Bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học các lực cơ học vật lí 10 THPT - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng sau đại
học, Ban chủ nhiệm, Tổ phương pháp và các thầy cô khoa Vật lí trường Dại
học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy kiến thức và tạo điều kiện thuận
lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và Tổ vật lí trường THPT
Việt Trì, trường THPT Công ngiệp Việt Trì, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
đã tạo điều kiện cho tác giả làm thực nghiệm sư phạm.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Tạ Tri
Phương người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những
người đã động viên, giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập và làm luận văn.
Việt Trì, tháng 11 năm 2015
Tác giả

Bùi Thị Hồng Liên


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công
trình khoa học nào khác.

Việt Trì, tháng 11 năm 2015
Tác giả

Bùi Thị Hồng Liên


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT


Dạy học sáng tạo

6

DHVL

Dạy học vật lí

7

ĐC

Đối chứng

8

GD – ĐT

Giáo dục – Đào tạo

9

GQVĐ

Giải quyết vấn đề

10

GV


Phương pháp thực nghiệm

16

SGK

Sách giáo khoa

17

TDST

Tư duy sáng tạo

18

THCS

Trung học cơ sở

19

THPT

Trung học phổ thông

20

TN

thái độ chuyển sang thái độ - năng lực – kỹ năng – kiến thức; đặc biệt nhấn
mạnh đến việc hình thành năng lực sáng tạo cho học sinh.
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
với cộng đồng quốc tế. Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi
mới nền giáo dục là trọng tâm của sự phát triển. Nhân tố quyết định thắng lợi
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người. Công
cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người lao động
năng động, sáng tạo làm chủ đất nước, tạo nguồn nhân lực cho một xã hội
phát triển.
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã xác định: “Phải
khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để
bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề”.
Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14/6/2005, điều 28.2 đã ghi:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.


8

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tối đa sự sáng tạo và năng
lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thí nghiệm, ngoại khóa,
làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay…Chính vì thế trong
những năm gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo khuyến khích giáo viên sử dụng
các phương pháp dạy học tích cực nhằm hoạt động hóa người học.
Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục là rèn luyện tư duy cho học sinh ở các bộ môn, trong đó có môn vật
lí. Vật lí là môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm, vì thế bên cạnh việc nắm

thức cần thiết cho cuộc sống mà còn phát triển tư duy, rèn luyện năng lực tự
giải quyết vấn đề. Dưới góc độ lí luận dạy học, lí luận bộ môn, những năm
gần đây, nghiên cứu rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học được đề cập đến
và vận dụng lí thuyết này vào một số lĩnh vực dạy học cụ thể, đã được công
bố rải rác trên các tạp chí khoa học qua các công trình nghiên cứu.
Từ những lí do trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy
học vật lí ở các trường THPT, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài: Bồi
dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học “Các lực cơ học” Vật lí 10 THPT.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu, tổ chức quá trình dạy học một số nội dung kiến thức “Các
lực cơ học” trên cơ sở vân dụng các quan điểm phát triển năng lực nhằm bồi
dưỡng và rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Lí thuyết về dạy học phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học vật lí
ở THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học đề tài “Các lực cơ học” - Vật lí 10 THPT.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC


10

Nếu vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học
“ Các lực cơ học” sẽ cho phép bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh.
5. NHIỆM VỤ NGHÊN CỨU CỤ THỂ
- Nghiên cứu lí thuyết dạy học phát triển năng lực.
- Phân tích một số phương pháp dạy học hiện đại dưới góc độ bồi dưỡng năng
lực sáng tạo.
- Phân tích nội dung, cấu trúc logic, mục tiêu dạy học “các lực cơ học”.

