Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH MTV cảng hải phòng - Pdf 34

MỤC LỤC
2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng.....................32
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.............................................................32
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Cảng Hải Phòng :..............................................35
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Cảng Hải Phòng...........................................................36
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng.....................32
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.............................................................32
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Cảng Hải Phòng :..............................................35
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Cảng Hải Phòng...........................................................36

1


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề phản ánh
rõ nhất về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua đó
chúng ta có thể biết được các vấn đề về tài sản, nguồn vốn, chi phí, giá thành, doanh
thu, lợi nhuận…và đặc biệt là các biện pháp quản lý, tổ chức sản xuất trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã phù hợp hay chưa, biết được mặt mạnh, mặt
yếu, ưu điểm, hạn chế, biết được những mặt còn tồn tại để từ đó phát huy những mặt
mạnh, khắc phục những mặt còn hạn chế để đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp làm ăn càng tốt và ngược lai. Chính vì vậy
mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phấn đấu để đạt được hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh cao nhất. Đây là một vấn đề mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng
quan tâm trong các giai đoạn sản xuất kinh doanh của mình.
Từ những vấn đề này trên cơ sở các kiến thức tích luỹ được và thực tiễn tìm
hiểu tại Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng tôi đã lựa chọn phân tích đề tài “ Biện
pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Cảng Hải

MTV Cảng Hải phòng, nêu lên những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại
trong hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Căn cứ vào phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty, luận văn đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.
6. Kết cấu của khóa luận
Khoá luận gồm 3 chương với nội dung cụ thể như sau :
 Chương 1 : Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cảng biển.
 Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
TNHH MTV Cảng Hải Phòng .
 Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty
Công ty TNH MTV Cảng Hải Phòng.

3


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CẢNG BIỂN
1.1. Hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu của các doanh nghiệp là kinh doanh
có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận; môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp, tính toán nhanh nhạy, biết nhìn
nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền
với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ; để hiểu được khái
niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần xét đến hiệu quả kinh tế của một
hiện tượng. Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm
trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền


5


dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo
quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả(1).
- Quan điểm nữa cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa
kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh
được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên chưa biểu hiện được tương
quan về lượng và chất giữa kết quả và chưa phản ánh được hết mức độ chặt chẽ của
mối liên hệ này.(3)
- Quan điểm khác nữa lại cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn
yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với ý
nghĩa là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong các doanh nghiệp là chỉ
tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh". Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu
của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người dân. Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư
tưởng định hướng đó.2)
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là
phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn...) để đạt
được mục tiêu xác định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá
trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác
định có thể tạo ra ở mức độ nào.
Hiệu quả kinh doanh theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh
những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Như vậy
cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa "kết quả" và "hiệu quả".
Bất kỳ hành động nào của con người nói chung và trong kinh doanh nói riêng
đều mong muốn đạt được những kết quả hữu ích cụ thể nào đó, kết quả đạt được trong
kinh doanh mà cụ thể là trong lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông mới chỉ đáp ứng
được phần nào tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, kết quả đó được tạo ra ở

doanh). Khái niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả và mục tiêu kinh doanh.
- Hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng trưởng của
các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ là phiến diện. Nó chỉ đúng trên mức độ biến
động theo thời gian.
- Hiệu quả kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả. Đây là
biểu hiện của bản chất chứ không phải khái niệm về hiệu quả kinh doanh.
- Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí
bỏ ra. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred – Kuhn và quan điểm này được
nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả kinh tế của các quá
trình sản xuất kinh doanh.

