết được hướng đi của hình mũi tên thì học
sinh phải làm phép tính gì?
Đến bài 3 trang 85
Học sinh quan sát và cần hiểu được:
Lúc đầu trên cành có 10 quả. Sau đó rụng 2 quả . Còn lại trên cành 8 quả.
10
-
2
=
8
Ở đây giáo viên cần động viên các em diễn đạt trình bày miệng ghi đúng
phép tính. Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học
sinh. Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt trình bày động viên các
em viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh.
Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng
lời:
Bài 3 trang 87
B, Có : 10 quả bóng
Cho : 3 quả bóng
Còn :.... quả bóng?
10
toán. Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn.
Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số.
Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm
tắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác. Câu lời
giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều
kiện cho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình. Quy ước viết đơn vị
của phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải.
Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành
thạo giải ài toán có lời văn bằng phép tính cộng. Giáo viên chỉ hướng dẫn cách
làm tương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán.
Ở lớp Một, học sinh chỉ giải toán về thêm, bớt với một phép tính cộng
hoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một
cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể.
GV dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước
sau:
+ Đọc và tìm hiểu đề bài.
+Tìm đường lối giải bài toán.
+ Trình bày bài giải
+ Kiểm tra lại bài giải.
- Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng
đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên
cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng
như " thêm, và, tất cả, ... " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, ..." (có thể kết
hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần
gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài. Một số giáo viên còn gạch chân
12
quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm
tắt. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.
? cm
Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật:
Ví dụ 3 :
Có :
Thêm :
Có tất cả :.....con thỏ?
Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng.
Với cách viết thẳng theo cột như: 14 quyển
và 26 quả
12 quyển
33 quả
... quyển ?
... quả?
Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác
dụng gợi ý cho học sinh lựa chọn phép tính giải.
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học
sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán. Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình
không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được
các câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần
23, 24. Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến
cuối năm (tuần 33, 34, 35) học sinh đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu.
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái
phải tìm.
Chẳng hạn: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An
có tất cả mấy con gà?
- Bài toán cho biết gì? (Nhà An có 5 con gà)
Nhà An có tất cả số con gà là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 + 4 = 9 (con gà), giáo viên chỉ
vào 9 và hỏi: "9 con gà ở đây là số gà của nhà ai?" (là số gà nhà An có tất
cả). Từ câu trả lời của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải:
"Số gà nhà An có tất cả là" v.v...
Giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác
nhau, sau đó bàn bạc để chọn câu thích hợp nhất. Không nên bắt buộc học
sinh nhất nhất phải viết theo một kiểu.
Có thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư
duy. Thực tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải còn rất hạn
chế, kể cả học sinh khá giỏi. Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình
bày bài giải một cách chính xác, khoa học, sạch đẹp dù trong giấy nháp,
bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra. Cần trình bày bài giải một bài
toán có lời văn như sau:
Bài giải
Số gà nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Đáp số : 9 con gà
Nếu lời giải ghi: "Số gà nhà An là:" thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 9
(con)”. (Lời giải đã có sẵn danh từ "gà").
Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao từ "con gà" lại được đặt trong dấu
ngoặc đơn? “Con gà” là giá trị của đơn vị chung cho cả ba chữ số trong một
phép tính. Đúng ra thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) chứ 5 + 4 không thể
bằng 9 con gà được. Do đó, nếu viết:"5 + 4 = 9 con gà" là sai. Nói cách
15
khác, nếu vẫn muốn được kết quả là 9 con gà thì ta phải viết như sau mới
đúng: "5 con gà + 4 con gà = 9 con gà". Song cách viết phép tính với các
Tiết 82: Giải toán có lời văn. ( trang 117)
Giáo viên nêu bài toán .
Học sinh đọc bài toán
- Đây là bài toán gì?
Bài toán có lời văn.
- Thông tin cho biết là gì ?
Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà.
- Câu hỏi là gì ?
Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà ?
Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu
17
Tóm tắt
Có
: 5 con gà
Thêm
: 4 con gà
Có tất cả : ... con gà?
GV đưa ra cách giải bài toán mẫu:
Bài giải
Nhà An có tất cả số con gà là:
5 + 4 = 9 (con gà )
Đáp số: 9 con gà
Bài 1 trang 117: Học sinh đọc bài toán- phân tích đề bài- điền vào tóm tắt
và giải bài toán.
Tóm tắt:
An có : 4 quả bóng
Bình có : 3 quả bóng
=> Vậy qua bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viết câu lời
giải khác nhau, song giáo viên chốt lại cách viết lời giải như sau:
Thêm chữ Số + đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là như ở
tiết 82 đã làm.
Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ
dài vào trước chữ là
19
Ví dụ
Tóm tắt
Đoạn thẳng AB : 5cm
Đoạn thẳng BC : 3cm
Cả hai đoạn thẳng : ... cm?