3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực
sáng tạo trong dạy học Vật lí THPT
Chương 2: Tổ chức quá trình dạy học về kiến thức “Các lực cơ học”
nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo
Chương 3:Thực nghiệm sư phạm


12

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO TRONG DẠY
HỌC VẬT LÝ

Chúng ta đang ở những năm đầu của thế kỷ 21, thế giới đang xảy ra sự
bùng nổ về tri thức khoa học công nghệ. Sáng tạo là một trong những phẩm
chất tư duy được nhấn mạnh trong mục tiêu giáo dục nhằm chuẩn bị nguồn
lực con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Báo cáo của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại Hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
5 năm 2006 - 2010 đã nêu rõ: Tạo được chuyển biến cơ bản về phát triển giáo
dục và đào tạo... Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học.
Đổi mới chương trình, nội dung, PP dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ
GV và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo
và độc lập suy nghĩ của HS [3].
Vì vậy nhiệm vụ của mỗi nhà giáo dục là tìm ra và đổi mới PPDH phù
hợp, hiện đại để bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh nhằm phát hiện và
bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Vậy năng lực sáng tạo là gì? Tính sáng tạo được biểu hiện như thế nào
trong quá trình dạy học?

giáo dục, những yêu cầu về bồi dưỡng phát triển năng lực cho học sinh cần
đặt đúng chỗ trong mục đích dạy học. Năng lực của mỗi người một phần dựa
trên cơ sở tư chất. Nhưng năng lực hình thành và phát triển chủ yếu là dưới
tác dụng của sự rèn luyện thông qua dạy học và giáo dục.
Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành
động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng
hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động. Chính vì vậy trong lĩnh vực
sư phạm nghề, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm
và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình


14

huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ
sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành
động.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và
cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và
các thành phần năng lực cũng khác nhau.
Cấu trúc năng lực hành động gồm:
+) Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn
cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập có PP và đảm bảo chính xác về
mặt chuyên môn ( khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu tượng;
khả năng nhận biết các mối quan hệ thống nhất trong quá trình).
+) Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch
định hướng mục đích trong công việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề đặt
ra.Trung tâm của năng lực PP là những PP nhận thức, xử lý, đánh giá, truyền
thụ và giới thiệu.
+) Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống
xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ

Theo định nghĩa này thì kết quả sáng tạo phải có đồng thời tính mới và
tính lợi ích, nếu chỉ có tính mới hoặc chỉ có tính lợi ích thì không được coi là
sáng tạo.
Mặc dù có nhiều ý kiến khác về bản chất nguồn gốc của trí sáng tạo
nhưng vì nó rất cần cho cuộc sống nên nhà tâm lý học đã tìm cách đo lường,
đánh giá năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân. Người ta đưa ra một tình huống
với một số điều kiện, xuất phát từ yêu cầu đề xuất càng nhiều giải pháp càng
tốt, trong một thời gian càng ngắn càng hay. Việc đánh giá được căn cứ vào
số lượng tính mới mẻ, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất. Những trắc
nghiệm theo hướng như vậy, cùng với nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác đã
cho biết:
+ Sáng tạo là một tiềm năng vốn có trong mỗi người, khi gặp dịp thì bộc lộ.


18

+ Mỗi người thường chỉ quen sáng tạo trong trong một vài lĩnh vực nào đó
(toán, vật lý, văn, mỹ thuật...) và có thể luyện tập để phát triển đầu óc sáng tạo
trong lĩnh vực đó.
Như vậy, sáng tạo cần cho bất cứ lĩnh vực nào của hoạt động xã hội loài
người và cho mọi người. Sáng tạo và luôn mong muốn sáng tạo là nhu cầu
của con người. Sáng tạo là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống
của con người, tạo ra sự phát triển toàn diện của xã hội, tạo ra sự thay đổi từ
lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Cũng chính vì lẽ đó, tài liệu khoa học quốc
tế cho biết “Tương lai của cả thế giới góp phần lớn tùy thuộc vào chất lượng
tư tưởng, và cả ý tưởng sáng tạo do nhân loại khám phá và đề nghị trong tất
cả với mọi lĩnh vực trong cuộc sống”. Do đó, vấn đề “ Bồi dưỡng năng lực
sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học vật lý” giúp cho học sinh hướng tới
mục tiêu cao hơn là đào tạo những người có khả năng sáng tạo ra những công
trình có tính mới và tính ích lợi ở mức nhân loại.