7


Từ các khái niệm về hiệu quả kinh doanh trên ta có thể đưa ra khái niệm tổng quát
như sau : Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự
phát triển kinh tế theo chiều sâu. Nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao
động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh
mà doanh nghiệp đã đề ra.
Nếu ký hiệu : H - Hiệu quả sản xuất kinh doanh
K – Kết quả đạt được
C – Hao phí nguồn lực gắn với kết quả đó
Thì ta có công thức sau để mô tả hiệu quả kinh doanh :
K
H = ───────
C
Như vậy hiệu quả kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự
tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế
của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Phân biệt hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh.

giai đoạn không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ, chu kỳ
kinh doanh tiếp theo. Điều đó đòi hỏi bản thân doanh nghiệp không được vì lợi ích
trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Trong thực tế kinh doanh, điều này dễ xảy ra khi
con người khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cả nguồn lao
động. Không thể coi tăng thu giảm chi là có hiệu quả khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu
cân nhắc các chi phí cải tạo môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, đầu tư cho giáo
dục, đào tạo nguồn nhân lực....
Hiệu quả kinh doanh chỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động
của các bộ phận mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quả chung ( về mặt định
hướng là tăng thu giảm chi ). Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí kinh
doanh và khai thác các nguồn lực sẵn có làm sao đạt được kết quả lớn nhất.
Để tiến hành bất kỳ hoạt động SXKD nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố
con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến
lược và kế hoạch SXKD của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có. Để thực hiện điều đó
bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó có công cụ hiệu quả
hoạt động SXKD. Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động SXKD không những
chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị

9


tìm ra các nhân tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện
tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả.
Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu hoạt động
SXKD quả đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế
nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với
vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động SXKD không
chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn
bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm

định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Để tiến hành được cần
xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện, mục tiêu để so sánh.
Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh :
+ Tiêu chuẩn so sánh là giá trị của một kỳ nào đó được chọn làm gốc cho mọi
lần so sánh. Gốc so sánh có thể là tài liệu năm trước, tài liệu kỳ kế hoạch, tài liệu định
mức.
+ Giá trị của chỉ tiêu ở một kỳ nào đó đem so sánh với giá trị của chỉ tiêu ở kỳ
được chọn là kỳ gốc được gọi là giá trị của chỉ tiêu kỳ nghiên cứu.
Điều kiện so sánh : Hai chỉ tiêu đem so sánh với nhau phải đảm bảo thống nhất cả
về thời gian và không gian.
+ Các chỉ tiêu phải cùng nội dung kinh tế.
+ Cùng phương pháp tính.
+ Cùng đơn vị đo lường.
+ Các chỉ tiêu đem so sánh với nhau phải được quy đổi về cùng một quy mô và
điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Mục tiêu so sánh :
+ Xác định mức độ biến động tuyệt đối và mức độ biến động tương đối cùng xu
hướng biến động của chỉ tiêu phân tích.
Kỹ thuật so sánh :
* So sánh bằng số tuyệt đối : Là kết quả của phép trừ giữa hai chỉ tiêu đem so sánh
với nhau
* So sánh bằng số tương đối : Là kết quả của phép chia giữa hai chỉ tiêu đem so sánh
với nhau .
11


* So sánh bằng số bình quân : Là kết quả của phép chia hoặc phép trừ giữa hai chỉ
tiêu bình quân đem so sánh với nhau.
Mức biến động tương đối = Giá trị của chỉ tiêu
số của chỉ tiêu A

DT (0)

K được gọi là hệ số điều chỉnh theo quy mô.
1.3.2. Phương pháp thay thế liên hoàn
Đây là phương pháp phân tích dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt và liên tục
các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu thay đổi. Nó
tiến hành đánh giá so sánh và phân tích từng nhân tố ảnh hưởng trong khi đó giả thiết
là các nhân tố khác cố định.
- Bước 1 : Xác định phương trình kinh tế biểu thị mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích
với các nhân tố cấu thành nên chỉ tiêu. Trong phương trình kinh tế đó, các nhân tố số
lượng phải được sắp xếp trước nhân tố chất lượng. Các nhân tố đứng kề nhau phải có
mối quan hệ với nhau theo quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi.
- Bước 2 : Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích
+ Khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đến đối tượng phân tích thì các
nhân tố còn lại lấy cố định.