Bài giải
Cả hai đoạn thẳng dài là:
5+ 3 = 8 ( cm)
Đáp số : 8 cm
Tiết 86
Tiết 104
Hầu hết đều có bài toán có lời văn vận dụng kiến thức toán được cung cấp
theo phân phối chương trình. Tuy nhiên, việc phân tích đề - tóm tắt - giải bài
toán phải luôn luôn được củng cố duy trì và nâng dần mức độ. Song cơ bản vẫn
là các mẫu lời giải cho các bài toán thêm là:
- Có tất cả là:
- Số ( đơn vị tính ) + có tất cả là:
- Vị trí ( trong, ngoài, trên, dưới, ...) + có tất cả là:
- ... đoạn thẳng....+ dài là:
Tiết 105: Giải toán có lời văn(tiếp theo)
Bài toán: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại
Tóm tắt
Đàn vịt có : 8 con
ở dưới ao : 5 con
Trên bờ : ... con?
Bài giải
Trên bờ có số con vịt là:
8 – 5 = 3 (con vịt)
Đáp số: 3 con vịt .
* Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3
của phần tóm tắt bài toán:
Bài giải
Bài giải
21
Số hình tam giác không tô màu là :
8 - 4 = 4( hình )
Đáp số: 4 hình tam giác
Số hình tròn không tô màu là:
15 - 4 = 11( hình )
Đáp số: 11 hình tròn.
* Bài 3 trang 151 Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng
Một sợi dây dài 13 cm, đã cắt đi 2 cm. Hỏi sợi dây còn lại dài bao nhiêu
xăng-ti-mét?
? cm
2cm
13cm
Bài giải
Câu lời giải là:
Có tất cả số
ô tô là :
B, Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim?
Câu lời giải là:
Trên cành còn lại số
con chim là :
VD khác:
Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ?
Câu lời giải là:
Hai lớp trồng được tất cả số cây là:
Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng-ti-mét?
Câu lời giải là:
Con sên bò được tất cả số
xăng-ti-mét là?
Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách?
Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là:
Trên đây là 2 mẫu toán đơn điển hình của phần giải toán có lời văn ở lớp
Một. Tôi đã đưa ra phương pháp dạy từ dễ đến khó để học sinh có thể giải toán
mà không gặp khó khăn ở bước viết câu lời giải. Tối thiểu học sinh có lực học
trung bình yếu cũng có thể chọn cho mình một cách viết đơn giản nhất bằng
cụm từ:
Có tất cả là:
Hoặc : Còn lại là:
Còn học sinh khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời
giải khác nhau nâng dần độ khó thì lời giải càng hay và sát với câu hỏi hơn.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Điều kiện để thực hiện các biện pháp trên có các công văn 4119 /BGD ĐT
–GDTH ngày 06 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Công văn số
1043/SGD ĐT-GDTH ngày 28 tháng 08 năm 2014 của Sở Giáo dục Đào tạo
Sau một năm triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời
văn. Chất lượng giảng dạy, giải toán có lời văn của trường được nâng lên rõ rệt,
ý thức giáo dục của giáo viên được nâng lên, tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ
môn học tăng, tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ môn học giảm. Đặc biệt học
sinh có ý thức cao hơn trong việc học Toán cũng như các môn học khác.
4. Kết quả đạt được
Kết quả kiểm tra mức độ học môn Toán của học sinh năm học 2014-2015
cho thấy tỉ lệ học sinh hoàn thành các bước giải bài toán có lời văn còn hạn chế.
Các lần Lớp sĩ
khảo sát
số
CK I
1C
20
HS viết
đúng câu
lời giải
6
30%
CKII
1C
20
14
24
Với một số biện pháp trên, khi áp dụng thực hiện tại trường Tiểu học Ea
Bông đã bước đầu đạt được kết quả như sau:
Các lần Lớp sĩ
HS viết
HS viết
HS viết
HS viết
khảo sát
số đúng câu đúng phép đúng đáp
đúng cả 3
lời giải
tính
số
bước trên
CK I
1C 21 9 42,8% 14 66,6% 13 61,9% 9 42,8%
CKII
1C
21
19
90,5%
20
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Muốn giúp học sinh có kĩ năng giải toán có lời văn cần:
Chú trọng việc dạy học giải toán có lời văn. Nắm vững quy trình giải toán
có lời văn. Chuẩn bị tốt nội dung, hệ thống câu hỏi khai thác. Quan tâm đến
từng đối tượng học sinh. Kịp thời uốn nắn, sửa sai cách làm bài, trình bày bài
làm của học sinh.
Tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy
tính tích cực của học sinh.
Giáo viên thể hiện tính kiên trì, bề bỉ, nhiệt tình hết lòng vì học sinh.
Trong quá trình giảng dạy thường xuyên nhắc nhở học sinh phải thực hiện đầy
đủ các bước khi tiến hành giải bài toán có lời văn.
25