về quan hệ với cộng đồng, đến sự giàu có, hạnh phúc của một gia đình đến
hưng thịnh, hùng cường của một quốc gia. Năng lực tư duy là tiêu chuẩn đánh
giá đối với người lao động ở thế kỉ trí tuệ này.
Tư duy có phê phán không những chỉ giúp học tập tốt ở trường học
mà còn giúp trở thành người công dân tốt trong việc ra những quyết định
thông minh, có ý thức, suy nghĩ sâu sắc, để tìm ra những giải pháp sáng tạo,
thích hợp tối ưu cho mọi vấn đề xã hội yêu cầu, trở thành con người tích cực,
tiến bộ, văn minh, tỉnh táo tìm ra được những giải pháp sáng tạo trong đấu
tranh, lao động, vì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Chính vì tầm quan trọng của tư duy như vậy mà hiện nay đã có nhiều đề
tài nghiên cứu, nhiều quyển sách viết về “cách dạy các kỹ năng tư duy”, “tư
duy sáng tạo ”…. phục vụ cho việc dạy và học cách tư duy trong nhiều
trường học, ngoài xã hội trên thế giới.


20

Quy luật hình thành và phát triển của tư duy sáng tạo (TDST):
- Khi hoàn cảnh có vấn đề (có tình huống vấn đề) thì TDST mới phát triển.
- TDST hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn rồi trở lại làm phong phú
thực tiễn.
- TDST phát triển từ tư duy độc lập, tư duy phê phán.
- Chủ thể của TDST cần được cung cấp đầy đủ tư liệu, đó là tri thức, thông
tin, kinh nghiệm, các phương pháp, các sự kiện trong tự nhiên, xã hội.
- Bộ não cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, và được hoạt động
trong môi trường thuận lợi.
- TDST hình thành và phát triển dần dần theo quy luật từ tiệm tiến đến nhảy
vọt.
1.1.2.1.2. Năng lực quan sát và sáng tạo
Quan sát là hình thức phát triển cao độ tri giác có chủ định, có ý

vật khi ta tri giác mà nó thường xuất hiện với những nét cơ bản.
Dù là tưởng tượng mang tính viễn tưởng nhất (như tưởng tượng ra trời phật,
ma quỷ, con người của hành tinh khác…) nhưng chính tưởng tượng là sự kết
hợp độc đáo của các yếu tố nằm trong các sự vật, hiện tượng có thật. Vì vậy,
để cho năng lực tưởng tượng phong phú và phát triển hợp lý cần gắn với hoạt
động thực tiễn. Phác thảo là tưởng tượng nguyên thuỷ của nhà sáng tạo, cần
được bổ sung sửa chữa nhiều lần để sản phẩm của tưởng tượng được
hoàn chỉnh, chất lượng cao.
Con người tưởng tượng không chỉ trên cơ sở các hình tượng đã tri
giác trực tiếp, mà còn dựa trên các hình tượng do ngôn ngữ cung cấp vì ngôn
ngữ là phương tiện để tưởng tượng, cũng là phương tiện để tư duy.
* Ý nghĩa của tưởng tượng trong cuộc sống sáng tạo của con
người. Tưởng tượng cần thiết cho hoạt động của con người giúp ta nhìn
thấy trước sản phẩm hoạt động trong nhiều trường hợp là một hoạt động
mang tính sáng tạo. Người kiến trúc sư, nhà hội hoạ, nhà khoa học, nhà thơ,