12


+ Nếu nhân tố nào chưa được xác định mức độ ảnh hưởng thì lấy cố định ở kỳ gốc.
+ Nếu nhân tố nào đã được xác định mức độ ảnh hưởng thì lấy cố định ở kỳ nghiên
cứu.
- Bước 3 : Tìm nguyên nhân gây nên mức độ ảnh hưởng ở bước 2.
- Bước 4 : Đề xuất một số giải pháp thực hiện.
Khái quát phương pháp :
Giả sử chỉ tiêu A chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố X, Y và mối quan hệ đó được
biểu thị dưới dạng hàm số :
A =X+Y
- Kỳ gốc :


x 100%

Ao
Cộng ảnh hưởng của 2 nhân tố :
+ Về số tuyệt đối :

ΔA = ΔAx + ΔAy

+ Về số tương đối :

SA = Sax + SAy

1.3.3. Phương pháp chênh lệch (phương pháp loại trừ)

13


Đây là phương pháp phân tích dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến đối tượng phân tích. Nó là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế
liên hoàn. Chính vì vậy phương pháp chênh lệch cũng tuân thủ đầy đủ nội dung và
nguyên tắc của phương pháp thay thế liên hoàn.
Phương pháp số chênh lệch khác phương pháp thay thế liên hoàn ở chỗ khi xác
định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đến đối tượng phân tích thì xác định độ chênh
lệch của nhân tố đó và nhân độ chênh lệch đó với các nhân tố chung. Nhân tố chung là
nhân tố lấy cố định ở một kỳ nào đó.
1.3.4. Phương pháp hồi quy
Hồi quy là phương pháp toán học, được vận dụng trong phân tích kinh doanh để
biểu hiện và đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế. Phương pháp
hồi quy là phương pháp xác định độ biến thiên của tiêu thức kết quả theo sự biến thiên

kinh tế nội bộ.

1.4. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khai thác cảng biển
1.4.1. Khái quát chung về hoạt động kinh doanh khai thác cảng biển
Cảng biển là nơi ra vào, neo đậu của tàu biển,là nơi phục vụ tàu bè và hàng hoá,là
đầu mối giao thông quan trọng trong hệ thống vận tải. Là đầu mối giao thông liên hợp
mà ở đó có nhiều phương tiện vận tải khác nhau như tàu biển,xe lửa,ô tô…ở khu vực
cảng biển xuất hiện việc xếp dỡ hàng hoá, sự lên xuống của tàu,của hành khách từ
phương tiện vận tải biển và các phương tiện vận tải khác,có nghĩa là xuất hiện sự thay
đổi phương tiện vận tải trong vận chuyển hàng hoá và hành khách.
* Căn cứ theo quan điểm kinh tế
- Cảng tổng hợp (cảng thông dụng): Là cảng có các trang thiết bị xếp dỡ phù hợp
với vật liệu xếp dỡ tất cả các loại hàng hoá.
- Cảng chuyên dụng : Là cảng có các trang thiết bị xếp dỡ phù hợp với việc xếp dỡ
1 loại hàng hay một nhóm hàng nhất định.
*Căn cứ vào điều kiện tự nhiên
- Cảng tự nhiên
- Cảng nhân tạo
*Căn cứ vào điều kiện hành hải
- Cảng có chế độ thuỷ triều
- Cảng có chế độ nhật triều
15


- Cảng bị đóng băng
- Cảng không bị đóng băng
* Theo kỹ thuật xây dựng cảng
Cảng đóng,cảng mở,cảng có cầu dẫn,cảng không có cầu dẫn
* Theo phạm vi quản lý cảng
- Cảng quốc gia

Quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản, tiền vốn, đội ngũ lao động. Thực hiện tốt
các chỉ tiêu giao nộp ngân sách nhà nước, bảo hiểm xã hội...
Thực hiện đúng chính sách lao động và chế độ tiền lương, chăm lo tốt đời sống vật
chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ công nhân viên.
- Mang tính phục vụ: đây cũng là đặc điểm lớn nhất của cảng,nó vận chuyển
nguyên vật liệu đến nơi sản xuất,vận chuyển sản phẩm đến nơi tiêu thụ.
- Hoạt động sản xuất của cảng có tính thay đổi lớn của những điều kiện công
tác,biểu hiện bằng sự thay đổi vị trí làm việc của những người lao động,thay đổi đối
tượng phục vụ,thay đổi thiết bị.
- Hoạt động sản xuất của cảng là quá trình sản xuất không nhịp nhàng,hàng hoá
đưa đến cảng không đồng đều,dây chuyền sản xuất phải qua nhiều khâu do đối tượng
phục vụ là hàng hoá đến cảng phụ thuộc vào tính thời vụ,mật độ phương tiện đến cảng
không đều đặn.
- Công việc sản xuất của cảng mang tính thời vụ
- Sản xuất của cảng mang tính hợp tác cao giữa các đơn vị
- Đầu tư sản xuất lớn
- Hoạt động sản xuất của cảng biển chịu ảnh hưởng của thời tiết,khí hậu và thuỷ
văn.
1.4.2. Các chi tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác và có
cơ sở khoa học, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ tiêu phù hợp gồm:
- Chỉ tiêu tổng hợp
- Chỉ tiêu chi tiết
Từ đó vận dụng các phương pháp thích hợp để đánh giá theo hệ thống.
17


+ Các chỉ tiêu tổng hợp:
1.4.2.1. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tuyệt đối:
Theo chỉ tiêu này, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được biểu hiện chủ

nhược điểm ở trên mà còn cho phép phản ánh hiệu quả một cách toàn diện. Với cách
phản ánh và cách đánh giá xác định hiệu quả ở dạng phân số hình thành nên một hệ

18


thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả từ mọi góc độ khác nhau từ tổng quát tới chi tiết; tuy
nhiên, sử dụng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ở dạng phân số có nhược điểm là phức tạp và
đòi hỏi phải có một quan điểm hợp lý trong việc sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả trong
quản lý kinh tế.
Các chỉ tiêu chi tiết:
Việc sử dụng các chi tiêu chi tiết sẽ khắc phục những nhược điểm của chi tiêu
tổng hợp, các chỉ tiêu này tạo điều kiện nghiên cứu toàn diện, phân tích sự ảnh hưởng
tiêu cực hay tích cực của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ
thống chỉ tiêu này được xét dưới các góc độ khác nhau dưới đây:
Nhóm 1: Một số chỉ tiêu liên quan đến tỷ suất lợi nhuận:
Lợi nhuận tuyệt đối có thể không phản ánh đúng mức độ hiệu quả của sản xuất
kinh doanh vì chỉ tiêu này không chỉ chịu sự tác động của bản thân chất lượng công
tác của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng của qui mô sản xuất của doanh nghiệp.
Vì vậy, để đánh giá đúng đắn kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải sử dụng
chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận.
+ Tỷ suất lợi nhuận trên Tổng doanh thu được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên

=

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần

doanh thu thuần


Lợi nhuận sau thuế
Tổng giá thành

=

tổng giá thành
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng chi phí tổng giá thành thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận giá thành phản ánh hiệu quả kinh tế tính theo lợi nhuận và chi
phí sản xuất.
Nhóm 2: Năng lực sản xuất của các yếu tố sản xuất cơ bản:
+ Sức sản xuất của lao động được tính bằng công thức:
Sức sản xuất của

Doanh thu bán hàng
Tổng số lao động bình quân

=

lao động

Chỉ tiêu này cho biết: Cứ 1 lao động thì tạo ra bao nhiêu doanh thu bán hàng
cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng lao
động tốt và ngược lại.
+ Sức sản xuất của vốn cố định:
Sức sản xuất của =

Doanh thu thuần
Vốn cố định bình quân

=

nguyên vật liệu
Chỉ tiêu này cho biết, cứ 1 đồng chi phí nguyên vật liệu doanh nghiệp thì tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu, chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
tốt, và ngược lại, chỉ tiêu này thấp thì sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp chứng tỏ việc sử
dụng nguyên vật liệu không hợp lý.
Nhóm 3: Suất hao phí các yếu tố cơ bản:
Các chỉ tiêu này được tính bằng cách nghịch đảo của năng lực sản xuất của các
yếu tố cơ bản.
+ Suất hao phí tổng số lao động bình quân so với doanh thu:
Suất hao phí của lao động so