22

nhà văn, nhà soạn nhạc … nhờ trí tưởng tượng phong phú mà có được những
sản phẩm sáng tạo lừng danh.
Trí tưởng là món quà vĩ đại của thiên nhiên, nó đã có sẵn trong
con người. Nó làm cho thế giới tinh thần của con người càng thêm phong phú,
nó đem lại cho con người niềm vui và kiến thức. Trí tưởng tượng giúp con
người “nhìn thấy” được những cái tưởng như không thể thấy, tiếp cận được
những cái tưởng như không thể tiếp cận. Trí tưởng tượng cung cấp cho con
người những gì mà thực tại chưa kịp hoặc không thể cho con người.
Ước mơ: là loại tưởng tượng tích cực. Nó có thể thúc đẩy con
người vươn lên.
Lý tưởng: là sự tưởng tượng về mục tiêu cao đẹp, định hướng cho

1.1.2.2.Tìm hiểu những đặc điểm về năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập

Đối với học sinh phổ thông tất cả những gì mà họ “ tự nghĩ ra ” khi GV
chưa dạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được, nhờ trao đổi với bạn bè đều coi
như có mang tính sáng tạo. Sáng tạo là bước nhảy vọt trong sự phát triển năng
lực nhận thức của HS. Không có con đường logic để dẫn đến sáng tạo, bản
thân HS phải tự tìm thấy kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình. Cách tốt
nhất để hình thành và bồi dưỡng năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo
của HS là đặt họ vào vị trí chủ thể của hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của
bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển NLST, hình thành quan điểm đạo
đức. Để bồi dưỡng NLST của HS trong học tập nói chung, trong học tập VL
nói riêng, ta cần phải xét tới một vài đặc điểm tâm lí của quá trình sáng tạo.
Một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt động sáng tạo là vấn đề
tính mới mẻ. Trong thực tế, nếu chỉ coi là có tính sáng tạo những hoạt động
nào mà kết quả của nó là những sản phẩm mới một cách khách quan thì coi
như không tổ chức được loại hoạt động đó trong quá trình dạy học. Tuy


24

nhiên, theo quan điểm tâm lí học, sản phẩm mới mẻ có tính chất chủ quan
đống vai trò quan trọng đối với hoạt động dạy học sáng tạo.
Tính chủ quan của cái mới được xem như dấu hiệu đặc trưng của quá
trình sáng tạo, cho ta khả năng định hướng hoạt động sáng tạo của HS. Cái
mới và cái chưa biết của HS có thể và cần phải là cái đã biết đối với GV, cũng
có thể là cái mà GV chưa biết. Tuy nhiên đó là điều kiện cần thiết nhưng chưa
đầy đủ. Đặc trưng tâm lí quan trọng của sáng tạo có bản chất hai mặt: chủ
quan và khách quan.Tính chủ quan xét theo quan điểm của người nhận thức
mà trong đầu đang diễn ra quá trình sáng tạo, thể hiện là: các sản phẩm sáng
tạo còn mang tính chủ quan. Tính khách quan xét theo quan điểm của người

hiện mối liên hệ liên môn, liên lĩnh vực (chủ đề tích hợp) để HS có thể phát
triển các ý tưởng một cách toàn diện”.
DH theo chủ đề hướng tới mục tiêu giáo dục tích cực và quan trọng cho sự
phát triển lâu dài của cá nhân như:
- Sự phát triển hiểu biết khoa học
- Hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ năng giải quyết vấn đề
theo tiến trình khoa học ( phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, thực hiện giải
pháp và trình bày kết quả)
- Rèn luyện các kĩ năng tư duy bậc cao như phân tích - tổng hợp, đánh giá,
sáng tạo
- Rèn luyện các kĩ năng sống và làm việc như: ngôn ngữ, giao tiếp, hợp tác...
Dạy học chủ đề có các đặc điểm nổi bật sau:
-Tính tích hợp liên môn, liên lĩnh vực của người học
- Tính thực tiễn của người học
- Tính hợp tác giữa người học và giáo viên
- Phát huy tốt tính tích cực, tự lực, sáng tạo của người học
Trong dạy học chủ đề, HS được thể hiện rõ vai trò tự chủ, sáng tạo của
mình. HS đóng vai trò là những “chuyên gia” thuộc các lĩnh vực khác nhau
trong thực tiễn, hoàn thành vai trò của mình dựa trên kiến thức, kĩ năng nhất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status