Lao động bình quân
Doanh thu

=

với doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết, để thu được 1đ doanh thu thì hao phí bao nhiêu lao động,
chỉ tiêu này càng thấp càng tốt.
Nhóm 4: Suất tăng trưởng các yếu tố cơ bản tăng thêm:
Suất tăng trưởng các yếu tố

=

cơ bản tăng thêm

Phần tăng thêm của doanh thu
Phần tăng thêm của các yếu tố cơ bản

Nhóm 7: Phân tích tình hình sử dụng tổng hợp các nhân tố sản xuất:
Theo nhóm này, ta sẽ phân tích tình hình sử dụng của các yếu tố sản xuất cơ bản
đó là: Lao động, nguyên vật liệu, vốn và đánh giá hiệu quả sử dụng của các yếu tố đó
có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp.
Nhóm 8: Phân tích, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp:
Phân tích tình hình tài chính cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại
các năm từ 2008 - 2012 và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp
đạt được trong từng năm của giai đoạn này, từ đó giúp doanh nghiệp đánh giá chính
xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lợi và triển vọng của doanh nghiệp.
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính, trước hết cần tiến hành so sánh tổng
tài sản của doanh nghiệp ở bảng cân đối kế toán để thấy qui mô và mức tăng, giảm,
mặt khác ta so sánh mức tăng, giảm của vốn chủ sở hữu để thấy được các tài sản của
doanh nghiệp tăng, giảm từ đâu ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động tài chính.
Ta xác định các chỉ tiêu tài chính cơ bản từ đó so sánh cuối kì với đầu kì hoặc
năm sau với năm trước để thấy được tình hình tăng, giảm của mỗi chỉ tiêu và ý nghĩa
của mỗi chỉ tiêu tác động tới tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu tài chính bao gồm:
+ Tỷ suất tự tài trợ:
Tỷ suất tự tài trợ

Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn

=

Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì vốn chủ sở
hữu chiếm bao nhiêu.
+ Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh


Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản

=

với tài sản
Đây là một chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của 1 đồng vốn
đầu tư; tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp và phạm vi so sánh để lựa
chọn lợi nhuận trước thuế hay sau thuế để so sánh với tổng tài sản.
+ Hệ số đầu tư tài sản dài hạn:
Hệ số đầu tư tài sản dài hạn

=

Vốn chủ sở hữu + nợ dài hạn
Tài sản dài hạn

Hệ số này cho biết tài sản dài hạn của doanh nghiệp được đầu tư bằng vốn chủ
sở hữu và vay dài hạn là bao nhiêu.
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh khai thác cảng biển
a, Chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp xếp dỡ
Chỉ tiêu dùng để phân tích sản lượng của doanh nghiệp xếp dỡ bao gồm:tổng
khối lượng hàng hoá thông qua,tổng khối lượng hàng hoá xếp dỡ,hệ số xếp
dỡ.Trong phạm vi đề tài này ta sẽ đi phân tích tổng sản lượng hàng hoá thông qua
cảng từ 5 năm trở lại đây.
Mục đích
- Đánh giá chung tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp

23


24


- Xác định các nhân tố ảnh hưởng,qua đó phân tích chi tiết từng nhân tố,xác
định các nguyên nhân,nguyên nhân cơ bản gây biến động nhân tố để xác định rõ
những bất hợp lý,lãng phí trong quá trình tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh
của cảng trong việc tiết kiệm chi phí,hạ giá thành sản phẩm.
- Đề xuất biện pháp nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả tiềm năng của cảng.
CT tính giá thành của DNXD :
S=

∑C
∑Q

S : Giá thành đợn vị

∑ C : Tổng chi phí ( giá thành sản lượng)
∑Q

: Tổng sản lượng xếp dỡ

c, Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng các khoản thu với tổng các khoản
chi.Khi hiệu số này mang dấu dương thì DN có lãi,mang dấu âm thì DN bị lỗ.
LN =

∑ D - ∑C

Đối với DNXD,lợi nhuận do hoạt động sản xuất kinh doanh chính là hoạt động
xếp dỡ và bảo quản hàng hoá,được xác định:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status